Home > Văn chương > Tạp bút > ĐỌC BẰNG TAI

ĐỌC BẰNG TAI

Sunday 4 January 2009

Lời giới thiệu : Mạc Ngôn (tên thật Quản Mạc Nghiệp, sinh 1955, người tỉnh Sơn Tây) là nhà văn Trung Quốc đương đại nổi tiếng. Tiểu thuyết “Cao Lương Đỏ” của ông được đạo diễn Trương Nghệ Mưu dựng thành phim đã giành giải Cành Cọ Vàng tại liên hoan phim Canne 1994. Tiểu thuyết “Vú to mông nở” (đã dịch ra tiếng Việt dưới tên “Báu vật của đời”) xuất bản 1995, khái quát một thời kỳ lịch sử của TQ bằng ngòi bút hư cấu mạnh dạn độc đáo, được tặng giải thưởng cao nhất về tiểu thuyết năm đó. Tiểu thuyết “Đàn Hương Hình” xuất bản cách đây ít lâu cũng được dư luận đánh giá cao. “Đọc bằng tai” là một bài viết của ông, xin giới thiệu cùng bạn đọc VN.

Cách đây vài năm tôi có dự một cuộc toạ đàm ở Đài Bắc, bàn về đề tài “Kinh nghiệm đọc sách của trẻ em”. Trừ tôi ra, các nhà văn dự họp đều là những bậc thiên tài ngay từ thủa trẻ. Có người mới 5 tuổi đã đọc Tam Quốc Diễn Nghĩa, Tây Du Ký; có người 6 tuổi đã bắt đầu đọc Hồng Lâu Mộng. Điều đó thật làm tôi vừa ngạc nhiên vừa xấu hổ, so với họ, tôi đúng là kẻ vô học. Đến lượt mình phát biểu, tôi nói : Khi các vị đọc hết sách này đến sách khác thì tôi cũng đọc; nhưng các vị đọc bằng mắt còn tôi thì đọc bằng tai.

Dĩ nhiên, tôi cũng phải thừa nhận là hồi bé tôi cũng có dùng mắt đọc được mấy cuốn sách; nhưng hồi ấy tôi ở nông thôn, kiếm được rất ít sách, tôi phải bán sức lao động của mình để đổi lấy mấy cuốn sách. Ngốn xong mấy cuốn ấy, tôi sai lầm nghĩ rằng mình đã đọc tất cả các sách có trên thế giới. Về sau khi có dịp vào một thư viện, tôi mới biết rằng ngày xưa mình có những ý nghĩ thật là nực cười.

Năm 10 tuổi, tôi bỏ học về nhà làm ruộng. Hồi ấy, chuyện tôi quan tâm nhất là mấy con bò con dê mình chăn có được ăn no cỏ hay không, và mấy chú gà nhép tôi nuôi giấu bố mẹ có bị lũ kiến chén mất hay không. Ngày ấy, có nằm mơ tôi cũng không nghĩ đến việc sau đó vài chục năm tôi lại trở thành người làm nghề viết tiểu thuyết. Trong ấn tượng của tôi thủa thơ ấu, nhà văn là những người cực kì cao thượng, vĩ đại như thần thánh. Đương nhiên, sau khi trở thành nhà văn, tôi hiểu rằng nhà văn chẳng cao thượng mà cũng chẳng vĩ đại, có khi lại còn ti tiện và tầm thường hơn cả người bình thường.

Tôi trải qua thời thanh thiếu niên khá lâu dài ở nông thôn. Như trên đã nói, thời gian này, sau khi đọc hết mấy cuốn sách của các xóm xung quanh, tôi không đọc gì nữa. Về cơ bản, các hiểu biết tôi có được đều là nghe bằng tai. Như nhiều nhà văn có người ông người bà giỏi kể chuyện, như nhiều nhà văn đều từ các chuyện kể của ông bà họ mà hấp thu được linh cảm văn học, tôi cũng có bà nội rất giỏi kể chuyện và tôi cũng hút được chất dinh dưỡng văn học từ các câu chuyện bà tôi kể. Nhưng điều tôi càng tự hào là ngoài bà nội giỏi kể chuyện ra, tôi còn có ông nội giỏi kể chuyện, và nhất là người anh của ông nội tôi lại càng có tài kể chuyện hơn. Hơn nữa, những người nhiều tuổi trong xóm tôi ai ai cũng có một cái bụng đầy những chuyện là chuyện. Qua mấy chục năm chung sống với họ, tôi đã được nghe không biết bao nhiêu câu chuyện họ kể.

Những chuyện họ kể đều huyền bí đáng sợ, nhưng rất hấp dẫn. Trong các câu chuyện ấy, giữa người sống với người chết không có một giới hạn rành mạch; giữa loài vật và cây cỏ với nhau cũng không có ranh giới rõ rệt. Thậm chí nhiều thứ, chẳng hạn một cái chổi quét nhà, một sợi tóc, một chiếc răng rụng đều có thể nhân một dịp nào đấy mà trở thành những linh vật. Trong chuyện họ kể, người chết thực ra không đi đâu xa cả mà vẫn cùng sống với ta, họ luôn luôn bí mật theo dõi ta, bảo vệ ta, dĩ nhiên cũng giám sát đôn đốc ta. Điều đó đã khiến tôi hồi bé đỡ làm nhiều việc xấu, vì tôi sợ các cụ các kị đã chết đang theo dõi mình sẽ trừng phạt. Dĩ nhiên, nó cũng khiến tôi làm được nhiều việc tốt, vì tôi tin là mình làm điều tốt thì trước sau cũng sẽ được thưởng công. Trong những câu chuyện mọi người kể lại, phần lớn các con vật đều có thể biến hoá thành hình người, đi lại với người, thậm chí yêu nhau, lấy nhau, sinh con đẻ cái. Chẳng hạn, bà nội tôi có kể câu chuyện gà trống và người yêu nhau. Bà kể : nhà nọ có một cô con gái rất xinh chưa lấy chồng, nhiều người đến mai mối, nhưng cô gái nhất quyết không chịu lấy ai cả và bảo là mình đã có một đức lang quân như ý. Bà mẹ cô gái bèn để ý theo dõi thì thấy mỗi khi đêm khuya vắng vẻ, trong buồng cô gái có vẳng ra tiếng con trai thì thầm, giọng nói rất quyến rũ. Sáng ra, khi bà mẹ hỏi người con trai ấy là ai và vào nhà bằng cách nào, thì cô con gái nói anh ta đêm nào cũng xuất hiện trong buồng mình, khi trời sắp sáng lại lặng lẽ biến mất. Cô gái còn kể, lần nào đến anh ấy cũng mặc một bộ quần áo đẹp lộng lẫy. Bà mẹ bèn bảo con dấu quần áo của anh ta đi. Đêm hôm sau, người con trai lại đến, cô gái bèn dấu bộ quần áo của anh vào trong tủ. Trời sắp sáng, anh ta phải ra về nhưng tìm mãi không thấy quần áo đâu cả. Chàng trai van xin cô gái trả lại quần áo cho mình, nhưng cô gái không nghe. Đến khi gà trong làng bắt đầu gáy, anh ta đành trần như nhộng lẻn đi. Sáng ra, khi mở chuồng thả gà, bà mẹ thấy từ trong chuồng chạy ra một chú gà trống to, thân hình trần trụi, trên mình không có một cái lông nào cả. Khi bà bảo cô con gái mở tủ ra xem thì chẳng thấy quần áo đẹp nào hết mà chỉ thấy toàn là lông gà - đây là một trong những câu chuyện để lại ấn tượng sâu sắc nhất cho tôi thời thơ ấu. Từ đấy trở đi, mỗi lần trông thấy con gà trống nào có bộ lông sặc sỡ hoặc thấy một anh chàng điển trai nào, trong lòng tôi đều có cảm giác kỳ lạ thế nào ấy. Tôi thấy giữa chú gà trống với anh thanh niên kia như có một mối quan hệ thần bí, nếu không phải là gà biến thành người thì là người biến thành gà.

Cách làng tôi khoảng 300 dặm đường là quê hương của Bồ Tùng Linh, nhà văn viết chuyện ma quỷ giỏi nhất Trung Quốc. Sau khi trở thành nhà văn, tôi bắt đầu đọc sách của ông và thấy trong đó có nhiều chuyện mình đã được nghe kể hồi nhỏ. Chẳng biết có phải là Bồ Tùng Linh được nghe các chuyện tổ tiên tôi kể rồi viết thành sách của ông, hay là tổ tiên tôi đọc truyện ông viết rồi kể lại cho người khác nghe. Dĩ nhiên, bây giờ tôi đã hiểu ra mối liên hệ giữa sách của ông với những chuyện tôi được nghe kể.

Chuyện do các cụ thuộc thế hệ ông bà tôi kể phần lớn là chuyện ma quỷ, yêu tinh. Chuyện thế hệ cha mẹ tôi kể phần lớn là chuyện lịch sử; đương nhiên, là loại lịch sử đã được truyền kỳ hoá, so với lịch sử trong sách giáo khoa thì khác nhau một trời một vực. Chuyện lịch sử dân gian truyền miệng không có quan niệm giai cấp, cũng không có đấu tranh giai cấp, nhưng chứa chan lòng sùng kính các vị anh hùng và tin vào số phận. Chỉ những người có ý chí phi phàm và sức khoẻ phi thường thì mới đi vào lịch sử dân gian kể miệng, và được mãi mãi truyền tụng. Hơn thế nữa, trong quá trình lưu truyền, các câu chuyện lại được chế biến, nâng cao. Trong những câu chuyện truyền kỳ lịch sử họ kể, thậm chí không có cả quan niệm rõ rệt về phải trái đúng sai. Cho dù là kẻ trộm tài nghệ cao siêu, tên cướp to gan lớn mật hoặc gái điếm tuyệt sắc giai nhân, tất cả đều có thể đi vào câu chuyện họ kể. Và khi kể về những kẻ xấu như vậy, bao giờ người kể cũng dùng giọng nói ca ngợi và nét mặt họ tràn đầy vẻ ngưỡng mộ.

Cách đây mười mấy năm, khi viết tiểu thuyết Cao Lương Đỏ, tôi đã hiểu ra rằng : sách giáo khoa lịch sử chính thức cố nhiên không thể tin được, chuyện lịch sử dân gian truyền miệng cũng không đáng tin cậy. Nhà nước xuyên tạc lịch sử là nhu cầu của chính trị. Dân gian truyền kỳ hoá, thần bí hoá lịch sử là nhu cầu của tâm linh. Là một nhà văn, dĩ nhiên tôi càng mong muốn bám sát các truyền kỳ lịch sử dân gian và từ đó hấp thu lấy chất bổ dưỡng. Bởi lẽ, một tác phẩm văn học muốn kích động nhân tâm thì phải kể những chuyện rung động lòng người, và trong quá trình trình bày câu chuyện đó tất phải tạo dựng nên các nhân vật có tính cách rõ ràng, khác thường. Những nhân vật ấy hầu như không tồn tại trong đời sống thực tế, nhưng lại có mặt nhan nhản trong các câu chuyện do thế hệ cha tôi kể lại. Chẳng hạn, cha tôi kể rằng một người bà con họ xa với nhà tôi có lần ăn hết nửa con bò và 50 cái bánh. Dĩ nhiên, ăn khoẻ như thế là nhờ ông ấy có sức mạnh phi thường. Cha tôi bảo, ông ta có thể nhấc cả cỗ xe cùng con ngựa kéo xe mang đi một lèo 10 dặm đường. Tôi thừa biết nhà tôi chẳng có người bà con nào như vậy cả; cha tôi nói thế là để tôi tin hơn vào câu chuyện mà thôi. Đây thực ra là một kỹ xảo kể chuyện. Về sau, khi sáng tác truyện Cao Lương Đỏ, tôi đã mượn dùng kỹ xảo ấy. Mở đầu Cao Lương Đỏ, tôi nói ngay : cha tôi là thổ phỉ có nòi, theo toán quân Dư Chiếm Ngao của ông tôi đi phục kích một đoàn xe ô tô lính Nhật... Kỳ thực, ông tôi là một thợ mộc tay nghề cao, còn cha tôi là một nông dân chất phác hiền lành đến mức không dám giết cả đến con gà. Sau khi tiểu thuyết in ra, cha tôi giận lắm, bảo là tôi vu khống ông ấy. Tôi trả lời : thật ra, viết tiểu thuyết cũng như kể chuyện, cha chẳng đã kể với con là nhà mình có người bà con xa ăn một lần hết nửa con bò đấy ư ? Nghe tôi giải thích, cha tôi hiểu và nói một câu vạch toạc ra bí ẩn của tiểu thuyết : thì ra viết tiểu thuyết là bịa đặt, dựng chuyện đấy mà !

Thật ra, chẳng cứ người có tuổi mới bắt đầu kể chuyện, mà có trường hợp người trẻ tuổi, thậm chí cả trẻ con cũng kể chuyện. Hồi mười mấy tuổi, tôi từng nghe cậu bé hàng xóm lên 5 tuổi kể lại một chuyện đến bây giờ tôi vẫn còn khó quên được. Cậu bé kể : gấu và khỉ của một đoàn xiếc trò chuyện với nhau; gấu bảo, tao phải trốn đi khỏi nơi này thôi. Khỉ hỏi, ở đây rất sướng, sao mày lại muốn trốn đi ? Gấu bảo : dĩ nhiên mày thì sướng rồi, ông chủ thích mày, ngày nào cũng cho mày ăn nào táo, nào chuối. Còn tao chỉ được ăn thứ cám lợn khó nuốt, trên cổ còn đeo một cái xích sắt, động một tý là ông chủ quất roi. Sống như thế đã quá đủ, cho nên tao mới muốn trốn. Khi ấy tôi hỏi cậu bé, thế con gấu ấy có bỏ trốn không ? Nó trả lời : Không. Tôi hỏi tại sao ? Nó bảo : Con khỉ mách ông chủ biết ý định của gấu.

Trong
quãng thời gian dài tôi đọc sách bằng tai thì kịch dân gian, nhất là loại kịch ngắn quê tôi gọi là “Miêu Xoang” đã có ảnh hưởng sâu sắc đến tôi. “Miêu Xoang” khi hát nghe uyển chuyển sầu thảm, biểu diễn độc đáo, y như sự diễn tả cuộc sống khổ nạn của nhân dân vùng Đông Bắc Cao Mật. Giai điệu của “Miêu Xoang” đi theo tôi suốt thời thanh thiếu niên. Trong mùa nông nhàn, người trong xóm họp nhau hát tuồng, tôi cũng lên sân khấu diễn kịch, thường đóng các vai hề quấy vui xen vào giữa hai màn kịch, không cần cả đến hoá trang. “Miêu Xoang” là trường học mở cửa của nhân dân vùng đông Bắc Cao Mật, là lễ hội vui của dân gian, là kênh để phơi bày tình cảm. Kịch dân gian thông tục dễ hiểu, đầy lời thoại đậm đà mùi vị đời sống, có khả năng đem lại một chất liệu mới cho ngôn ngữ tiểu thuyết đã quý tộc hoá. Tiểu thuyết “Đàn Hương Hình” tôi mới viết xong gần đây chính là một lần thử đổi mới, áp dụng văn hý kịch của “Miêu Xoang” vào ngôn ngữ tiểu thuyết.

Dĩ nhiên, ngoài lắng nghe những tiếng nói phát ra từ miệng mọi người, tôi còn lắng nghe tiếng động của thiên nhiên hùng vĩ, như tiếng nước lũ chảy, tiếng cây cỏ mọc, tiếng loài vật kêu ...... Trong tiếng loài vật, tôi không thể nào quên được tiếng kêu của đàn ếch nhái hàng ngàn hàng vạn con tụ tập một chỗ, đúng là một bản đại hợp xướng, tiếng kêu âm vang, inh tai nhức óc. Những cái lưng mầu rêu xanh và túi hơi phồng lên xẹp xuống bên má của lũ ếch nhái che kín mặt nước hồ ao. Cảnh ấy khiến người ta khiếp hãi rùng mình, trong lòng trăm mối nghĩ suy.

Tuy tôi không được học, nhưng qua lắng nghe - kiểu đọc bằng tai ấy, tôi đã chuẩn bị tốt cho việc viết lách sau này. Tôi nghĩ, trong hơn hai mươi năm trời dùng tai đọc sách ấy, tôi đã tạo dựng được một mối liên hệ khăng khít giữa tôi với thiên nhiên, tạo dựng cho tôi quan niệm lịch sử, quan niệm đạo đức; quan trọng hơn, đã tạo cho tôi năng lực tưởng tượng và trái tim thơ ngây phấn đấu không biết mệt mỏi. Tôi tin rằng, trí tưởng tượng là sản phẩm của cuộc sống nghèo khó và hoàn cảnh bế tắc. Tại các đô thị lớn như Bắc Kinh và Thượng Hải, người ta có thể thu nhận được tri thức song rất khó có được trí tưởng tượng, nhất là trí tưởng tượng liên quan đến văn học nghệ thuật lại càng khó mà thu được. Sở dĩ tôi có thể trở thành một nhà văn như thế này, dùng phương thức sáng tác như thế này, viết được các tác phẩm như thế này, là có liên quan khăng khít với việc tôi dùng tai đọc sách trong hơn hai chục năm qua. Sở dĩ tôi có thể liên tục viết lách không ngừng và luôn luôn tràn đầy tự tin, cũng là do tôi dựa vào nguồn tư liệu phong phú đọc được bằng tai.

Về việc dùng mũi để viết, thật ra đề tài này nên dành cho một buổi thuyết trình khác; hôm nay tôi chỉ có thể nói một cách đơn giản. Cái gọi là dùng mũi viết lách không phải là nói việc tôi cắm 2 chiếc bút lông ngỗng vào lỗ mũi, mà là nói khi viết tác phẩm, lúc mới bắt đầu thì chưa có ý định gì, sau đấy bắt đầu điều động một cách có ý thức các ký ức và trí tưởng tượng của mình về mùi vị, nhờ vậy khi sáng tác tôi như thấy mình đang ở trong câu chuyện, nhờ thế làm cho bạn đọc khi đọc tiểu thuyết của tôi cũng thấy họ như ở trong câu chuyện. Thật ra, trong quá trình sáng tác, nhà văn không những chỉ điều động hồi ức và trí tưởng tượng đối với mùi vị, mà còn nên điều động thị giác, thính giác, vị giác, xúc giác tức là toàn bộ các cảm nhận của mình và toàn bộ trí tưởng tượng có liên quan đến những thứ đó. Muốn cho tác phẩm của mình đầy ắp các mô tả phong phú có thể cảm nhận, như mầu sắc và nét vẽ, âm thanh và giai điệu, cay đắng và chua ngọt, mềm cứng và nóng lạnh v.v..., dĩ nhiên tất cả các thứ ấy đều được thực hiện nhờ dùng một ngôn ngữ chính xác mà đẹp. Một cuốn tiểu thuyết hay thì phải có khả năng để người ta khi đọc nó sinh ra một cảm nhận dường như họ đang đi vào một thôn làng, một cái chợ, một gia đình vô cùng cụ thể. Tiểu thuyết hay thì phải làm cho những người si mê đọc nó hoà mình cùng các nhân vật của tiểu thuyết, yêu niềm yêu, ghét cái ghét của nhân vật, lo cái sống lo cái chết của nhân vật.

Viết được những cuốn tiểu thuyết như thế là việc rất khó, tôi đang không ngừng cố gắng làm theo hướng này.

Người dịch và giới thiệu : Nguyễn Hải Hoành

Nguồn : “Lập trường văn nghệ : Tập bài nói của các nhà văn đương đại đọc ở nước ngoài và Đài Loan, Hồng Kông”, xuất bản 2004