Xem lẹ

Trang nhà > Lịch sử­ > Trung đại > Đàn Nam Giao & lễ tế Giao (I)

Đàn Nam Giao & lễ tế Giao (I)

Chủ Nhật 1, Tháng Ba 2015

Trong tất cả lễ hội cung đình của các triều đại quân chủ ở Á Đông thuở trước, thường được chuẩn bị kỳ công nhất và tiến hành trang trọng nhất chính là đại lễ tế Nam Giao, nói gọn thành tế Giao. Giao, chữ Hán ghi 郊, có nghĩa là tế trời.

Nói cho chính xác thì tế Giao bao gồm cúng tế cả trời lẫn đất cùng nhiều đấng linh thiêng khác. Kinh Lễ quy định: “Thiên tử tế thiên địa, tế tứ phương, tế sơn xuyên, tế ngũ tự. Chư hầu tế phương tự, tế ngũ tự. Đại phu tế ngũ tự. Sĩ tế kỳ tiên” (Vua tế trời đất, tế bốn phương, tế núi sông, tế năm vị – gồm thần ngõ, thần sân, thần cửa, thần giếng và thần bếp. Chư hầu tế các thần tại địa bàn và tế năm vị vừa kể. Đại phu thì tế năm vị. Kẻ sĩ tế cha ông tông tổ của mình). Như thế, nhà nhà đều có thể thiết bàn thờ trời (bàn thiên) theo quy cách cực kỳ đơn sơ, một số miếu đền có thể thờ Ngọc hoàng thượng đế bằng tranh hay tượng nơi chính điện, song tế trời thì duy chỉ hoàng đế mới được phép đích thân chủ tế.

Mở đầu chuyên luận Croyances et pratiques religieuses des Vietnamiens (Tín ngưỡng và thực hành tôn giáo của người Việt Nam; bản in năm 1958 tại Sài Gòn), nhà Huế học – Việt Nam học uyên áo người Pháp là Léopold Cadière (1869 – 1955) từng nhận xét khá kỹ lưỡng: ”Với người Việt, trời không phải một vị thần, ít nhất là trong quan niệm dân gian. Đó là Ông Trời, đấng hình như thuộc về thế giới siêu việt. Hoàng đế tế trời một cách trọng thể; còn dân chúng thì cầu trời, kêu trời hằng ngày bằng ngôn ngữ thông tục và họ chỉ nghĩ tới các hình thức khác để tôn vinh trời vào những trường hợp hoàn toàn đặc biệt”.

Trong bài viết này, những đoạn tư liệu trích dẫn trực tiếp nếu có thêm ngoặc vuông là chứa chú thích của chúng tôi. Trước tiên, xin có đôi dòng điểm sơ qua gốc gác vấn đề.

Lễ phong thiền & Thiên đàn

Tại Việt Nam cũng như các quốc gia đồng văn, việc xây đàn Nam Giao và cử hành lễ tế Giao xuất phát từ đâu? Từ Trung Hoa. Theo sách “Tiểu học sinh thiên hạ sự toàn tri đạo” của nhiều soạn giả (Thiếu niên nhi đồng xuất bản xã, Bắc Kinh, 2001) thì nghi thức tế trời đất của các bậc đế vương Trung Hoa cổ đại vốn được gọi phong thiền, thường diễn ra trên núi Thái – tức Đại Sơn, thuộc tỉnh Sơn Đông, là ngọn núi được xem đứng đầu Ngũ Nhạc.

Kể từ thế kỷ thứ III, dưới đời Tần Thủy Hoàng, lễ phong thiền trên Thái Sơn mới được chính thức ghi lại bằng văn tự. Nhiều triều đại kế tục, các hoàng đế đều lên núi Thái làm lễ tế trời đất hằng năm. Thời Nam Tống (thế kỷ XII) trở về sau, các đấng “thiên tử” không còn lên Thái Sơn cử hành lễ phong thiền vì nhiều lý do.

Tới giai đoạn nhà Minh (1368 – 1644), vị vua thứ hai là Huệ Đế (Chu Doãn Văn) quyết định dời đô từ Nam Kinh về Bắc Kinh vào năm Quý Mùi 1403, tiếp đấy cho xây Thiên đàn (Hòa Khâu đàn) cùng Địa đàn (Phương Đàm đàn) ở ngoại ô quốc đô. Tuy nhiên, vua thứ ba là Minh Thành Tổ (Chu Đệ – niên hiệu Vĩnh Lạc) cảm thán: “Trời là cha, đất là mẹ, con cái cúng tế bố mẹ ở hai nơi, ngó sao đành!”. Từ đó, trời đất được các hoàng đế Trung Hoa hiệp tế thường niên tại Thiên đàn. Còn gọi là Giao đàn, Thiên đàn nằm ngoài cửa Vĩnh Định ở phía nam kinh thành nên cũng có tên Nam Giao đàn. Được xây dựng quy củ trên mặt bằng 4.000ha vào năm Vĩnh Lạc XVIII (Canh Tý 1420), Thiên đàn bao gồm các hạng mục: đàn Viên Khâu cấu tạo bằng đá Hán bạch ngọc với nhiều chi tiết chạm trổ trang trí công phu, tòa nhà Hoàng Huyền Vũ thờ bài vị Hiệu thiên thượng đế, điện Kỳ Niên ba tầng bằng gỗ có nóc hình chóp được xem là một tác phẩm điển hình cho nghệ thuật kiến trúc cổ của Trung Hoa. Hiện là một điểm lôi cuốn nhiều du khách ghé tham quan mỗi khi viếng khu vực cố cung Bắc Kinh, di tích nọ còn có tên gọi được phiên âm Latinh để dễ phổ biến cho cộng đồng quốc tế: Tiantan.

Về mối giao lưu văn hóa văn minh Hoa – Việt trong chuyện này, L. Cadière (tlđd) phân tích: “Ắt hẳn sự tin tưởng Ông Trời của người Việt có chịu ảnh hưởng Trung Hoa; song chớ nên chỉ thấy ở đó những tư tưởng thuần lý của ý niệm Thiên mà thôi. Ý niệm trời thấm sâu vào tâm tư người Việt và được biểu lộ thường xuyên mỗi ngày qua ngôn ngữ một cách minh nhiên đến nỗi ta không thể không thấy rằng ý niệm trời chính là một trong những nguyên lý cơ bản và cao cả nhất đối với đời sống tín ngưỡng của người Việt”. Tìm hiểu về đàn Nam Giao cùng nghi tiết tế Giao trải qua các triều đại quân chủ ở nước ta xưa cũng đủ thấy nhiều nét đặc thù của Việt Nam.

Đàn Nam Giao – đàn Bắc Giao

Kể từ thời Lý (1010 – 1225), đàn Nam Giao từng được thiết lập ở Thăng Long để nhà vua tế trời. Đại Việt sử ký toàn thư, bản Nội các quan bản, khắc in vào niên hiệu Chính Hòa thứ XVIII tức năm Đinh Sửu 1697 (bản kỷ, quyển IV – Ngô Đức Thọ dịch và chú thích, Hà Văn Tấn hiệu đính – NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1998, tập I, tr.320) chép rằng từ năm Giáp Tuất 1154, niên hiệu Đại Định thứ XV, vua Lý Anh Tông ngự ra cửa nam thành Đại La (tức thành Thăng Long) xem đắp đàn Viên Khâu. Đàn Viên Khâu (hình tròn) còn gọi đàn Nam Giao, là chỗ vua tế trời vào tiết đông chí, và đàn Phương Trạch (hình vuông) còn gọi đàn Bắc Giao là nơi vua tế đất vào tiết hạ chí theo cổ lệ. Sau, gộp chung cả hai lễ vào tháng giêng, cùng cử hành tại đàn Nam Giao.

Phạm Đình Hổ (1768 – 1839) có lưu Vũ trung tùy bút (Tùy bút trong mưa) bằng chữ Hán. Tác phẩm ấy được Nguyễn Hữu Tiến phiên dịch ra chữ quốc ngữ và đăng trên tạp chí Nam Phong từ số 121 (tháng 9-1927) đến số 126 (2-1928), đã giúp hậu thế biết thêm về Giao lễ (lễ tế Giao) thuở xưa. Tác giả Vũ trung tùy bút từng hạ bút: “Lễ tế Giao về thời Lý, thời Trần thì không thể xét được”. Nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 – 1784) biên soạn Kiến văn tiểu lục (bản dịch của Phạm Trọng Điềm – NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1977, tr.58) cũng thừa nhận: “Lễ nghi tế Giao, tế miếu về hai triều đại nhà Lý, nhà Trần không thể tra khảo được”. Quả thật, lễ tế Giao dưới vương triều Trần tuyệt nhiên không thấy sử nhắc dù chỉ một dòng. Do đó, trong tập 5 Hỏi đáp 1000 năm Thăng Long – Hà Nội (NXB Trẻ, 2001, tr. 49), Nguyễn Vinh Phúc và Tô Hoài suy đoán: “Thời Trần dường như bỏ lệ tế này. Sang thời Lê, bắt đầu từ Lê Thánh Tông năm 1462 phục hồi nghi lễ này [?]”.

Nhưng sau nhà Trần và trước nhà Lê, nước ta từng có nhà Hồ và nhà Hậu Trần. Liệu hai triều đại ấy giữ cổ lệ tế Giao chăng? Hầu như rất hiếm tư liệu đề cập. May thay, Đại Việt sử ký toàn thư (sđd, tập II, tr.203) còn bảo lưu thông tin rất đáng chú ý khi ghi chép các sự kiện năm Nhâm Ngọ 1402: “Tháng 8, Hán Thương [con trai và là người kế vị Hồ Quý Ly] đắp Giao đàn ở Đốn Sơn để làm lễ tế Giao. Đại xá. Hôm tế, Hán Thương ngồi kiệu Vân Long, từ cửa nam [thành Tây Đô] đi ra, các cung tần, mệnh phụ, quan văn, quan võ trong triều theo thứ tự đi sau. Mũ áo của đàn bà kém chồng một bậc, nếu bản thân là tôn quý thì không phải kém. Lệ cũ của đời trước có nghi lễ bái yết hai bậc, quan lại và người theo hầu rất đông. Cứ 3 năm cử hành đại tế một lần, thiên tử ngồi xe Thái Bình, khắc gỗ làm 40 hình người tiên, mặc áo vóc, cầm cờ đi trước, nếu đi thuyền nhỏ ở hồ Chu Tước thì dùng dây thừng gấm để kéo thuyền; 2 năm cử hành trung lễ một lần, thiên tử ngồi ngai chạm bách cầm; 1 năm cử hành tiểu lễ một lần, thiên tử ngồi ngai nhỏ. Chưa từng làm lễ tế Giao, nay Hán Thương run tay, rượu bị đổ xuống đất, nên phải ngừng lại”. Xem thêm Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn đời Tự Đức (bản dịch của Phan Trọng Điềm – NXB Thuận Hóa, Huế, 1992, tập II, tr. 270) lại thấy: “Giao đàn cũ nhà Hồ ở phía nam trên đỉnh Đốn Sơn thuộc xã Cao Mật, huyện Vĩnh Lộc, [tỉnh Thanh Hóa,] do Hồ Quý Ly xây [?], dưới đàn có giếng tắm [giếng Vua], xây đá làm thành, do Hồ Hán Thương xây; di tích vẫn còn”.

Ngần ấy thông tin khiến bao lớp hậu sinh suy nghĩ.

Thành Tây Đô, dân chúng bấy lâu quen gọi thành nhà Hồ, hiện nằm trên địa bàn hai xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, cách thành phố Thanh Hóa chừng 50km về phía tây nam. Thành gồm hai phần – thành nội và thành ngoại – với tổng chu vi khoảng 4km, vốn do Hồ Quý Ly cho xây từ mùa xuân Đinh Sửu 1397, ba năm trước khi phế truất Trần Thiếu Đế rồi lên ngôi và đổi quốc hiệu Đại Việt ra Đại Ngu. Đó là một công trình kiến trúc quân sự đồ sộ với nhiều khối đá xanh khổng lồ được thi công cuối thế kỷ XIV hoàn toàn bằng sức người mà lại hoàn tất đạt thời hạn kỷ lục: 3 tháng. Trong 7 năm nhà Hồ cầm quyền (1400 – 1407), thành Tây Đô là thủ đô của cả nước ta. Trải qua sáu thế kỷ thăng trầm, khu vực thành nhà Hồ bấy nay hóa ra… ruộng trồng lúa và hoa màu! Chỉ còn tường thành ốp đá tảng với bốn cổng vòm trổ ra bốn hướng “đã bị hư hại khá nhiều” – theo đánh giá của trang web http://www.thanhhoa.gov.vn – cùng ít hiện vật thiếu lành lặn như đôi rồng đá dài 1,8m đã bị cụt đầu!

JPEG - 34.4 kb
Cặp rồng đá còn lại của thành Tây Đô

Vậy tại Đốn Sơn (dân địa phương quen gọi là núi Đún, ở xã Cao Mật, nay là xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Lộc) bên ngoài cửa nam khoảng 2,5km, đàn Nam Giao chắc cũng bị xóa nhòa tự đời nảo đời nao?

Cần thêm rằng thời Hồ, núi Đún nằm trong khu vực La thành – vòng thành bảo vệ bên ngoài thành Tây Đô – được Hồ Quý Ly thiết lập một cách khác thường: trồng toàn tre gai. Qua sách Thành cổ Việt Nam (NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1983, tr.85), Đỗ Văn Ninh bình luận: “Một vòng thành bằng lũy tre gai quả thật rất độc đáo, rất Việt Nam”. Cũng trên núi Đún, năm Kỷ Mão 1399, thượng tướng quân Trần Khát Chân (dòng dõi Trần Bình Trọng) định làm chính biến nhưng thất bại, dẫn tới kết cục hơn 200 người bị thảm sát bởi Hồ Quý Ly. Như thế, sau khi nhà Hồ sụp đổ, nhiều di tích của triều đại ấy bị triệt giải hoặc cải dụng là điều tất yếu xảy ra, trong đó ắt có đàn Nam Giao trên ngọn Đốn Sơn! Thế nhưng…

Phan Xi Pan (còn nữa)