Trang nhà > Sử­ sách > Danh nhân > Đặng Dung (cuối TK 14-đầu TK 15)

Đặng Dung (cuối TK 14-đầu TK 15)

Thứ Bảy 5, Tháng Chín 2009

Đặng Dung là một vị tướng tài thời Hậu Trần, người làng Tả Thiên Lộc, huyện Phỉ Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Năm sinh và năm mất không rõ. Tên ông nay được đặt cho một con phố (ảnh bên) ở gần Cửa Bắc thành Hà Nội, cũng như ở nhiều nơi khác của Việt Nam.

Giận vua Giản Định nghe lời gièm pha giết oan cha mình là Đặng Tất sau trận quân Minh đại bại ở Bô Cô [1] năm 1409 Đặng Dung đem quân từ Thuận Hóa về Thanh Hóa và tôn hoàng thân Trần Quý Khoáng lên ngôi vua.

Ông giữ chức Đồng bình chương sự và cùng Nguyễn Cảnh Dị (con Nguyễn Cảnh Chân) nhiều lần trực tiếp chiến đấu với quân Minh. Đêm tháng 9 năm Quý Tỵ (1413), Đặng Dung đánh úp doanh trại giặc và suýt nữa bắt sống tư lệnh Trương Phụ (đáng tiếc vì không biết rõ mặt nên bị Phụ lợi dụng đêm tối dùng thuyền nhẹ trốn thoát được).

Tháng 11 năm 1413, vua tôi nhà Hậu Trần thế cô cuối cùng bị quân Minh bắt giải về Yên Kinh. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư không chép gì về cái chết của ông. Theo Ngô Thì Sĩ trong Việt Sử Tiêu Án thì ông và Nguyễn Cảnh Dị bị Trương Phụ mổ bụng ăn gan.

Ông còn để lại duy nhất bài thơ Cảm Hoài, được chép trong Toàn Việt Thi Lục và Lý Tử Tấn có lời bình "phi hào kiệt chi sĩ bất năng" (chỉ sĩ phu hào kiệt mới làm nổi).

CẢM HOÀI

Thế sự du du nại lão hà
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
Thời lai đồ điếu [2] thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
Trí chúa hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh [3] vô lộ vãn thiên hà
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ Long Tuyền [4] đới nguyệt ma

Bản dịch Tản Đà

Việc đời man mác, tuổi già thôi !
Đất rộng trời cao chén ngậm ngùi
Gặp gỡ thời cơ may những kẻ,
Tan tành sự thế luống cay ai !
Phò vua bụng những mong xoay đất,
Gột giáp sông kia khó vạch trời.
Đầu bạc giang san thù chửa trả,
Long tuyền mấy độ bóng trăng soi.

Bản dịch Phan Kế Bính

Việc đời bối rối tuổi già vay,
Trời đất vô cùng một cuộc say.
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.
Vai khiêng trái đất mong phò chúa,
Giáp gột sông trời khó vạch mây.
Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.

Chú thích

[1] Sau khi giải phóng Thanh Nghệ, tháng Chạp Mậu Tý (1408), Giản Định Đế hội các lộ quân từ Thuận Hóa đến Thanh Hóa và tiến đánh Đông Đô. Vua Minh sai Mộc Thạnh, Lưu Tuấn mang 4 vạn quân sang tiếp viện. Thạnh họp với Lữ Nghị ở Đông Quan, tập trung ở bến Bô Cô, xã Hiếu Cổ, huyện Phong Doanh (nay thuộc huyện Ý Yên, Nam Định). Giản Định tự đánh trống, tướng sĩ ta diệt được hơn vạn giặc, trong đó có Thượng thư Bộ binh Lưu Tuấn, Đô đốc Lữ Nghị, Tham chính ty Giao Chỉ Lưu Dục, Đô chỉ huy sứ Liễu Tông... Mộc Thạnh cùng tàn binh lui vào cố thủ trong thành Cổ Lộng (nay là làng Bình Cách, Ý Yên). Giản Định muốn thừa thắng đánh lấy Đông Quan nhưng Đặng Tất ngăn lại, nói để đợi quân các lộ về hội đông đủ. Từ đó vua tôi không được hòa thuận, tháng 3-1409 Giản Định bắt giết Đặng Tất và quan tham mưu Nguyễn Cảnh Chân.

[2] đồ điếu: lúc trẻ Phàn Khoái từng giết thịt (đồ tể) và Hàn Tín phải câu cá (điếu ngư) kiếm sống; cả hai sau này trở nên khai quốc công thần, giúp Lưu Bang phá Tần diệt Sở.

[3] tẩy binh: điển tích từ hai câu thơ của Đỗ Phủ trong bài Tẩy Binh Mã:

An đắc tráng sĩ vãn Ngân Hà
Tịnh tẩy giáp binh trường bất dụng.

(Ước gì có được người tráng sĩ kéo sông Ngân Hà
Rửa sạch giáp binh để mãi mãi không dùng đến nữa).

[4] Long Tuyền: tên một thanh gươm báu thời xưa.