Home > Thú vui > Du lịch > Đất cổ Lập Thạch

Đất cổ Lập Thạch

Monday 22 October 2007

Huyện Lập Thạch là một vùng đất cổ kính nhất tỉnh Vĩnh Phúc. Địa chất học, khảo cổ học, các tín ngưỡng nguyên thủy, nhiều hội hè lễ tiết, phong tục tập quán đều khẳng định như vậy. (Ảnh: Đền thờ Trần Nguyên Hãn ở xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch)

Theo lịch sử địa chất, địa tầng Vĩnh Phúc bao gồm các thành tạo trầm tích, trầm tích biến chất, trầm tích phun trào có tuổi theo thứ tự từ già đến trẻ như sau: Nguyên sinh đại cách ngày nay 600 – 700 triệu năm; cổ sinh đại, 400 triệu năm; trung sinh đại 230 triệu năm; tân sinh đại 67 triệu năm (đến bây giờ vẫn đang thành tạo).

Khu vực xung quanh núi Sáng và các xã Quang Sơn, Hợp Lý, Bắc Bình, Liễn Sơn ở hữu ngạn sông Phó Đáy, diện tích hàng chục km2 có tuổi nguyên sinh đại, diện tích vài km2. Vùng ven rìa trước núi Tam Đảo xã Đạo Trù có tuổi trung sinh đại ... Như vậy, huyện Lập Thạch nằm trên một địa tầng rất vững vàng, rất cổ xưa, nơi “trẻ” nhất cũng cách ngày nay trên 200 triệu năm.

Từ địa tầng đó đã xuất hiện hai thành tạo magma xâm nhập đáng kể là khối núi Sáng, tổng diện tích 70 km2 và khối các núi Bầu, núi Lịch, núi Ngang, diện tích nhỏ hơn, nằm hai bên bờ sông Phó Đáy, từ xã Hợp Lý đến các xã Yên Dương, Bồ Lý, tuổi tuyệt đối là 350 triệu năm.

Về khảo cổ học, trong đợt kiểm kê di tích toàn tỉnh năm 1965, đã phát hiện “Trên núi Thét ở xã Hồng Phong (xã Hải Lựu bây giờ) có một hang đá; trong hang có nhiều mảnh gốm rất xưa, có thể là nơi cư trú của người nguyên thủy”. Theo giáo sư Hoàng Xuân Chinh, một nhà nghiên cứu sử học đã từng tiến hành nhiều cuộc khai quật khảo cổ học trên địa bàn 2 tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ, thì: “Người cổ đại đến cư trú, khai phá Vĩnh Phúc là người thời đồ đá cũ Sơn Vi, niên đại trên 2 vạn năm, sớm hơn người hậu kỳ đồ đá mới Đồng Đậu (Yên Lạc) nhiều. Di tích văn hóa Sơn Vi đã được phát hiện ở xã Hải Lựu; có thể còn có ở cả xã Đôn Nhân”.

Ngày xưa, trước những hiện tượng thiên nhiên: Sấm sét, nước, lửa, đá sập, rừng cháy ... tác động “khủng khiếp” đến đời sống của mình, người nguyên thủy không giải thích nổi và chưa chế ngự được nên thường thờ cúng thần đá, thần cây, thâng sông, thần núi ... Nơi thờ cúng có thể là tại chỗ, có thể là một am nhỏ, sau phát triển thành miếu, đền, đình ... Tín ngưỡng đó ra đời trước tất cả các đạo giáo khác.

Hội chọi trâu xã Hải Lựu

Không ở đâu trong tỉnh lại có nhiều di tích tín ngưỡng nguyên thủy bằng Lập Thạch:

  • Làng Bạch Lưu Hạ thờ 3 vị thiên thần: Khám Sơn, Uy Linh Sơn, Thiết Sơn.
  • Làng Quang Viễn thờ 3 vị thần núi: Ẩm Sơn, Pho Sơn, Ngân Sơn.
  • Làng Hữu Phúc thờ 6 vị thần núi: Dương Sơn, Lan Sơn, Ngô Sơn, Ngọc Sơn, Liễu Sơn, Nga Sơn, và 1 thần sông: Giang khẩu Hộ sát.
  • Thôn Gia Hội, tổng Đạo Kỷ thờ 3 vị thần biển: Đệ nhất Đông Hải Hiển Hựu, Đệ nhị Đông Hải Hộ Quốc, Đệ tam Đông Hải Linh Ứng.
  • Thôn Thụy Sơn cũng thờ 3 vị trên.
  • Làng Đông Đạo thờ 3 vị: Điền Sơn, Thái Sơn, Ất Sơn.
  • Làng Lưỡng Quế thờ 3 vị: Cốt Sơn, Giao Sơn, Húc Sơn.
  • Làng Thụy Điền thờ Đông Hải đại vương.
  • Thôn Bằng Chỉ thờ 5 vị: Hùng Trấn Cao Sơn, Hùng Lược Giang Sơn, Hùng Thắng Điện Sơn, Bà Sơn Thông Quang, Hoàng Đàm Sơn.
  • Thôn Thọ Linh thờ 3 vị: Độc Sơn, Bảo Sơn, Ninh Sơn.
  • Thôn Tùy Sơn thờ 5 vị: U Sơn, Tá Trị, Đảo Sơn Phù Vân, Lâm Sơn, Độc Sơn, Huống Sơn.
  • Thôn Nghệ Uyển thờ 5 vị: Tự Sơn, Chù Sơn, Vy Sơn, Khảng Sơn, Độ Sơn.
  • Thôn Xuân Vị thờ 4 vị: Khảng Sơn, Hoảng, Liễu Sơn, Đạo Sơn.
  • Làng Quảng Cư thờ 3 vị: Cao Sơn, Ngô Sơn, Ngụy Sơn.
  • Làng Sơn Kịch thờ 4 vị: Độc Sơn, Chi Sơn, Lỗ Sơn, Tràng Sơn.
  • Làng Yên Mỹ thờ 5 vị: Hoảng Sơn, Khoảng Sơn, Độc Sơn, Vi Sơn, Tú Sơn.
  • Làng Đạo Nội (tổng Nhân Mục) thờ 3 vị: Đột Ngột Cao Sơn, Viễn Sơn, Ất Sơn.
  • Làng Bàn Giản thờ 3 vị: Lễ Sơn, Chòn Sơn, Súi Sơn.
  • Làng Bồ Tỉnh thờ 5 vị: Đạo Sơn, Đảm Sơn, Lũng Sơn, Ngoa Sơn, Miên Sơn.
  • Làng Bản Lập thờ 4 vị: Cầm Sơn, Kỳ Sơn, U Sơn, Nái Sơn.

Tháp Bình Sơn (thời Trần)

Như vậy, có ít nhất 22 làng, thôn thờ tới 79 vị thần núi, thần sông.

Cùng với việc thờ cúng các thần thiên nhiên, ở một vài nơi còn tồn tại việc thờ cúng các vật tính giao, một loại hình tín ngưỡng cũng rất cổ. Xã Đức Bác xưa thờ một vị thần nữ, trước thờ trong một ngôi đền nhỏ dựng trên gò Ám Ảnh, sau được thay thế bằng một ngôi đình lớn. Đêm mồng 1 tháng 2 âm lịch, tế thánh xong có tục “cầu tế nõ nường” (còn gọi là tục múa âm dương hòa hợp) gồm 8 nam, 8 nữ chưa vợ chưa chồng, ăn mặc chỉnh tề, đứng hai bên hương án. Chủ tế đứng giữa điều khiển nghi lễ và mật khẩn xong, bên nam cầm sinh thực khí nam bằng gỗ vuông, bên nữ cầm hình sinh thực khí nữ bằng mo cau; bên nam hát trước:

  • Cái sự làm sao?

Bên nữ hát đáp:

  • Cái sự làm vầy!

Bên nam lấy cây vuông chọc vào lỗ thủng khoét trong mo cau, mô phỏng động tác tính giao; vừa chọc vừa hát:

  • Cái sự thế này là cái sự làm sao?

Tất cả vừa múa vừa đi vòng tròn, tiến lên lùi xuống trong một thời gian nhất định.

Tế lễ xong, có lệ tắt đèn nến, trai gái được tự do “đi lại” với nhau! Vì sao có lệ ấy? Mục đích là cầu cho vạn sự sinh sôi nảy nở, kể cả con người cũng như con của, để bộ tộc, bộ lạc phát triển con đàn cháu đống, công xã ngày càng thịnh vượng, mạnh hùng.

Nghi lễ cầu đinh này về sau phát triển ở các nơi khác với nhiều biểu hiện và tên gọi khác nhau, như: Múa mo, múa bông-gươm, cướp bông-gươm, cướp kén cướp con, cướp dải cầu đinh, tung bỏng-cướp dò ...

Cũng với ý nghĩa cầu đinh cho “dân khang, vật thịnh”, người ta không làm lễ mật trong hậu cung đình mà tổ chức thành trò diễn công khai ở sân đình, dưới “thanh thiên bạch nhật”, trước mắt “bàn dân thiên hạ” cùng xem.

Làng Thạc Trục (nay thuộc thị trấn Xuân Hòa) từ xa xưa đã có tục “leo cầu”, “bắt chạch trong chum” diễn ra hàng năm vào ngày hội làng, mồng 10 tháng giêng âm lịch.

Tài liệu “Lược ghi phong tục tập quán dân chúng tỉnh Vĩnh Yên” do Tuần Phủ Vĩnh Yên chủ biên năm 1936, ghi:

“Từ ngày mồng 5 tháng giêng âm lịch trở đi, những người muộn con (kể cả năm lẫn nữ) đem vàng hương đến lễ thánh để xin dự hội; nhưng làng chỉ nhận mỗi năm 2 người đàn ông và hai người đàn bà, những người đem lễ vật đến sớm nhất.

Người ta đặt trên sân đình một thân cây mít, cong vồng lên ở đoạn giữa, dài hai thước, rộng một tấc, tượng trưng cho cái đầu. Mõi năm, chỉ có một nam và một nữ được leo cầu. Bên nam có hai người đàn ông khác đi theo; bên nữ cũng có hai người đàn bà khác đi theo; mỗi bên phải có một người biết hát ví. Trên đoạn đường đi trong sân đình, một người bên nam hát một câu gợi tình, một người bên nữ hát đáp lại. Đến đầu cầu, đôi nam nữ đến cầu tự vin vai những người đi theo để bước lên cầu, ở hai đầu đối diện nhau. Họ vừa đi vừa hát ví đối đáp nhau. Đến giữa cầu, người đần ông ôm và bóp vú người đàn bà, rồi tiếp tục đi cho hết cầu; nhưng nếu một trong hai người ngã thì họ phải làm lại. Cặp năm nữ ấy phải leo cầu như vậy ba lẫn mới thôi.

Xong cặp leo cầu đến cặp bắt chạch. Người ta đặt trên sân đình một cái chum nước, trong thả một con chạch. Cặp nam nữ được nhận cho bắt chạch phải làm lễ trước bàn thờ Thành hoàng. Tiếp theo, người đàn bà hát ví một vài câu. Người đàn ông tiến lại gần người đàn bà, một tay quàng vai, một tay sờ vú người đàn bà, cả hai cùng đi đến cái chum. Tới chum, người đàn ông giữ nguyên tư thế cũ còn người đàn bà cúi xuống lấy tay khoắng nước để tìm bắt chạch. Con chạch thì bé và trơn tuột, ít nhất một tiếng đồng mới bắt được nó.

Sau hai trò trên, mỗi cặp được làng đãi một mâm cơm và một hào tiền thưởng. Hai người của từng đôi (trước đấy không quen biết nhau) ăn cơm chung mâm và uống rượu chung chén. Phần cỗ còn lại và số tiền thì cho người đàn bà.

Nhiều người thường đến xin làm các trò trên, họ tin rằng làm như vậy mới có thể có con được. Các bô lão trong làng kể rằng tục này có từ lâu đời lắm, nếu bỏ đi thì làng sẽ động.”

Những hiểu biết kể trên cho ta thấy rằng nền văn hóa thời tiền sử và sơ sử của huyện Lập Thạch rất phong phú, đa dạng. Hy vọng vùng đất tối cổ này còn dành cho các nhà nghiên cứu nhiều điều mới lạ, kỳ thú, hấp dẫn hơn nữa.

Nguyễn Xuân Lân