Quick browsing

Home > Nghệ thuật > Kiến trúc > Đền Xưa

Xua Temple

Đền Xưa

Đông Tỉnh NCCong

Thursday 30 July 2015

Đền Xưa là ngôi đền thờ Tuệ Tĩnh ở chính quê hương ngài. Xếp hạng: Di tích lịch sử văn hóa quốc gia (năm 1974). Địa chỉ: thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Tọa độ: 20°58’16’’N 106°14’49’’E; cách trung tâm Hà Nội khoảng 52km về hướng đông.

Bản đồ trực tuyến

Du khách từ Hà Nội qua thị trấn Như Quỳnh nếu đi thẳng theo tỉnh lộ TL388 sẽ rút ngắn thêm được 6km, trong khi cứ theo quốc lộ QL5 thì phải quặt vào đền bằng một trong vài lối rẽ trái ở quãng đường giữa Văn miếu Mao Điền và Khu công nghiệp Đại An, TP Hải Dương. Trên bản đồ, đền Xưa khá dễ tìm vì tọa lạc ở ngay ven TL388, cách chợ Phú Lộc 500m và cách đền Bia 1,1km, gần bờ tây (hữu ngạn) sông Thái Bình.

Giới thiệu

Cùng trong huyện Cẩm Giàng có hai ngôi đền thờ Tuệ Tĩnh[1] là đền Xưa ở làng Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ và đền Bia ở thôn Văn Thai, xã Cẩm Văn. Hai ngôi đền tuy ở địa phận hai xã khác nhau nhưng đường vòng cũng chỉ dài hơn 1km, còn đường chim bay chừng 700m, bởi vì quả thật xưa kia cả đôi đều thuộc đất Nghĩa Phú.

Theo bản khai sự tích Thành hoàng làng Nghĩa Phú trong báo cáo lên triều đình năm 1938 của lý trưởng, chánh hội xã Nghĩa Phú, tổng Văn Thai, huyện Cẩm Giàng thì tấm bia dựng ở đền Bia trước kia nằm tại nơi giáp giới giữa hai làng Văn Thai và Nghĩa Phú. Còn văn bia “Thực sự bi ký” —hiện ở trong khuôn viên nhà thờ dòng họ Nguyễn tại thôn Nghĩa Phú và do chính tiến sỹ Nguyễn Danh Nho soạn— cho biết ông đi sứ năm 1690, về nước năm 1692. Sách “Quốc sử di biên” của tiến sỹ Phan Thúc Trực chép sự kiện đền Bia hiển thánh lần thứ nhất năm 1846 cũng ghi vị trí văn bia này là mốc giới giữa hai thôn nói trên.

Như vậy có thể nghĩ rằng cách đây 321 năm và gần đây nhất là năm 1938, đất đền Bia vốn thuộc thôn Nghĩa Phú. Một thôn mà có hai ngôi đền cùng thờ Tuệ Tĩnh thì quả là quý hiếm và do đó phần di sản sẽ được mô tả chung dưới đây.

Di sản

Trong đền Bia và đền Xưa có 8 hoành phi và bản gốc 2 đạo sắc phong cho Tuệ Tĩnh mang niên đại Khải Định 9 (1924, đền Bia) và Bảo Đại 15 (1939, đền Xưa). Đền Xưa còn có một quả chuông đồng được đúc năm Tự Đức 8 (1855) và một cuốn sách in 100 quẻ thẻ viết bằng chữ Hán.

Đền Bia từng phát hành 100 quẻ thẻ, nay còn chừng 40 quẻ đã được số hóa, lưu trong máy tính và in lại. Tại đây treo tới 13 câu đối, trong đó có 1 câu đối chữ Nôm trên cột nhà bia trong hồ nước trước sân. Câu đối 黃 甲 芳 名 騰 北 地 / 聖 師 妙 藥 振 南 邦 (Hoàng giáp phương danh đằng Bắc địa / Thánh sư diệu dược chấn Nam bang) treo trong hậu cung.

Bức hoành phi 先 聖 靈 祠 (“Tiên thánh linh từ”: Đền thiêng thờ tiên thánh) treo tại tiền tế đền Bia, phía trên ban thờ tiến sỹ Nguyễn Danh Nho, người mới được phối thờ sau đợt trùng tu năm 2006. Gian chính trong nhà hậu cung còn có bức hoành phi 太 醫 禪 師 (Thái y thiền sư). Theo truyền ngôn và bản báo cáo năm 1938 thì đây là câu của vua nước Tàu ban tặng Tuệ Tĩnh vì có công chữa bệnh cho hoàng hậu.

Câu đối 名 魁 二 甲 標 陳 監 / 使 命 十 全 醒 北 醫 (Danh khôi nhị giáp tiêu Trần giám/ Sứ mệnh thập toàn tỉnh Bắc y) treo ở đền Xưa[2], theo niên đại ghi tại lạc khoản: 戊 午 年 冬 (Mậu Ngọ niên Đông) thì có lẽ được viết vào mùa đông năm 1918. Dịch nghĩa: Đại khoa đỗ bậc nhị giáp, tên ghi trường Giám nhà Trần / Sứ đoàn hoàn thành nhiệm vụ, thức tỉnh ngành y phương Bắc.

Thượng lương hậu cung ngôi đền này hiện có dòng chữ Hán mang niên đại sớm nhất ghi năm trùng tu đền là Thiệu Trị 6 (1846). Trên bức hoành phi 春 臺 壽 域 (Xuân đài thọ vực) hiện treo ở đền còn có 2 dòng lạc khoản, bên phải ghi “Tự Đức Kỷ Dậu niên cung tiến” (tức năm 1849), bên trái ghi “Khải Định Mậu Ngọ niên trùng tu” (tức 1918).

Sân đền Xưa. Panorama ©2015 NCCong

Kiến trúc

Đền Xưa được xây lại và mở rộng năm 2005, không dựa trên nền cũ nhưng vẫn mang phong cách nghệ thuật kiến trúc của thời Nguyễn. Đền mới quay về hướng tây-bắc, diện tích thuộc loại lớn, tuy không bằng đền Bia. Đền chỉ có một cổng ra vào với bốn trụ biểu. Du khách bước qua cổng sẽ thấy tiền đường ngay trước mặt, hai bên là giếng sen, bình phong thay bằng một tường chắn thấp ở giữa hai cột cờ. Sân không sâu nhưng khá rộng, bên phải có cây cổ thụ, bên trái là hai dãy nhà giải vũ.

Hơi khác đền Bia, tại đây khu đền chính bao gồm các tòa tiền tế và hậu cung nằm song song, ở giữa là một sân nhỏ với hòn non bộ, bên sân có hai gian tả, hữu mạc; tất cả được kết nối với nhau thành hình chữ “Nhật”. Toà tiền tế xây hai tầng tám mái; gồm 5 gian cửa bức bàn, chấn song con tiện, trong chính điện có đặt bài vị và bức tượng thờ bằng gỗ sơn. Hậu cung cũng hai tầng tám mái nhưng thấp và hẹp hơn, gồm ba gian với khám thờ và bức tượng đồng đen đặt ở gian giữa.

Di tích lân cận

Bài và ảnh: Đông Tỉnh NCCong


[1] Tuệ Tĩnh từng đỗ đến bậc Thái học sinh. Hai tác phẩm y học của ngài là: “Nam Dược thần hiệu”, trong đó nghiên cứu 580 vị thuốc Nam và 3873 phương thuốc điều trị 184 loại bệnh; và “Thập tam phương gia giảm” đã khắc in từ trước, đến đời vua Lê Dụ Tông (1717) được khảo đính lại và đổi tên là "Hồng nghĩa giác tư y thư" (lấy tên quê hương tác giả là làng Nghĩa Tư, phủ Thượng Hồng). Những lời ca ngợi công đức ngài hiện diện trên các câu đối, hoành phi, bình phong, trụ biểu, cổng đền, chuông đồng, sắc phong của đền Xưa và đền Bia. Từ đợt đại trùng tu năm 2005 đến nay đã có thêm một số văn bản mới bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm. Các văn bản nói chung đều được khắc, đắp nổi hoặc viết dưới dạng chân phương, khá dễ đọc.
[2] Câu này còn được chép trong sách “Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ” của Ngô Vi Liễn, xuất bản lần đầu năm 1931, lại được đắp ở cột cổng làng Nghĩa Phú, cũng là cổng ngoài của ngôi đền giáp đường giao thông liên huyện từ ngã tư Lai Cách nối với đường 5B (ĐVL).