Trang nhà > Xã hội > Kinh tế > Đi tìm kịch bản cho 6 tháng cuối năm?

Đi tìm kịch bản cho 6 tháng cuối năm?

Thứ Ba 3, Tháng Sáu 2008

Thời báo Kinh tế Sài Gòn mời các chuyên gia kinh tế, gồm các ông Lê Đăng Doanh, Vũ Quang Việt, Trần Ngọc Thơ và Vũ Thành Tự Anh nhận định về tình hình kinh tế hiện nay cũng như dự báo cho thời gian sắp tới.

Quan trọng hơn, bài viết của các chuyên gia tập trung vào những giải pháp mang tính cấp bách cần thực hiện để vượt qua những khó khăn hiện thời.

1. Quyết định giữ ổn định giá các sản phẩm chủ yếu (bao gồm xăng dầu, điện, than, phân bón, xi măng, sắt thép, giá vé máy bay, xe lửa...) đã được coi là biện pháp kiên quyết để kìm tốc độ tăng giá quá cao trong bốn tháng đầu năm 2008. Tổng cục Thống kê công bố tốc độ tăng giá tháng 4 đã chậm lại đôi chút (2,2%) và coi đó là tác động hiệu nghiệm của các liều thuốc kiểm soát lạm phát, trước hết và trực tiếp, là sự can thiệp hành chính nói trên để kìm giá thị trường. Bên cạnh tác động tạm thời này, biện pháp phanh giá như thế cũng đã đem lại một số hệ lụy không mong muốn do làm méo mó các quan hệ giá cả trong một nền kinh tế đã hội nhập và có độ mở lớn về xuất-nhập khẩu đối với thế giới bên ngoài. Sau đây, xin nêu ra một số hiện tượng xuất hiện từ tác động đó:

- Xuất lậu xăng dầu và tái xuất phân bón để hưởng chênh lệch giá, tạo thêm mất cân đối giữa cung-cầu trên thị trường. Việc kìm giá xăng trong nước trong khi không dự báo và càng không kiểm soát được giá dầu thô trên thế giới đã tạo ra gánh nặng bù lỗ lớn hoàn toàn không xác định được. Nếu giá dầu thô thế giới tiếp tục tăng, không rõ khả năng chịu đựng của ngân sách để bù lỗ cho riêng khoản này có thể kéo dài đến bao giờ. Mức chênh lệch giữa giá phân bón nhập khẩu và giá phân bón của Đạm Phú Mỹ đã là 12.500 đồng/ki lô gam so với 8.000 đồng/ki lô gam, bằng 56% so với giá Đạm Phú Mỹ). Hiện tượng xuất lậu than với khối lượng lớn ở Quảng Ninh có nhiều lý do trong đó có chênh lệch giá quá lớn (khoảng 90%) giữa giá than xuất sang cảng Phòng Thành (Trung Quốc) với giá than xuất ở Quảng Ninh.

- Trong khi giá khí đốt không bị kìm và tăng mạnh theo giá quốc tế, nhiều doanh nghiệp chuyển từ sử dụng gas sang dùng điện cho sản xuất (luyện kim), làm căng thẳng thêm sự thiếu hụt điện.

- Hiện tượng đầu cơ, tích trữ trong khâu phân phối liên tục gây ra những cơn sốt lớn, nhỏ về gạo, thép, xi măng. Thay vì đem lại lợi ích cho người tiêu dùng như chính sách kìm giá kỳ vọng, lợi nhuận bất chính lại rơi vào giới đầu cơ trung gian trong khi cả người sản xuất và người tiêu dùng đều bị ức chế. Nguy hiểm hơn là hiện nay, càng gần đến ngày 30-6, càng có nhiều người, từ người phân phối đến người tiêu dùng, với quy mô khác nhau, tham gia vào hoạt động tích trữ, găm hàng, chờ đợi thời điểm sau ngày 30-6-2008.

Từ ngày xóa bỏ bao cấp năm 1989 đến nay mới lại thấy tâm lý lo lắng và tích trữ lan rộng như vậy, mỗi nhà, tùy theo túi tiền và nhu cầu, đều cố gắng tích trữ gạo, sữa, thuốc chữa bệnh, vở tập cho học sinh... với hy vọng mong manh có thể tránh được ít nhiều cơn sốt tăng giá sau ngày 30-6. Nguy hiểm hơn là quy mô đầu cơ đang trở nên phổ biến trong các doanh nghiệp, kể cả một số doanh nghiệp nhà nước tham gia vào khâu phân phối gạo, xi măng... tạo ra sự căng thẳng giả tạo về cung-cầu trên thị trường. Mặc dù lượng ô tô xuất xưởng và nhập khẩu cao nhất từ trước đến nay, song các đại lý ô tô vẫn găm hàng, không bán để chờ giá lên do dự báo thuế sẽ tăng, họ sẽ được lời thêm khi bán ô tô đã găm lại từ trước ngày tăng thuế.

Trong năm 2007, đầu cơ bất động sản và chứng khoán đã rất sôi động do khung luật pháp chưa đầy đủ và không được thực thi nghiêm túc, thông tin thiếu minh bạch. Tình trạng đầu cơ trên lĩnh vực tài chính-tiền tệ còn nghiêm trọng hơn nhiều xét về quy mô. Hàng tỉ đô la Mỹ đã được chuyển vào Việt Nam để hưởng chênh lệch lãi suất tiền gửi ở Việt Nam.

Tình trạng đầu cơ hiện nay là sự nối tiếp và mở rộng xu thế chạy theo lợi ích ngắn hạn và thiếu nỗ lực cần thiết trên những lĩnh vực căn bản của nền kinh tế. Gợi ý ban hành luật chống đầu cơ xem ra ít khả thi khi môi trường thông tin và hiệu lực thi hành luật pháp đang ở mức thấp như hiện nay. Không thể trách người dân hay doanh nghiệp gom hàng hay đầu cơ vì đó là hệ quả của việc ban hành và thực thi chính sách.

Tính dự báo trước rất thấp của chính sách thay đổi giật cục theo kiểu “sáng đúng, chiều sai, ngày mai lại đúng” đã góp phần tạo ra tâm lý đối phó đó trong xã hội và doanh nghiệp.

2. Chắc chắn sau ngày 30-6-2008 không thể và cũng không nên tiếp tục neo giá như ở mức và quy mô hiện nay vì những bất hợp lý và cái giá phải trả để bù giá cho các mặt hàng. Việc nâng giá các mặt hàng đó sẽ diễn ra thế nào, từng bước hay giật cục, hay theo kiểu “thuyền đua thì lái cũng đua” trong khi ngày 30-6 cũng là thời điểm thanh toán các tín dụng thư nhập khẩu với mức độ nhập siêu đã vượt xa ngưỡng an toàn.

Các dự đoán cho thấy nguồn thu ngoại tệ cho đến nay chỉ đủ trang trải không quá 60% mức nhập siêu, phần còn lại đang được tạm thời đắp đổi thông qua tín dụng thương mại. Nếu các nhà đầu tư tài chính nước ngoài, bao gồm cả các quỹ đầu cơ (hedge fund), rút ngoại tệ ra khỏi Việt Nam thì sự mất cân đối của cán cân thanh toán quốc tế càng trở nên căng thẳng. Tỷ giá sẽ bị tác động và qua tỷ giá, sẽ tác động đến toàn bộ nền kinh tế, trước hết là xuất-nhập khẩu và đời sống nhân dân.

Nếu chứng khoán và bất động sản tiếp tục giảm sút đến mức giá trị tài sản thế chấp không đủ để bù đắp tín dụng thì toàn bộ gánh nặng nợ nần sẽ đè lên hệ thống ngân hàng thương mại. Toàn bộ những vấn đề đó cần được nhận thức và phân tích đầy đủ, đưa lên bàn nghị sự và có những biện pháp cải cách mạnh mẽ về cơ cấu và cơ chế cần thiết để xử lý tình hình. Các phương hướng đề ra cho đến nay chưa đủ cụ thể để có thể giải quyết các vấn đề phức tạp và nghiêm trọng kể trên. Điều quan trọng là cần công khai minh bạch và thông báo những tư tưởng chính sách nhất quán và dự báo được, tránh tình trạng thay đổi đột ngột hay đảo chiều như vừa qua.

Bắt đầu ngay từ bây giờ với các biện pháp cần thiết và đủ mạnh chắc chắn không phải là quá sớm.

Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn