Trang nhà > Thủ đô > Đình đền > Địa đạo huyền bí dưới đình Quán La

Địa đạo huyền bí dưới đình Quán La

Thứ Sáu 30, Tháng Tư 2010

Những viên gạch trong đình Quán La được cho là của thời Lý

Cách Hồ Tây 1 km, ngôi đình cổ xây trên gò Quán La (p. Xuân La, q. Tây Hồ) đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 1984 căn cứ vào 18 đạo sắc phong, mà sắc phong sớm nhất còn giữ được vào năm Thịnh Đức (1653).

Năm 1995, khi trùng tu đình, đã phát hiện rất nhiều viên gạch lớn có niên đại từ thời Lý, với nhiều hình thù, có viên chạm trổ rồng, có viên khắc long mã.

Nhưng rồi các nhà sử học tìm được một số tư liệu cho rằng, ngôi đình có từ trước thời Lý rất lâu. Theo đó, vùng đất thuộc làng Quán La (khi đó có tên Già La) vốn khá cao, lại bằng phẳng, có con sông Già La, là một nhánh của sông Nhĩ Hà chảy quanh. Đến thời Lý, làng đổi tên thành Thiên Phù và thời Trần đổi thành Thiên Hán. Giữa vùng đất bằng phẳng ấy, nổi lên 7 gò đất cạnh nhau, gọi là Thất Tinh, giống như chòm sao Bắc Đẩu.

Hiện chỉ còn lại 3 gò đất trong quần thể Thất Tinh. Trên gò Thất Diệu có đình Quán La, mặt gò cao bằng ngôi nhà 2 tầng ở xung quanh. Gò đất thoai thoải, rộng chừng 1000m2, với mỗi cạnh dài hơn 30m. Trên một gò khác có chùa Khai Nguyên và ở gò kia có miếu thờ các kỹ nữ Chiêm Thành. 3 gò đất này đều nằm sát cạnh nhau, cách vài chục bước chân.

Theo các cụ già trong làng, hệ thống gò Thất Tinh ở Quán La giống với đàn Thất Tinh cầu phong. Cứ đến ngày 14-4 âm lịch, dân làng lại tổ chức lễ cầu mưa cầu mát tại đình Quán La.

Trong sách Việt điện u linh, ở thế kỷ 14, Lý Tế Xuyên có ghi chép rất rõ: Vào khoảng niên hiệu Khai Nguyên đời Đường, thứ sử Quảng Châu là Lư Hoán làm đô hộ Giao Châu, đóng tại thôn An Diễn, giữa hai huyện Long Đỗ và Từ Liên. Một lần, Lư Hoán ngao du Già La, thấy cảnh đẹp, có gò đống, sông chảy quanh, nên lập phủ huyện, dựng đền thờ vị thần Huyền nguyên đế quân, dựng quán lấy tên Khai Nguyên trên gò Thất Diệu (chính là gò đất có đình Quán La). Cái tên Khai Nguyên có ý biểu dương công đức nhà Đường. Sau này, họ Lư đổi tên làng Già La thành làng Khai Nguyên và gọi quán dựng trên gò Thất Diệu là quán Già La. Các vua nhà Lý thường du ngoạn đến quán Già La, thấy dưới chân núi có hang, tuy không to lắm nhưng sâu và dài, liền sai xây bậc để có thể lên xuống và gọi là động Thông Thiên.

Khoảng niên hiệu Thiệu Phong, đời Trần Dụ Tông, thế kỷ 14, sư Văn Thao trùng tu lại quán, đổi làm chùa, gọi là chùa An Dưỡng. Tuy nhiên, nhà chùa hay bị quấy phá, nên nhà sư dời về làng Bộ Đầu, vì thế chùa lại bỏ không. Nhân dân trong làng đã tiếp quản, trùng tu biến thành đền thờ phụng Sơn Thần. Thời Tiền Lê, theo tên quán, đổi thôn Khai Nguyên thành Già La. Đến thời Hậu Lê thì gọi là Quán La.

Trong ngôi chùa Khai Nguyên cạnh đình Quán La vẫn còn pho tượng cổ rất đẹp. Theo sư trụ trì thì là tượng Đường Minh Hoàng. Cũng vì dưới ngôi chùa này có động, nên có một thời gian gọi chùa là chùa Hang. Dân chúng thì đồn đại hang động là nơi người Tàu để của. Nhưng có lẽ đó là một ngôi mộ Hán.

Loại mộ này có từ những năm đầu thời kỳ Bắc thuộc. Căn phòng chính, lớn nhất, nằm ở trung tâm là nơi đặt quan tài người chết. Những phòng khác thường chứa đồ vật như dao, kiếm, cung nỏ, áo giáp và các loại đồ dùng hàng ngày của người sống. Tỳ thiếp, người hầu có bị chốn sống theo hay không thì chưa rõ. Tuy nhiên, trong các ngôi mộ Hán kiểu này khai quật ở bên Trung Quốc thường có rất nhiều cổ vật, châu báu. Sau khi xây xong mộ, đặt người chết vào trong, ngôi mộ được bịt kín lại. Phải đào những cái hố lớn mới đủ đất đắp mộ. Khi đắp xong, ngôi mộ to như cái gò.

Địa đạo lớn dưới móng đình Quán La có thể
là một vòm cuốn của ngôi mộ này. Từ vòm cuốn chính, có ngách phụ ở hai bên tả và hữu, chứng tỏ, ngôi mộ này có ít nhất 2 vòm cuốn nữa ở hai bên. Những ngách phụ này giống như cánh cửa và lối đi dẫn đến căn phòng khác trong một toà nhà.

Ngôi mộ hiện trưng bày ở Bảo tàng Hải Dương (ảnh) cũng có 3 vòm cuốn, là một ngôi mộ Hán khổng lồ. Hoa văn ở hai mặt của những viên gạch có tác dụng như khe rãnh, tạo ma sát, khiến các viên gạch tự liên kết với nhau mà ko cần vữa.

Cách đây 40 năm, cách đình Quán La 200m, dân làng khi đào mương, đã phát hiện một đoạn địa đạo, xây vòm cuốn bằng loại gạch y như trên. Khi đó, mọi người đều nghĩ đoạn địa đạo này nối thông với địa đạo ở đình Quán La. Tuy nhiên, chiến tranh loạn lạc, nên chẳng ai để ý nữa. Giờ nhà cửa xây kín, cánh đồng biến mất, địa đạo cũng chìm sâu dưới lòng đất hoặc tan nát rồi.

Tóm tắt theo Phạm Ngọc Dương (VOVN)