Trang nhà > Văn chương > Cổ học > Đồ Sơn bát vịnh

Hồ Xuân Hương

Đồ Sơn bát vịnh

Thứ Bảy 28, Tháng Tư 2007

Xem thêm Thơ nôm Hồ Xuân Hương

Tám bài thơ sau đây có chứng cớ tác giả là Hồ Xuân Hương đều vịnh cảnh chùa, được Trần Văn Giáp tìm thấy chép trong Phượng Sơn từ chí lược, GS Cao Huy Du cũng tìm thấy trong thư viện của Cao Xuân Dục. Ngoài ra, bài thơ đề Trấn Quốc Tự tìm thấy trong tủ sách gia đình Trần Văn Hào ở Quần Phương, Hải Hậu tỉnh Nam Hà và Thư viện Quốc gia, Thơ Hồ Xuân Hương do GS Hoàng Xuân Hãn tìm được tại kho sách Hán Nôm, Thư viện Quốc gia Paris... cho ta thấy Hồ Xuân Hương là một người "học rộng và thuần thục" đúng như lời Tốn Phong viết trong Lưu Hương Ký, bà tinh thông Tam Giáo (Phật, Nho, Lão), nhất là về Phật Giáo bà có một kiến thức khá rộng và uyên bác.

Tám bài thơ vịnh Ðồ Sơn

(Phạm Trọng Chánh dịch)

Bài 1- Hóng mát Ðông Sơn

Ðông Ðồ Sơn núi gọi Ðông Sơn,

Yên ngựa hình non xa thoáng trông,

Cổ tự, cổng thiền rừng thấp thoáng,

Hang Giang cửa động đá mênh mông.

Thả thuyền khách hát trong trăng sáng

Nằm khểnh ai say giữa thạch bàn,

Non núi nào hay dâu biển mải,

Bên trời sừng sững chắn cuồng phong.

Bài 2 - Qua chơi giếng rồng

Dưới núi Ngọc Sơn dòng nước trong,

Thấm hòa xuyên đá rót trăm sông,

Hồn như nước ngọc lên ngời sáng,

Hơn thể rãi rồng tỏa ngát hương,

Róc rách tưới lên ngàn gốc đỏ

Chan hòa dòng thắm vạn đồng xanh,

Há riêng giếng nước cho thôn ấp,

Chu cấp Vương Minh, phước báu ban.

Bài 3 - Phật động thâm u

Tương truyền dấu Phật tại Linh Sơn,

Nay được sơn ông chỉ đỉnh non,

Cửa động nông sâu cây cỏ dại,

Chữ mờ phai nhạt dấu rêu mòn.

Ngoài hồ đèn thả, cầu soi bóng,

Bến nước khe trong, chẳng cạn dòng,

Sắc tức thị không, không thị sắc

Thiền gia hiểu thế việc trần gian.

Bài 4 - Lên chơi Ðông Sơn tự

Hai bài

A.

Ðông Sơn cảnh chiếm một hồ riêng,

Uyên báu bay về, khói pháp chen,

Ðá núi điểm đầu, mưa phất xuống,

Ngàn hoa nở rộ, gió tung lên,

Ðế Bà hương hỏa thơm bên xóm,

Trịnh Chúa xe qua vết cũ còn,

Cứu độ bè từ qua bể khổ,

Chim âu ngủ đứng bến ngư thôn.

B.

Cò trắng qua sông nước nối trời,

Chùa thiền một cảnh khói mây trôi,

Nữ Vu trị thủy không đông hạ,

Ngư phủ thuyền qua sau trước bơi.

Ngộ đạo Cao tăng mang gậy xuống,

Hiện thân Phật Tổ đến đây rồi.

Một mình lên núi Ðông Sơn dạo,

Thi hứng đầy thuyền trăng sáng soi.

Bài 5 - Lên núi nhớ xưa

Tháp cũ nền xưa cỏ dại tràn,

Dục Vương xa vắng cảnh hoang tàn,

Ngàn cân bảo khí reo bên nước,

Chín bậc phù đồ gạch ngói tan,

Tiều tử tựa rìu bên đá ngủ,

Mục đồng xua nghé xuống đồi hoang,

Lên cao muốn hỏi sơn tăng đạo,

Chuông vắng đâu đây vọng cuối ngàn.

Bài 6 - Bến đá xem đánh cá

Gió im sóng lặng dạo bên sông,

Ngắm ngắm thuyền chài giang giăng hàng,

Tay kiếm hang rồng sông mở lối,

Lưới quăng chợ hến sóng cờ dâng,

Bà buôn xách giỏ vin khoan cuối,

Ông lái gõ chèo chén rượu nâng,

Hoặc lúc quẻ ly, khi quẻ hoán,

Thánh nhân định vật, ý người trần.

Bài 7 - Thiền định ở chùa Cốc

Thần bào quỹ đẽo tự bao niên,

Hình thể an bài sẵn tự nhiên,

Mái chẳng ngói tranh, thềm chẳng trát,

Vách như tường lát, đá như sườn.

Ðàn dơi cúng trái dài sen quý,

Ong mật dâng hoa trước án hương.

Sóng vỗ, ca tiều, chim chóc hót,

Sư già chợt tỉnh giấc miên mang.

Bài 8 - Dạo chùa Khánh Minh cảm hứng

Phạn Vương đi khỏi bao giờ lại,

Còn để Kỳ Viên cỏ mọc đầy,

Khánh đá có duyên dời viên khác,

Chuông không giá móc vất bên đài,

Ngói tan, xà mục chim làm tổ,

Bệ vỡ, bia mòn rêu biếc vùi,

Giá được ngàn tay như Phật Tổ,

Hư không một tối dựng lâu đài.

Nguyên tác phiên âm Hán-Việt

Ðồ Sơn bát vịnh

1 - Ðông Sơn thừa lương

Ðồ Sơn chi đông viết Ðông Sơn,

Dao vọng sơn hình tự mã yên,

Cổ tự môn tòng lâm lộc xuất,

Giang phi động tại thạch bình gian,

Phiếm châu hữu khách ca minh nguyệt,

Cao ngận hà nhân túy thạch bàn,

Sơn đỉnh bất tri tang hải biến,

Ngật nhiên chi trụ chướng cuồng lan.

2 - Long Tỉnh quá trạc

Ngọc sơn sơn hạ tiểu khê biên,

Xuyên thạch quyên quyên chú bách xuyên,

Nhuận hoạt hồn như hòa ngọc dịch,

Thanh hương sai khả thắng long diên,

Dư ba tư tưởng thiên chu thụ,

Lưu trạch xuyên xuyên vạn lục điền,

Tinh diệp khởi ưng tư nhất ấp,

Vương Minh dụng cấp phúc di thiên.

3 - Phật động tầm u

Truyền văn Phật tích tại Linh san,

Cận đắc sơn ông chỉ thử gian,

Ðộng khẩu thiển thâm hoang thảo kính

Tự ngân nồng đậm ấn đài ban,

Phóng đăng hồ ngoại kiều do tại,

Cấp thủy biên khê tỉnh bất can,

Sắc tức thị không không thị sắc,

Thiền gia đương tác như thị quan.

4 - Ðăng Ðông Sơn tự kiến ký

Nhị thủ

A.

Ðông sơn cảnh chiếm nhất hồ thiên,

Bảo áp phi lai pháp giới yên,

Nham thạch điểm đầu hoàn vũ hạ,

Thiên hoa mãn thụ lộng phong tiền,

Ðế Bà hương hỏa phương lân cận,

Trịch Chúa xa luân cựu tích truyền,

Phổ độ hàng từ siêu khổ ải,

Thuần âu than hạ túc ngư thuyền.

B.

Bạch lộ hoành giang thủy tiếp thiên,

Tùng lâm nhất thốc cách vân yên,

Nữ Vu trị vũ vô đông hạ,

Ngư phủ phi điêu hoặc hậu tiền,

Ngộ đạo cao tăng huề tích khứ,

Hiện thân Cổ Phật đáo kim truyền,

Ðăng lâm độc bộ Ðông Sơn thượng,

Thừa hứng lâm lưu nguyệt mãn thuyền.

5 - Tháp sơn hoài cổ

Cổ tháp di khư loạn thảo đôi,

Dục Vương khứ hậu ủy hôi đồi,

Thiên quân bảo khí minh lưu thủy,

Cửu cấp phù đồ hóa kiếp hôi,

Tiều tử ỷ kha miên thạch đắng,

Mục nhi khu độc há sơn ôi,

Ðăng cao dục hội sơn tăng giảng,

Hà xứ chung thanh khụ nhất hồi.

6 - Thạch phố quan ngư

Phong điềm ba tỉnh độ giang mi,

Vọng vọng ngu châu nhất tự nhi,

Thủ thám giao cung giang tác lộ,

Võng thu thần thị tịch vi kỳ,

Huề la bản phụ phan thuyền vĩ,

Khấu tiệp đà sư hệ tửu chi,

Hoặc thủ chư "ly" kiêm thủ "hoán",

Thánh nhân khai vật dữ nhân nghi.

7 - Cốc Tự tham thiền

Thần ngoan quỷ tạc bất tri niên,

Thế thế an bài nhược tự nhiên,

Ốc bất ngõa từ giai bất thế,

Nham như tường bích thạch như diên,

Dạ minh hiến quả liên đài hạ,

Phong tử hàm hoa bảo án tiền,

Ðào hưởng tiều ca hòa điểu ngữ,

Thanh thanh hoán tỉnh lão tăng miên.

8 - Bộ Khánh Minh tự cảm hứng

Phạn Vương quy khứ kỷ thời lai,

Không ủy Kỳ Viên ế thảo lai,

Khánh hữu cơ duyên quy biệt viện,

Chung vô cư nghiệp trệ không giai,

Ðồi lương bại ngõa sào ma tước,

Phá kệ tàn bi yểm lục đài,

An đắc Như Lai Thiên Thủ Phật,

Hư không nhất dạ khởi lâu đài.

Chú thích:

Ðồ Sơn: tên núi và bãi biển nơi nghỉ mát nổi tiếng miền Bắc, nay thuộc Hải Phòng.

Giang phi: tên nữ thần sông.

Ngọc dịch: nước giếng Cổ Loa để rửa ngọc trai.

Long diên: rãi rồng, nước miếng cá voi.

Long diên hương: một hải sản quý, thơm ngon.

Vương Minh: Vương Dương Minh, Tể tướng đời nhà Tống, đề xướng thuyết tri hành hợp nhất.

Linh Sơn: Núi Linh Thứu nơi Phật ở và thuyết pháp.

Sắc Không: thuyết vô ngã, sắc là hình tướng sự vật, là có do nhiều yếu tố hợp lại mà thành, là không vì tự nó không thật có.

Phóng đăng: nơi thả đèn hoa sen nhân lễ Vu Lan.

Ðế Bà: tên cô gái địa phương bị Chúa Trịnh Giang hiếp, có mang, dân làng bắt tội ném xuống biển, hiển thánh, sau được dựng chùa thời gọi là Ðế Bà.

Dục Vương: Vua Asoka, sinh sau Ðức Phật ba trăm năm, thống nhất Ấn Ðộ và dựng chùa kết tập kinh điển và truyền bá Phật Giáo khắp nơi.

Phù đồ: Stuppa, Chùa.

Phạm Trọng Chánh (DĐ)