Home > Sáng tạo > Đổi mới > Đông Kinh Nghĩa Thục - một cống hiến lớn của giới trí thức Việt Nam trong sự (...)

Nguyễn Hải Hoành

Đông Kinh Nghĩa Thục - một cống hiến lớn của giới trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc

Thursday 24 July 2008

Nhân được thông báo nội dung nghị quyết TƯ7 của ĐCSVN đến các nhà khoa học Việt Nam vào chiều 22/7/2008, BBT trân trọng giới thiệu tham luận sau đây của TS Nguyễn Hải Hoành đọc tại Hội thảo kỷ niệm 100 năm phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1907-2007)

Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp cơ bản bình định xong sự kháng cự của phong trào Cần vương. Cuộc đấu tranh vũ trang chống xâm lược của dân tộc ta đi vào thời kỳ thoái trào. Trọng trách tìm kiếm con đường giải phóng đất nước được lịch sử trao cho tầng lớp trí thức, đại diện là các nhà Nho tiên tiến. Đây là một tất nhiên lịch sử, vì hồi ấy giai cấp tư sản cũng như vô sản còn quá nhỏ bé chưa đủ sức bước lên chính trường.

1. Tình hình trí thức Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Giới trí thức nước ta hồi cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX chủ yếu là các nhà Nho, số lượng chưa nhiều. Hầu hết họ đều yêu nước và có thể chia làm hai loại:

1- loại hủ nho chưa nhận ra sự thay đổi của thời cuộc, vẫn bám lấy các giá trị tư tưởng già cỗi, trở thành vật cản trào lưu mới của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc;

2- loại nhà Nho tiên tiến hiểu được sự cần thiết thay đổi tư duy để tiến kịp thời đại, họ trở thành tác nhân thúc đẩy cuộc đấu tranh chống xâm lược.

Loại thứ hai gồm hai bộ phận:

a) Một số người trực tiếp tiếp xúc với phương Tây do đó nảy ra ý tưởng cách tân mạnh bạo ngay từ nửa cuối thế kỷ XIX, như Nguyễn Trường Tộ (1830-71), Bùi Viện (1839-78)… với Nguyễn Trường Tộ là đại diện xuất sắc nhất. Ông sinh trong gia đình công giáo, từng học chữ Hán, tiếng Pháp và theo học trong chủng viện, được cha cố người Pháp kèm cặp, từng theo cha cố đi Singapore, Hong Kong, Ý, Pháp; sau đó viết các kiến nghị cách tân gửi nhà vua. Số trí thức này cực ít và bị dư luận đương thời cho là thân Pháp. Họ không dựa vào dân, chỉ trông chờ sự hưởng ứng của vua quan; vả lại các kiến nghị của họ không được triều đình chấp nhận, do đó họ hầu như không có tác động gì đối với đất nước.

b) Các nhà Nho qua đọc tân thư mà nảy sinh tư tưởng duy tân cứu nước theo gương Nhật Bản, Trung Quốc, như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, các sĩ phu Bắc Hà, Quảng Nam… Họ đã gây dựng được các phong trào yêu nước chống Pháp quy mô lớn hướng theo hệ tư tưởng tư sản, như phong trào Duy Tân ở Trung và Nam kỳ (1903-08), phong trào của Hội Duy Tân – Đông Du của Phan Bội Châu (1904-09), phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1907-13, ĐKNT). Hai cụ Phan là những ngọn cờ dẫn đầu cuộc đấu tranh ấy, nhân cách và tư tưởng tiên tiến của hai cụ có ảnh hưởng rất lớn đối với giới nhà Nho.

2. Đặc điểm hoạt động của ĐKNT

ĐKNT thi hành đường lối duy tân cải cách toàn diện xã hội một cách hòa bình, công khai, hợp pháp, dựa vào dân. Cũng chủ trương duy tân, nhưng Phan Bội Châu theo đường lối đấu tranh vũ trang và dựa vào viện trợ của Nhật. Phan Châu Trinh chủ trương dựa vào Pháp để cải cách hòa bình toàn diện nền chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội nước ta, tiến tới dân giàu nước mạnh; cụ đã mở được 40 trường dân lập kiểu mới ở Quảng Nam (1906). Hai cụ sang Nhật học kinh nghiệm duy tân và có thăm trường Khánh Ứng Nghĩa Thục của Fukuzawa, rất tán thưởng mô hình này. Năm 1906, Phan Bội Châu gặp nhóm sĩ phu Bắc Hà và mạnh mẽ ủng hộ ý tưởng thành lập một trường học theo mô hình đó. Phan Châu Trinh cũng tán thành việc mở trường ĐKNT. Như vậy nhóm sĩ phu ĐKNT được cả hai cụ Phan ủng hộ, điều đó chứng tỏ đường lối của họ hợp thời cuộc, hợp với các trí tuệ lớn của dân tộc.

Nhóm ĐKNT tiếp thu các tư tưởng tiên tiến của hai cụ Phan nhưng không theo chủ trương bạo động và dựa vào Nhật của Phan Bội Châu hoặc chủ trương cải cách dựa vào Pháp của Phan Châu Trinh, mà chỉ dựa vào nhân dân (tuy nhóm này tích cực tham gia hoạt động Đông Du và mời Phan Châu Trinh ra Bắc diễn giảng cho ĐKNT). Điều đó cho thấy tính tư duy độc lập và sự sáng suốt của các sĩ phu Bắc Hà.

Có được sự lựa chọn đó là do họ hiểu được vai trò quyết định của nhân dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Quốc dân độc bản (QDĐB), sách giáo khoa chính của ĐKNT viết: “Nước làm sao có thể tự mạnh hay yếu được ! Nước mạnh hay yếu là do dân. Chưa hề có dân yếu mà nước mạnh. Muốn nước được bình trị mà mong ở vua hiền tướng giỏi thì không bằng mong ở dân mạnh. Dân mạnh thì nước yếu có thể chuyển thành mạnh và mạnh lâu dài”. Quan điểm này ngày ấy rất tiến bộ, vì phần lớn các lãnh tụ Cần vương hoặc sĩ phu như Nguyễn Trường Tộ đều trông đợi ở triều đình mà chưa phát động nhân dân đứng lên theo mình đấu tranh với thực dân Pháp.

Các yếu nhân ĐKNT cũng nhận thức được một sự thật là dân ta chưa được thức tỉnh, chưa hiểu mình có nghĩa vụ chống xâm lược, vì thế các cuộc đấu tranh chống Pháp đều chưa được toàn dân tham gia. QDĐB viết: “Dân nước ta không có quyền chính trị. Dân ta không biết nước là gì, nghe ai bàn việc nước thì bịt tai bỏ chạy. Than ôi, lo không gì lo hơn mất nước. Ta chưa hề biết đoàn kết mọi người trong nước để giúp nhau chống lại bọn lăng nhục ta. Chủ quyền nước ta mất hết mà dân ta cứ ngủ say hay sao?... Lòng yêu nước của ta để ở đâu? … Đã làm người dân tức là có trách nhiệm bảo vệ nước, ai ai cũng phải cầm súng chống giặc !” Việt Nam vong quốc nô phú viết: “Than ôi! Kẻ làm mất nước Việt chính là người Việt. Ôi! Giả thử dân Việt Nam tự yêu nước mình thì ta đủ sức phục thù …”

Từ nhận thức đó, nhóm ĐKNT chủ trương trước hết phải thức tỉnh dân chúng, trau dồi cho họ lòng yêu nước, tự cường và các kiến thức cần thiết nhất về văn hóa, chính trị, khoa học, nghĩa là trước hết phải nâng cao dân trí, mở mang đất nước trên mọi mặt tức nhằm mục tiêu “hóa dân cường quốc” theo gương nước Nhật, cuối cùng mới tiến đến lật đổ ách cai trị của thực dân, phong kiến. Với quan điểm hoàn toàn dựa vào dân, họ sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục – trường tư thục vì nghĩa (vì dân, không vì kiếm lợi) tại Đông Kinh (tên thành Thăng Long thời nhà Hồ). Chủ trương này hợp với quan điểm “khai hóa dân bản xứ” của Pháp hồi ấy, cho nên chúng đã cho phép mở trường ĐKNT, nhờ đó nhà trường được hoạt động công khai hợp pháp, và điều kiện thuận lợi này đã giúp ĐKNT có được ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài trong dân chúng.

Để thu hút dân đi học, trường không thu học phí; tài liệu giảng dạy tuyên truyền phát không cho học viên, thậm chí còn cung cấp chỗ ăn ở cho các học viên quá nghèo. Già trẻ gái trai bất cứ ai muốn học đều được. Trường dạy các môn: quốc ngữ, chữ Hán, tiếng Pháp, các kiến thức tối thiểu cho người công dân về mọi mặt văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật, kinh tế, chính trị, nhằm đào tạo những công dân hiểu biết về quyền lợi và nghĩa vụ của mình đối với Tổ quốc. ĐKNT sử dụng các hình thức hoạt động có hiệu quả lớn trong việc truyền bá tư tưởng, như in ấn xuất bản phát hành sách và tài liệu giảng dạy tuyên truyền, tổ chức diễn thuyết, bình văn thơ, đọc báo, có cơ quan ngôn luận là tờ Đăng Cổ Tùng báo, mở thư viện, đặt hòm thư xin ý kiến dân. Không chỉ in sách cho học viên, ĐKNT còn bán sách ra ngoài với giá vốn; như Quốc dân độc bản in đi in lại hàng vạn bản, bán khắp nước mà vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu. Rõ ràng, đây là một trường học với các nội dung và hình thức hoạt động chưa từng có trong lịch sử Việt Nam, đáp ứng mong mỏi đổi mới của nhân dân., Tính chất mới lạ và hoạt động công khai của ĐKNT làm cho nó có sức cuốn hút cực lớn.

Trường khai giảng được vài tháng đã có ngót nghìn học viên và tăng dần; theo Giám học Nguyễn Quyền, trong 9 tháng đã có cả thảy 8000 người theo học. ĐKNT được dân ủng hộ bằng cách ghi tên học và góp tiền; có lúc tiền giúp nhiều tới mức thu không xuể. Nhiều nhà trí thức cựu học, tân học và quan lại tham gia hoạt động của trường. Sĩ phu Hà Đông, Bắc Ninh, Thái Bình hưởng ứng tự động lập các phân hiệu ĐKNT. Phong trào Nghĩa Thục lan ra khắp Bắc kỳ, Trung kỳ; không ở đâu người dân không biết cái tên ĐKNT. Giám học Nguyễn Quyền phấn khởi nói sẽ tiến tới thành lập ở mỗi kỳ một đại học đường như ĐKNT, tiến tới mỗi tỉnh mỗi huyện cũng có một ĐKNT. Mấy câu thơ: “Trường Nghĩa Thục đứng đầu dạy dỗ/ Khắp ba mươi sáu phố Hà thành/ Gái trai nô nức học hành/ Giáo sư tám lớp, học sinh non ngàn.” hoặc “Buổi diễn thuyết người đông như hội/ Kỳ bình văn khách tới như mưa” cho thấy ĐKNT đã gây dựng được một cao trào quần chúng say sưa học tập và đổi mới đất nước với quy mô chưa từng có! Các sinh hoạt công cộng đó dần dần mang màu sắc chính trị. Có buổi diễn thuyết bị cảnh binh Pháp giải tán, diễn giả bị chúng thẩm vấn.

Hoạt động công khai của ĐKNT là giảng dạy kiến thức mới, hô hào yêu nước, đả phá nền cựu học khoa hoạn và lối sống cũ, đề xướng tân học và lối sống mới, chấn hưng kinh tế. Các sĩ phu rủ nhau lập hội buôn, cửa hiệu, mở đồn điền, khai mỏ …; phong trào này từ Hà Nội lan ra khắp nước. Mặt khác, một số yếu nhân ĐKNT bí mật tổ chức chế tạo vũ khí, tập quân sự, đưa người đi TQ học làm cách mạng, liên lạc với các cuộc khởi nghĩa Hoàng Hoa Thám, trực tiếp tham gia vụ Hà thành đầu độc

Mọi hoạt động của ĐKNT đều có nội dung khêu gợi và giáo dục lòng yêu nước. Hội quán ĐKNT treo một bản đồ Việt Nam lớn chưa từng thấy nhằm kích động trực quan tình yêu Tổ quốc. Không tài liệu giảng dạy, bài thơ bài ca nào không nói tới yêu nước. Văn thơ của các chí sĩ yêu nước được dùng để giảng dạy và bình phẩm. Hải ngoại Huyết thư của Phan Bội Châu với nội dung kêu gọi chống Pháp được ĐKNT dịch ra tiếng Việt dưới hình thức thơ dễ nhớ.

Các tài liệu biên soạn đều có nội dung tiến bộ. Như QDĐB giới thiệu cho dân ta biết các khái niệm độc lập, dân chủ tự do, chính thể tiên tiến trên thế giới, khái niệm “quan là đầy tớ của dân”, “dân chỉ xem vua là đại biểu … dân là gốc của nước”... ĐKNT đề cao việc giáo dục quốc dân. QDĐB viết: “Giáo dục quốc dân là bồi dưỡng cho quốc dân lòng trung nghĩa, quả cảm … là làm cho dân biết vị trí của họ trong xã hội nước chỗ nào, chức phận ra sao và làm thế nào để gây ý thức ái quốc ái quần. Một nước không có giáo dục quốc dân thì dân u mê, không biết quốc gia, chính trị là gì”. Sách còn bàn về hệ thống chính trị, thuế khóa, giáo dục, quân dịch, pháp luật, khoa học kỹ thuật, giao thông, thông tin bưu điện, quản lý hành chính, kinh tế, tài chính tiền tệ, sản xuất công nghiệp của các nước văn minh. Sách kêu gọi mở cửa, đổi mới đất nước: nước ta “khai phá sớm mà tiến bộ chậm thế này… Dân ta nên cho tiến bộ chậm là nhục … Không thể như trăm năm trước nữa, cứ đóng cửa mà trị dân… Hãy làm cho nước ta ngày càng văn minh !” “Nhà đại tư bản cũng có ích cho người nghèo”…

Lần đầu tiên trong lịch sử, người Việt Nam được biết những điều mới mẻ ấy, qua đó họ nóng lòng muốn mở mang đất nước, theo kịp thế giới hiện đại. Rõ ràng, chỉ tầng lớp trí thức mới có thể tiếp thu và truyền đạt lại cho dân các kiến thức tối cần thiết như vậy nhằm chuẩn bị về tư tưởng cho các phong trào cách mạng sau này.

Nước Pháp là một trung tâm văn minh phương Tây, song thực dân Pháp không muốn dân ta biết về các tiến bộ xã hội, kinh tế, chính trị, KHKT và trào lưu dân chủ tự do của phương Tây. Những kiến thức ấy được các nhà duy tân Nhật Bản, TQ truyền bá đến ta qua luồng tân thư chữ Hán, và đem lại một gợi ý quan trọng: nếu biết đổi mới mọi mặt thì các nước phương Đông lạc hậu có thể tiến kịp phương Tây. Đọc các tài liệu ĐKNT biên soạn, ta không khỏi giật mình trước ý tưởng cách tân mạnh dạn của tiền nhân. Đáng chú ý là phần lớn họ mới dưới 40 tuổi (già nhất: Lương Văn Can 53 tuổi; trẻ nhất: Dương Bá Trạc 23) và chưa ai ra nước ngoài trực tiếp tiếp xúc với văn minh phương Tây ngoài Nguyễn Văn Vĩnh; họ chịu ảnh hưởng lớn của tư tưởng duy tân Nhật Bản, TQ. Đây là một đặc điểm rất Việt Nam: mỗi khi cần thay đổi lớn, ta đều tham khảo kinh nghiệm của các nước “đồng văn đồng chủng”.

ĐKNT ra đời mới được mấy tháng, chính quyền Pháp đã lo thấp thỏm khi thấy nhà trường tạo ra một bầu không khí sinh hoạt sôi nổi ở Hà thành. Chúng vội vã mở trường “Tân Quy” mô phỏng cách tổ chức của ĐKNT, rồi lập Viện Đại học Đông Dương để tranh giành học sinh với ĐKNT; nhưng cả 2 trường này đều chết yểu. Chính quyền Pháp sớm nhận ra tính chất cách mạng của ĐKNT; chúng nhận xét: “ĐKNT là một cái lò phiến loạn của Bắc kỳ”, ĐKNT “mưu toan hưởng ứng cuộc bạo động của Phan Bội Châu”, “xúi giục dân quê chống lại chính phủ Pháp và giới quan lại lâu nay cộng tác với chúng ta”. Cuối năm 1907, Pháp lấy cớ ĐKNT đã làm cho lòng dân náo động để rút giấy phép của ĐKNT, tịch thu, tiêu hủy, cấm lưu hành các tài liệu của trường, bắt giữ hầu hết các yếu nhân và kết án từ 5 năm tù đến tử hình. Chúng không thể hiểu được tại sao một nhóm nhà Nho “trói gà không chặt” lại có thể gây dựng nổi một phong trào quần chúng rộng lớn như vậy, trực tiếp đe dọa ách thống trị của chúng.

ĐKNT chưa hề có một hoạt động nào gây tiếng nổ như khởi nghĩa vũ trang, ám sát… nhưng tại sao thực dân Pháp lại sợ hãi đến như vậy? Đó là do ĐKNT đã thổi bùng ngọn lửa yêu nước chống xâm lược âm ỷ trong nhân dân ta ngay giữa thủ đô Hà Nội; ngọn lửa ấy sẽ nhanh chóng lan ra cả nước và thiêu trụi bọn xâm lược. Cái mà bọn Pháp sợ nhất chính là nhân dân Việt Nam khi được thức tỉnh, phát động.

3. Vài nhận xét sơ bộ

ĐKNT tồn tại rất ngắn nhưng đã gây được một cao trào yêu nước và đổi mới xã hội về chính trị, kinh tế, văn hóa; đó là nhờ có đường lối đúng đắn và sách lược khôn khéo, chú trọng tuyên truyền giáo dục, tổ chức lực lượng quần chúng, nhờ thế đã tập hợp được đông đảo giới trí thức đương thời, kể cả các nhà tân học thân Pháp, cùng một số quan lại và nhà sư. Chính quyền Pháp thời gian đầu cũng ve vãn ĐKNT.

Nhận thức được một sự thật là trong tình hình cán cân lực lượng địch ta quá chênh lệch mà tiến hành đấu tranh vũ trang thì chỉ làm lực lượng ta bị tổn thất, ĐKNT chủ trương trước hết nâng cao dân trí để làm cho toàn dân thức tỉnh, hiểu được nghĩa vụ yêu nước, cứu nước và cải cách toàn diện xã hội, đưa nước nhà tiến lên văn minh hiện đại, dân chủ, đất nước giàu mạnh, chờ thời cơ thuận lợi thì “xông ra đòi lại nước nhà”. Trong cuộc đấu tranh với đế quốc xâm lược đã công nghiệp hóa, các dân tộc nhược tiểu không có sức mạnh nào khác ngoài sức mạnh của nhân dân, và phải coi trọng việc xây dựng lực lượng quần chúng, bền bỉ chờ thời cơ, không nôn nóng bạo động. Chính Hồ Chí Minh cũng vận dụng đường lối ấy. Năm 1941, khi mới về nước, Hồ Chí Minh đã kịp thời ngăn chặn ý định khởi nghĩa vũ trang của Việt Minh tỉnh Cao Bằng; rõ ràng nếu khởi nghĩa nổ ra thì không thể thắng lợi, lực lượng ta sẽ bộc lộ và bị thiệt hại. Nhưng cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám thì lại thắng lợi vẻ vang nhờ tận dụng được thời cơ nghìn năm có một là Nhật đầu hàng Đồng Minh. Chủ trương của Hồ Chí Minh xuất phát từ nhãn quan trí tuệ, không phiêu lưu manh động.

ĐKNT đặc biệt coi trọng công tác tuyên truyền thức tỉnh quần chúng, một công việc lâu dài thầm lặng nhưng có hiệu quả lớn, nhằm chuẩn bị lực lượng. Năm 1944, khi lập đội vũ trang chính quy của cách mạng, Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh nhiệm vụ chính của đội quân này là tuyên truyền chứ không phải là chiến đấu, và đặt tên là “Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân”.

Việc đề ra chủ trương duy tân ở đầu thế kỷ XX thực ra không có gì quá mới lạ, vấn đề ở chỗ thực thi chủ trương đó như thế nào. ĐKNT đã chọn cách hoàn toàn dựa vào nhân dân ta, không dựa vào nước ngoài hoặc chính quyền Pháp và triều đình Huế; trước hết nâng cao dân trí để người dân tự tiến hành đổi mới xã hội về mọi mặt, tự đứng lên chống xâm lược. Đây là một lựa chọn đúng. Về chính trị, ĐKNT chống cả thực dân lẫn phong kiến, gợi ý lập chính thể quân chủ lập hiến, chủ trương mở cửa đất nước, thực hiện “dân làm chủ”. Về văn hóa, họ chủ trương chống cựu học và giới hủ nho, đề xướng lối sống mới văn minh hiện đại, tiếp nhận văn minh phương Tây, mở cửa đất nước. Về giáo dục, ĐKNT chủ trương tổ chức dạy chữ quốc ngữ trong cả nước và thực hiện “giáo dục quốc dân”, tức nền giáo dục nhằm đào tạo người công dân của xã hội mới, biết mình có các quyền lợi và nghĩa vụ nào đối với đất nước. ĐKNT đóng vai trò lớn trong việc đưa chữ quốc ngữ trở thành văn tự chính thức của nước ta thay cho chữ Hán đã sử dụng suốt cả nghìn năm – đây thực sự là một cuộc cách mạng văn hóa-giáo dục. Xóa nạn mù chữ cho toàn dân là một chủ trương rất sáng suốt, hợp thời của ĐKNT. Tại phiên họp đầu tiên của chính phủ ngày 3/9/1945, CT Hồ Chí Minh đã nêu việc đó ở vị trí thứ hai trong 6 nhiệm vụ cấp bách nhất của chính quyền cách mạng (sau việc chống nạn đói) – đúng là sự gặp nhau của các trí tuệ lớn ! Về kinh tế, ĐKNT chủ trương phát triển thương mại và thực nghiệp (tức các ngành làm ra của cải vật chất, như công nghiệp, nông nghiệp), phát triển kinh tế nhiều thành phần kể cả tư bản công nghiệp. Các đề xuất ấy vẫn có ý nghĩa thời sự cho tới ngày nay.

Chúng ta đều biết phong trào ĐKNT có tính chất cách mạng tư sản, song không vì thế mà chúng ta đánh giá thấp phong trào này, bởi lẽ đó là một tất yếu lịch sử. Thời ấy chủ nghĩa Mác chưa đến Việt Nam, giai cấp vô sản nước ta còn quá bé nhỏ non yếu, chưa thể nói tới cách mạng vô sản.

Vì ĐKNT bị Thực dân Pháp đàn áp quá sớm, nhiều vấn đề còn chưa bộc lộ, do đó khó có thể đưa ra một nhận định toàn diện về tổ chức này. Vả lại nó cũng chưa phải là một tổ chức chính trị chặt chẽ, có chính cương điều lệ công khai cùng ban lãnh đạo chính trị-tư tưởng tập trung. Các yếu nhân ĐKNT tự hành động là chính, họ phối hợp ăn ý với nhau chỉ là do có cùng suy nghĩ, cùng khát vọng cứu nước. Họ từng tỏ ra giáo điều hoặc ấu trĩ trong việc thực thi một số biện pháp cách tân, việc tổ chức buôn bán, mở đồn điền, khai mỏ … của họ đều thua lỗ ít ra là trên sổ sách. Cuối cùng họ cũng bị thực dân Pháp đàn áp và phong trào ĐKNT cáo chung trong thất bại, rất lâu trước khi xuất hiện thời cơ thuận lợi.

Lịch sử bao giờ cũng đánh giá cao vai trò của những người đi đầu, dù họ mắc các sai lầm ấu trĩ hoặc thất bại. Sử gia Trần Huy Liệu đánh giá rất cao tính chất yêu nước chống Pháp của ĐKNT [1]. Nhà nghiên cứu văn hóa lão thành Vũ Khiêu viết: “Tôi kính phục sự sáng suốt của các cụ ĐKNT. Cách đây 100 năm, các cụ nói với ông bà ta ngày ấy vẫn như đang nói với chúng ta hôm nay” [2]. GS Chương Thâu nhận xét: ĐKNT là một điểm sáng chói trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam, nó chuẩn bị về mặt tư tưởng cho cuộc cách mạng dân tộc dân chủ của nước ta. Một sử gia Mỹ viết: “Phong trào ĐKNT đã đóng vai trò quan trọng, có lẽ là cơ bản, giúp hình thành một thế hệ nối tiếp gồm những người chống thực dân.” – tức chuẩn bị sức người cho các cuộc đấu tranh tiếp theo của nhân dân ta.

Có thể nói ĐKNT là cái mốc quan trọng nhất trên con đường trường chinh giải phóng dân tộc ta thời kỳ 1907-1930. Trong hoàn cảnh rất khó khăn, giới trí thức tiên tiến thời đó đã đề ra đường lối đấu tranh thích hợp với điều kiện thực tế, và khéo léo tổ chức, lãnh đạo một phong trào quần chúng theo đường lối đó – đây là một đóng góp rất đáng tự hào của giới sĩ phu Thăng Long-Bắc Hà.

Nhà văn hóa Phan Ngọc rất đúng khi viết: “Theo tôi, thế hệ những người cộng sản là nối tiếp thế hệ nhân sĩ trước đó. Có sự khác nhau về tư tưởng nhưng không có sự khác nhau về nhân cách, về truyền thống văn hóa dân tộc… Truyền thống trọng nhân cách là truyền thống văn hóa của dân tộc ta … Chẳng phải Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và vô số các nhà cách mạng đều là con cháu của những nhà Nho nổi tiếng sao ?” [3]. Xin thêm: chính các nhà cách mạng đó bản thân đều là người trí thức; Lê-nin, Các Mác cũng vậy. GS Phan Ngọc đã nhắc lại một sự thật lịch sử: truyền thống đạo đức xa xưa của các dân tộc đều do tầng lớp có học của dân tộc đó tạo dựng nên – gentlemen của nước Anh nói riêng và châu Âu nói chung, samurai của nước Nhật, sĩ phu của Việt Nam …

Giới trí thức ngày nay nên noi gương dũng cảm, sáng tạo của các bậc tiền bối ĐKNT, nên học tập phẩm chất, nhân cách sáng ngời của họ để đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp xây dựng đất nước ta tiến lên văn minh hiện đại, giàu mạnh. ■

Nguyễn Hải Hoành

Tài liệu tham khảo chính:

- “Văn thơ ĐKNT” (NXB Văn hóa, Cục Lưu trữ Nhà nước VN, Viện Viễn đông Bác cổ Pháp, Hà Nội 1997)

- “ĐKNT và phong trào cải cách văn hóa đầu thế kỷ XX” (Chương Thâu, NXB Hà Nội, 1982)

Xem thêm:

- Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục

- Một số bài giảng của ĐKNT

- Hội Hướng Thiện đền Ngọc Sơn

- Đường lối giáo dục cứu nước của Đông Kinh Nghĩa Thục


[1Nguyễn Đình Thi: “Lần đầu tiên tôi được gặp CT Hồ Chí Minh …” Báo điện tử Đảng Cộng sản VN, ngày 25/4/2007

[2Vũ Khiêu: “Đôi dòng tưởng niệm chí sĩ yêu nước Nguyễn Hữu Cầu”, sách “Nguyễn Hữu Cầu – chí sĩ yêu nước ĐKNT” (nxb Lý luận chính trị, Hà Nội 2007)

[3Hồ Phi Huyền: “Nhân đạo quyền hành. Đạm trai văn tập” (NXB Lý luận chính trị, Hà Nội 2007)