Trang nhà > Văn chương > Cổ học > 5 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi

5 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi

Thứ Năm 19, Tháng Tư 2007

Xem thêm: Nguyễn Trãi

歸 崑 山 舟 中 作

十 年 飄 轉 嘆 蓬 萍
歸 思 搖 搖 日 似 旌
幾 托 夢 魂 尋 故 里
空 將 血 淚 洗 先 塋
兵 餘 斤 斧 嗟 難 禁
客 裡 江 山 只 此 情
鬱 鬱 寸 懷 無 奈 處
船 窗 推 枕 到 天 明

1. Quy Côn Sơn chu trung tác

Thập niên phiêu chuyển thán bồng bình
Qui tứ dao dao nhật tự tinh
Kỉ thác mộng hồn tầm cố lí
Không tương huyết lệ tẩy tiên oanh
Binh dư cân phủ ta nan cấm
Khách lí giang sơn chỉ thử tình
Uất uất thốn hoài vô nại xứ
Thuyền song thôi chẩm đáo thiên minh

Dịch nghĩa:

Mười năm phiêu diêu than phận bồng bèo
Lòng muốn về ngày ngày vẫy như đuôi cờ
Bao lần nhờ hồn mộng đi tìm quê cũ
Mong đem huyết lệ rửa mộ tổ tiên
Sau cơn binh lửa, búa rìu khôn cấm nổi
Non sông đất khách, chỉ có tình này
Tấc lòng bùi ngùi chẳng biết làm sao
Nằm ở cửa sổ thuyền, trở gối đến sáng

1. Cảm tác trong thuyền về Côn Sơn

Mười năm trôi dạt oán thân bèo
Lòng muốn hồi hương vẫy tựa nheo
Hồn gửi mộng tìm quê xóm cũ
Lệ hòa máu rửa miếu mồ yêu
Búa rìu hậu chiến khôn ngăn cấm
Đất khách tình nhà vẫn đuổi đeo
Tấc dạ ngùi ngùi bao khắc khoải
Song thuyền trăn trở suốt đêm thâu

和 友 人 烟 霞 寓 興
其 一

蓬 萊 弱 水 杳 無 涯
俗 境 低 回 髮 半 花
雲 外 故 居 空 蕙 帳
月 中 清 夢 遶 山 家
心 如 野 鶴 飛 天 際
跡 似 征 鴻 踏 雪 沙
岩 穴 棲 身 何 日 是
天 門 回 首 五 雲 賒

2. Họa hữu nhân yên hà ngụ hứng (kỳ nhất)

Bồng Lai Nhược Thủy yểu vô nha
Tục cảnh đê hồi phát bán hoa
Vân ngoại cố cư không huệ trướng
Nguyệt trung thanh mộng nhiễu sơn gia
Tâm như dã hạc phi thiên tế
Tích tự chinh hồng đạp tuyết sa
Nham huyệt thê thân hà nhật thị
Thiên môn hồi thủ ngũ vân xa

Dịch nghĩa :

Non Bồng nước Nhược [1] mịt mù vô bờ bến
Cảnh tục quẩn quanh tóc đã bạc một nửa
Nơi ở cũ ngoài mây, bỏ không trướng huệ
Mộng thanh đêm trăng, dạo quanh nhà trên núi
Lòng như hạc nội tung giữa bầu trời
Dấu tựa chim hồng dẫm trên bãi tuyết [2]
Bao giờ được về nương thân nơi hang đá
Quay đầu nhìn cửa trời [3], năm thức mây xa

2. Họa bài thơ "Yên hà ngụ hứng" của bạn (bài 1)

Cõi tiên Bồng Nhược mịt mờ xa
Chốn tục lần hồi tóc đã pha
Nhà cũ ven mây trơ trướng huệ
Mộng thanh dưới nguyệt dạo sơn gia
Lòng như cánh hạc tung trời thẳm
Dấu tựa chân hồng đạp tuyết hoa
Thân đến bao giờ nương động đá?
Cửa trời đầu ngoảnh ráng mây qua

秋 月 偶 成
幽 齋 睡 起 獨 沈 吟
案 上 香 消 凈 客 心
靜 裏 乾 坤 驚 萬 變
閒 中 日 月 値 千 金
儒 風 冷 淡 時 情 薄
聖 域 優 游 道 味 深
讀 罷 羣 書 無 箇 事
老 梅 窗 畔 理 琴 瑤

3. Thu nguyệt ngẫu thành

U trai thuỵ khởi độc trầm ngâm
Án thượng hương tiêu tịnh khách tâm
Tĩnh lý càn khôn kinh vạn biến
Nhàn trung nhật nguyệt trị thiên kim
Nho phong lãnh đạm thời tình bạc
Thánh vực ưu du đạo vị thâm
Độc bãi quần thư vô cá sự
Lão mai song bạn lý dao cầm

Dịch nghĩa :

Phòng vắng ngủ dậy, cô đơn trầm ngâm
Hương trên án tắt, lắng sạch lòng khách
Vũ trụ yên tĩnh, kinh sự biến hoá vô cùng
Trong nhàn ngày tháng đáng ngàn vàng
Thói nho lạnh nhạt tình đời bạc bẽo
Cõi thánh thong dong vị đạo thâm thuý
Đọc xong chồng sách không còn việc gì
Bên gốc mai già cạnh cửa sổ gảy đàn dao.

3. Ngẫu hứng trăng thu

Trầm ngâm phòng vắng tỉnh mơ màng,
Khách sạch lòng, hương cũng lụi tàn
Phẳng lặng đất trời ghê vạn biến
An nhàn ngày tháng đáng nghìn vàng
Thói nho lạnh lẽo, tình đời bạc
Cõi thánh thong dong, ý đạo sang
Đọc sách hết chồng nay rỗi việc
Bên song mai cội gảy đàn vang

亂 後 到 崑 山 感 作

一 別 家 山 恰 十 年
歸 來 松 匊 半 翛 然
林 泉 有 約 那 堪 負
塵 土 低 頭 只 自 憐
鄕 里 纔 過 如 夢 到
干 戈 未 息 幸 身 全
何 時 結 屋 雲 峰 下
汲 澗 烹 茶 枕 石 眠

4. Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác

Nhất biệt gia sơn kháp thập niên
Quy lai tùng cúc bán tiêu nhiên
Lâm tuyền hữu ước na kham phụ
Trần thổ đê đầu chỉ tự liên
Hương lí tài qua như mộng đáo
Can qua vị tức hạnh thân tuyền
Hà thời kết ốc vân phong hạ
Cấp giản phanh trà chẩm thạch miên.

Dịch nghĩa:

Từ giã quê nhà vừa trọn đúng mười năm
Trở về tùng cúc một nửa đã hoang tàn
Đã có hẹn với rừng suối mà sao nỡ phụ
Trong đất bụi cúi đầu tự thương mình
Vừa đi qua làng tưởng như mộng đến
Chiến tranh chưa dứt, may vẹn toàn thân
Bao giờ được làm nhà dưới mây núi
Nấu nước suối pha trà, gối đầu lên đá ngủ.

4. Sau loạn về Côn Sơn cảm tác

Xa quê nhà đúng chục năm tròn
Tùng cúc xưa kia chỉ nửa còn
Có hẹn với rừng sao nỡ phụ
Cúi đầu trong bụi tự thương thân
Chiến tranh chửa dứt, may toàn mạng
Làng xóm vừa thăm, ngỡ mộng vờn
Ước cất nhà chân mây gió núi
Pha trà nước suối, gối đầu hòn

寄 友

亂 後 親 朋 落 葉 空
天 邊 書 信 斷 秋 鴻
故 園 歸 夢 三 更 雨
旅 舍 吟 懷 四 壁 蛩
杜 老 何 曾 忘 渭 北
管 寧 猶 自 客 遼 東
城 中 故 舊 如 相 問
爲 道 天 涯 任 轉 蓬

5. Ký hữu

Loạn hậu thân bằng lạc diệp không
Thiên biên thư tín đoạn thu hồng
Cố viên quy mộng tam canh vũ
Lữ xá ngâm hoài tứ bích cung
Đỗ Lão hà tằng vong Vị Bắc
Quản Ninh do tự khách Liêu Đông
Thành trung cố cựu như tương vấn
Vị đạo thiên nhai nhậm chuyển bồng.

Dịch nghĩa:

Sau loạn thân bằng lá rụng hết
Bên trời tin tức đứt cánh hồng mùa thu
Ba canh đêm mưa mộng về vườn cũ
Bốn vách quán trọ dế ngâm hoài
Đỗ Phủ sao quên nơi chạy nạn tại Vị Bắc [4]
Quản Ninh nhớ mãi từng làm khách ở Liêu Đông [5]
Bạn cũ trong thành nếu ai hỏi nhau
Xin nói có cỏ bồng dạt ở phương xa.

5. Gửi bạn

Sau loạn thân bằng lá rụng không
Bên trời tin bặt cánh chim hồng
Ba canh mưa mộng vườn xưa cũ
Bốn vách trọ ngâm dế não lòng
Đỗ Phủ sao quên bờ Vị Bắc
Quản Ninh mãi nhớ đất Liêu Đông
Trong thành bạn cũ ai thăm hỏi
Xin nhủ : phương xa dạt cỏ bồng.


[1Nghe nói Bồng Lai là một trong ba hòn đảo có tiên ở giữa biển Nhược Thủy, nước nhẹ đến lông ngỗng cũng chìm. Nghĩa bóng chỉ chỗ thoát tục.

[2Tứ thơ của Tô Đông Pha “ Nhân sinh đáo xứ tri hà tự? Ưng tự phi hồng đạp tuyết nê” (Đời người giống cái gì? Phải chăng như chim hồng dẫm trên tuyết mỏng).

[3Thiên môn: nghĩa bóng chỉ hoàng cung.

[4Vị Bắc: Đỗ Phủ đời Đường lánh nạn ở bờ Bắc sông Vị.

[5Liêu Đông: nơi Quản Ninh đời Hán tránh loạn Khăn Vàng.