LOGO CỦA WEBSITE NÀY

Xem lẹ

Trang nhà > Văn chương > Nước ngoài > Aleksandr Grin (1880-1932)

Văn học Nga

Aleksandr Grin (1880-1932)

Nhà văn Nga

Thứ Năm 10, Tháng Bảy 2014

Tiểu sử
Aleksandr Grin (Александр Грин, 1880 - 1932) là nhà văn Nga - Xô viết, tên đầy đủ là Aleksandr Stefanovich Grinevsky (Александр Стефанович Гриневский). Ông sinh ở Vyatka và mất ở Stary Krym. Ông nổi tiếng với tác phẩm "Cánh buồm đỏ thắm" đã được quay thành phim và được dịch ra nhiều thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt.

Tác phẩm

Tiếng nói và con mắt

Người mù nằm yên trên giường, hai tay chắp lại để trên ngực và mỉm cười. Anh mỉm cười vu vơ. Bác sĩ bảo anh không được động đậy, dù thế nào cũng chỉ cử động trong trường hợp hết sức cần thiết. Anh nằm như thế hôm nay đã là ngày thứ ba, mắt buộc băng. Mặc dù có nụ cười yếu ớt, ngưng đọng ấy, tâm trạng anh là tâm trạng của người bị kết án đang chờ được ân xá. Thỉnh thoảng, khả năng lại bắt đầu được sống, lại lấy được thăng bằng cho bản thân mình trong không gian của hoạt động thị giác bí ẩn, bỗng nhiên trở nên rõ ràng và làm anh xúc động đến nỗi toàn thân anh run lên như trong chiêm bao.

Để tránh cho Rabit khỏi bị kích động thần kinh, giáo sư không nói cho Rabit biết cuộc giải phẫu đã thành công, nhất định anh sẽ lại nhìn thấy. Một sự không may nào đó, dù chỉ là mười phần nghìn đi nữa, có thể lại biến tất cả thành bi kịch. Vì thế, khi chia tay, ngày nào giáo sư cũng nói với anh.

— Hãy yên tâm. Chúng tôi sẽ làm tất cả cho anh, mọi cái khác rồi sẽ ổn cả thôi.

Giữa lúc căng thẳng khổ sở, thấp thỏm chờ mong và bối rối vì trăm ngàn phỏng đoán, Rabit nghe thấy tiếng nói của Đêzi Garan đến gần anh. Đây là cô gái phục vụ trong bệnh viện. Thường thường, trong những phút nặng nề, Rabit xin cô để tay lên trán anh và bây giờ anh khoan khoái chờ hai bàn tay nhỏ nhắn thân thiết ấy áp vào mái đầu tê dại vì bất động của anh. Sự thể xảy ra đúng như thế.

Khi cô nhấc tay ra, Rabit vốn đã tự hỏi lòng rất lâu và đã học được cách hiểu đúng những rung động của trái tim mình, một lần nữa anh hiểu rằng điều anh lo sợ nhất trong thời gian gần đây là e sợ rằng không bao giờ được nhìn thấy Đêzi. Ngay khi anh được đưa đến đây và nghe thấy tiếng nói sôi nổi của người phụ nữ điều khiển việc xếp chỗ cho bệnh nhân, trong anh đã xốn xang cảm giác vui sướng: tiếng nói của cô gợi lên trong tâm trí anh hình ảnh một cô gái dịu dàng, vóc dáng cân đối. Đấy là âm thanh đầm ấm, vui vẻ, thân thiết của một cuộc đời trẻ trung, cái âm thanh tràn đầy sắc thái du dương và sáng rõ như một buổi sáng ấm áp.

Dần dần trong tâm trí anh xuất hiện rõ nét hình ảnh của cô, cái hình ảnh do anh tự ý vẽ ra, như một sự tưởng tượng của chúng ta về cái không trông thấy được, nhưng hết sức cần thiết cho ta. Trong ba tuần lễ chỉ nói chuyện với cô, phục tùng sự chăm sóc nhẹ nhàng và bền bỉ của cô, Rabit hiểu rằng anh yêu cô ngay từ ngày đầu tiên. Bây giờ làm sao lành bệnh, đấy là mục đích của anh, đấy là vì cô.

Anh cho rằng cô thông cảm sâu sắc với anh, đó là điều thuận lợi cho tương lai. Lúc này còn bị mù, anh không cho rằng mình có quyền đặt ra những câu hỏi đó, anh hoãn quyết định của hai người đến lúc cả hai sẽ nhìn vào mắt nhau. Anh hoàn toàn không biết rằng cô gái ấy — cô gái có giọng nói làm cho anh rất đỗi hạnh phúc — đang sợ hãi và buồn rầu nghĩ tới lúc anh sáng mắt, bởi vì cô không đẹp. Tình cảm của cô đối với anh nảy sinh từ nỗi cô đơn, từ ý thức về ảnh hưởng của cô đối với anh, từ ý thức về sự an toàn. Anh mù, cô có thể yên tâm nhìn mình bằng sự tưởng tượng của anh về cô, điều mà anh không nói ra bằng lời, mà bằng toàn bộ thái độ của anh, và cô biết anh yêu cô.

Trước lúc giải phẫu, họ nói chuyện với nhau khá lâu, nói nhiều chuyện. Rabit kể với cô những chuyện phiêu bạc của mình, cô kể với anh tất cả những gì đang xảy ra trên thế giới hiện nay. Cách nói chuyện của cô cũng vô cùng dịu dàng và quyến rũ như giọng nói của cô. Lúc chia tay, họ nghĩ tới những điều còn phải nói với nhau. Những lời cuối cùng của cô là:

— Tạm biệt.

— Tạm... — Rabit đáp, và anh cảm thấy tiếng "tạm thời" đó chứa đựng hy vọng.

Anh là con người thẳng thắn, trẻ, can đảm, hay bông đùa, tầm vóc cao và tóc đẹp. Hẳn là anh phải có cặp mắt đen long lanh. Tưởng tượng đến cái nhìn ấy, mắt cô lộ vẻ sợ hãi, khuôn mặt với đường nét không đều đặn, đầy vẻ đau đớn của cô hơi ửng hồng.

Rồi sẽ ra sao? — Cô nói. — Thôi thì cái tháng sung sướng này chấm dứt đi. Nhưng thưa giáo sư Rêhanđơ, xin hãy mở cửa nhà tù giải thoát cho anh ấy, tôi cầu xin giáo sư đấy.

2

Khi giờ thử thách đã đến và người ta đã điều chỉnh ánh sáng ở mức độ mà lúc đầu thị giác chưa vững vàng của Rabit có thể đương nổi, giáo sư, người phụ tá của ông và mấy người nữa thuộc giới khoa học đang đứng quanh anh.

— Đêzi — Rabit gọi, vì tưởng rằng cô đã ở đây, và anh hy vọng người đầu tiên anh nhìn thấy là cô. Nhưng cô không ở cạnh anh bởi vì lúc đó cô không đủ can đảm nhìn thấy, cảm thấy sự xúc động của một người mà số phận được quyết định bởi sự tháo băng. Cô đứng ở giữa phòng, như bị phù chú, lắng nghe những tiếng nói và những tiếng bước chân. Bằng sự cố gắng vô tình của trí tưởng tượng, sự cố gắng thường đến với chúng ta lúc ta thốt lên những tiếng thở dài nặng nề, cô thấy mình ở trong một thế giới khác, thành một con người khác, đúng như cô mong muốn mình là người như vậy trước cái thị giác mới ra đời — cô thở dài và phục tùng số phận.

Trong lúc đó, băng đã tháo ra. Vẫn cảm thấy vắng cô, vẫn cảm thấy sức ép, Rabit nằm trên giường, lòng đầy những mối nghi hoặc gay gắt và khoan khoái. Mạch anh giảm hẳn.

— Xong rồi — giáo sư nói, giọng ông run lên vì xúc động! — Nhìn đi, mở mắt ra!

Rabit nhướn cao mi mắt, vẫn nghĩ rằng Đêzi ở đây, và anh ngượng không dám gọi cô lần nữa. Ngay trước mắt anh lơ lửng một tấm rèm nào không rõ, với những nếp gấp.

— Cất tấm vải đi. — Anh nói — Nó làm vướng mắt — Nói xong câu đó, anh hiểu rằng anh đã lại nhìn được, những nếp gấp của tấm vải dường như chùm ngay trên mặt chính là tấm rèm cửa sổ ở đằng cuối phòng.

Ngực anh phồng lên gấp gáp, và anh không để ý đến những tiếng nức nở khiến cho toàn thể tấm thân gầy nhom, đã nằm một chỗ quá lâu của anh cứ rung lên không cách gì kìm lại được, anh bắt đầu nhìn xung quanh như đọc một cuốn sách. Hết vật này đến vật khác lướt qua trước mặt anh trong ánh sáng của niềm hân hoan của anh, và nhìn thấy cái cửa ra vào, lập tức anh yêu nó, vì nó là cái cửa mà Đêzi vẫn đi qua. Anh mỉm cười thích thú, cầm lấy cái cốc trên bàn. Tay anh run lên, và anh đặt trả cái cốc về chỗ cũ, hầu như không lầm.

Bây giờ anh nóng lòng chờ những người đã trả lại cho anh thị giác lui ra hết, để anh gọi Đêzi và với cái quyền của một người đã có được khả năng đấu tranh cho sự sống, anh sẽ nói với cô tất cả những điều quan trọng của lòng anh. Nhưng mấy phút nữa trôi qua các nhà khoa học trao đổi khe khẽ, trịnh trọng và xúc động, còn anh phải trả lời về việc anh cảm thấy thế nào, nhìn thấy gì.

Trong những ý nghĩ thoáng qua nhanh chóng tràn đầy đầu óc anh, trong trạng thái kích động ghê gớm, anh không thể nào nhớ được mọi chi tiết của những phút ấy và không thể nói rõ rốt cuộc anh còn lại một mình vào lúc nào. Nhưng cái thời điểm ấy đã đến, Rabit bấm chuông, nói với người phục vụ rằng anh mong chờ Đêzi Garan sẽ đến ngay với anh, và anh bắt đầu vui sướng nhìn ra cửa.

3

Được biết cuộc giải phẫu thành công xuất sắc, Đêzi trở về buồng mình, căn buồng toát lên vẻ sạch sẽ của sự cô đơn, và mắt ngấn lệ, với lòng dũng cảm hiền hòa do cuộc gặp gỡ cuối cùng đem lại cho cô, cuộc gặp gỡ xóa nhòa mọi cái khác, cô mặc bộ áo mùa hè khá đẹp. Mái tóc dày rậm cô chải một kiểu giản dị, chính cái kiểu hay nhất mà người ta có thể làm được với làn tóc lượn sóng thẫm màu láng bóng này, và vẻ mặt cởi mở, đầu ngẩng lên một cách tự nhiên, gương mặt phảng phất một nụ cười, nhưng tâm hồn quằn quại, cô đi về phía cửa ra vào phòng bệnh mà ở đấy mọi cái thay đổi một cách kỳ lạ. Thậm chí cô có cảm giác rằng người nằm ở đây không phải là Rabit, mà là một người nào hoàn toàn khác. Và trong những phút cuối cùng hết sức chóng vánh, nhớ lại nhiều chi tiết của những cuộc gặp gỡ và chuyện trò giữa hai người, cô hiểu rằng đúng là anh yêu cô.

Chạm tay vào cửa, cô chần chừ một lát, rồi mở cửa, trong thâm tâm gần như mong muốn mọi cái đều y nguyên như cũ. Rabit nằm, đầu hướng về phía cửa, anh ngoảnh mặt lại một cách quả quyết, đưa mắt tìm cô ở phía sau lưng anh. Cô đi qua chỗ anh và dừng lại.

— Cô là ai? — Rabit hỏi, mỉm cười băn khoăn.

— Phải chăng tôi dường như là một người mới đối với anh? — Cô nói, và bằng âm thanh giọng nói của mình, cô tức khắc trả lại cho anh cái dĩ vãng ngắn ngủi của hai người, cái dĩ vãng mà người nọ giấu không cho người kia biết.

Trong đôi mắt đen của anh, cô nhìn thấy một niềm vui sướng trọn vẹn, không thể che giấu được, và nỗi đau khổ của cô tan biến. Không có phép lạ nào diễn ra, nhưng toàn bộ thế giới nội tâm của cô, tất cả tình yêu của cô, những nỗi sợ hãi của cô, lòng tự ái của cô, những ý nghĩ tuyệt vọng của cô và tất cả những nỗi hồi hộp của phút cuối cùng bộc lộ trong nụ cười trên gương mặt ửng hồng của cô khiến Rabit có cảm tưởng rằng toàn bộ con người cô, với vóc dáng cân đối của cô, là âm thanh của sợi dây đàn bao bọc bằng những bông hoa. Cô thật là xinh đẹp trong ánh sáng của tình yêu.

— Bây giờ, mãi đến bây giờ. — Rabit nói. — tôi mới hiểu tại sao cô có giọng nói như thế, giọng nói mà tôi thích nghe ngay cả trong giấc mơ! Bây giờ cho dù cô có bị mù, tôi vẫn cứ yêu cô và tình yêu của tôi sẽ giúp cô khỏi bệnh. Thứ lỗi cho tôi. Tôi hơi điên, bởi vì tôi đã sống lại. Tôi được phép nói bất cứ điều gì.

Lúc đó, hình ảnh tưởng tượng của anh về cô, cái hình ảnh do bóng tối sản sinh ra và là hình ảnh chân thực, vẫn không hề thay đổi, cái hình ảnh mà cô không hề ngờ tới.

(Phạm Mạnh Hùng dịch)

Nguồn: Cây sồi mùa đông (tập truyện Liên Xô), NXB Văn học, 1982