Logo of this site

Quick browsing

Home > Sử­ sách > Thời mới > Âm mưu Nam tiến ở Thái Bình Dương

HỒ SƠ TƯ LIỆU VỀ PHÁT XÍT NHẬT (kỳ 2)

Âm mưu Nam tiến ở Thái Bình Dương

Saturday 26 January 2008

Năm 1938 Hitler đón tiếp Mussolini nồng nhiệt. Chính phủ Nhật thừa nhận “sự lãnh đạo của Đức và Ý trong việc lập lại trật tự mới tại châu Âu”.

Quốc sách năm 1940

Sau khi Đức gây chiến ở châu Âu và liên tiếp giành thắng lợi như chẻ tre, bè lũ quân phiệt Nhật càng nôn nóng Nam tiến. Đầu năm 1940, Chính phủ Nhật tái xác định quốc sách là "Bắc thủ, Nam tiến", coi tiến xuống phía Nam là mục tiêu chính, nhằm:

— cắt đường viện trợ của Mỹ cho TQ qua Đông Dương và Miến Điện, qua đó buộc TQ đầu hàng, vì lúc này Nhật đang bị sa lầy ở TQ mênh mông;
— chiếm tài nguyên Đông Nam Á để phục vụ kinh tế Nhật;
— tranh thủ lúc Anh, Pháp đang bị Đức đánh cho tơi bời ở châu Âu, Nhật cướp các thuộc địa của họ ở châu Á.

GIF - 25.1 kb
Đế quốc Nhật năm 1942

Nhật phải “Bắc thủ” là do âm mưu “Bắc tiến” từng bị Liên Xô đập tan ở Khalkhin-Gôn (5.1939); và tháng 8.1939 Đức - Liên Xô đã ký Hiệp ước không xâm phạm với nhau, Nhật không thể một mình chọi với Liên Xô.

Lúc này Mỹ là cản trở chính cho việc Nam tiến của Nhật, vì Hà Lan đã đầu hàng Đức; Anh đang bị máy bay Đức ném bom dữ dội và đang lo bị Đức tấn công, không sức đâu để ý đến các thuộc địa của mình ở châu Á. Mâu thuẫn Mỹ-Nhật ngày một gay gắt, trước hết là do Nhật xâm lược TQ, các quyền lợi của Mỹ tại TQ bị xâm phạm. Tính đến tháng 11.1939, Mỹ đã gửi 382 công hàm kháng nghị Nhật. Mỹ tăng viện trợ cho Chính phủ Tưởng Giới Thạch chống Nhật và không thừa nhận Chính phủ Uông Tinh Vệ thân Nhật. Thứ hai, Mỹ chiếm Philippines làm thuộc địa và quan tâm đến tài nguyên vùng Đông Nam Á, việc Nhật Nam tiến sẽ đe doạ lợi ích của Mỹ. Ngoài việc kháng nghị, Mỹ còn tăng gấp đôi lực lượng hải quân ở vùng này và tuyên bố Mỹ sẽ không để yên cho Nhật Nam tiến. Thứ ba, Nhật lập quan hệ đồng minh với Đức, Ý là nhằm vào Mỹ, đồng thời Nhật chuẩn bị phối hợp với Đức chiếm Singapore, thuộc địa của Anh, đồng minh thân cận của Mỹ. Thứ tư, để đối phó với chính sách xâm lược của Nhật, Mỹ ngày càng hạn chế xuất khẩu sang Nhật, gây khó khăn lớn cho chính sách Nam tiến với hướng chính là Đông Dương và Indonesia.

Tháng 6.1940, Nhật ký Điều ước Hữu hảo với Thái Lan, kích động Thái Lan mâu thuẫn với Pháp (hồi ấy ở Hà Nội đã nói tới chiến tranh Pháp-Xiêm). Đồng thời Nhật đòi chính quyền Pháp ở Đông Dương cắt đường tiếp tế của Mỹ cho TQ qua biên giới Việt-Trung và yêu cầu Anh cắt đường tiếp tế TQ qua Miến Điện và Hồng kông. Tháng 7, Nhật quyết định đưa các thuộc địa của Anh, Pháp, Hà Lan vào “phạm vi trật tự mới ở Đông Nam Á”.

Ngày 27.9.1940, Nhật, Đức, Ý ký hiệp định Đồng Minh, lập Trục phát xít Âu-Á. Hitler có dự lễ ký ở Berlin. Mussolini không đánh giá cao việc này. Điều 1 Hiệp định viết: Nhật thừa nhận “sự lãnh đạo của Đức và Ý trong việc lập lại trật tự mới tại châu Âu”. Điều 2, Đức và Ý thừa nhận vai trò tương ứng của Nhật tại châu Á. 3 nước thoả thuận sẽ giúp nhau nếu 1 trong 3 nước bị Mỹ tấn công. Hiệp định có thời hạn 10 năm.

Tháng 11.1940, Tư lệnh Hạm đội Liên hợp, đại tướng hải quân Isoroku Yamamoto, nhân vật số 3 ở Nhật (sau Thiên Hoàng và Thủ tướng), cùng Bộ trưởng Hải quân bàn kế hoạch đánh úp Trân Châu Cảng, một dự định tuyệt mật chỉ 2 người này biết.

Ngày 13.4.1941, Nhật và Liên Xô ký Hiệp ước Trung lập không xâm phạm lẫn nhau, nhờ đó Nhật rảnh tay đối phó với Mỹ, Anh trong việc Nam tiến. 10 ngày sau khi Đức tấn công Liên Xô, Chính phủ Nhật thông qua quyết định chiếm Đông Nam Á dù phải đánh nhau với Mỹ. Nhưng để che mắt Mỹ, Nhật bầy trò đàm phán bí mật với Mỹ. Ngày 14.4, Nhật gửi thông điệp cho Pháp đòi chiếm 8 sân bay ở Đông Dương. Ngày 14.7, Nhật đòi Pháp để Nhật dùng 8 sân bay ở Nam Việt Nam và sử dụng cảng Sài Gòn và Cam Ranh. Về sau, máy bay Nhật cất cánh từ Sài Gòn đã tiêu diệt hạm đội Anh đóng căn cứ tại Singapore; máy bay Nhật cất cánh từ sân bay Gia Lâm thường xuyên sang ném bom Côn Minh để cắt đường tiếp tế của Mỹ sang TQ qua Miến Điện. Ngày 23.7, Nhật ký với chính quyền Pháp tại Đông Dương hiệp định cho Nhật chiếm Việt Nam. Mỹ phản ứng bằng cách ngừng đàm phán bí mật với Nhật và đóng băng tài sản Nhật, ngừng bán dầu cho Nhật. Anh và Hà Lan cũng làm theo. Việc Mỹ cấm vận tuy không lập tức gây khó khăn vì Nhật đã dự trữ dầu dùng trong 2 năm, nhưng về lâu dài là bất lợi; Nhật chỉ còn trông mong vào việc chiếm Indonesia, nước sản xuất nhiều dầu mỏ. Vì vậy Nhật đã yêu cầu Indonesia (thuộc Hà Lan) cắt đứt quan hệ với châu Âu để tham gia “Khối cộng đồng phồn vinh Đại Đông Á” do Nhật đưa ra.

JPEG - 32.9 kb
Liên minh phát xít Đức-Nhật

Tháng 9.1941, Chính phủ Nhật thông qua quyết định phát động chiến tranh Thái Bình Dương. Tháng 10, Bộ trưởng Lục quân Hideki Tôjô, một trùm quân phiệt khét tiếng hiếu chiến từng là Tư lệnh đạo quân Quan Đông ở Mãn Châu, được Nhật Hoàng cử làm Thủ tướng (thay Konoe từ chức) kiêm Bộ trưởng 2 Bộ Lục quân và Nội vụ, Tôjô có quyền như một shogun và được thăng từ Trung tướng lên Đại tướng.

Ngày 5.11, Nhật quyết định “phải chuẩn bị chiến tranh với Mỹ, Anh và Hà Lan nếu trước ngày 1.12.1941 các yêu cầu của Nhật không được đáp ứng.” Đó là các yêu cầu Nhật nêu ra trong cuộc đàm phán với Mỹ từ 4.1941: - để Nhật chiếm TQ và Đông Nam Á; - Mỹ và Anh không được tăng cường lực lượng trong vùng châu Á - Thái Bình Dương; - Mỹ bán cho Nhật các thứ hàng Nhật cần. Rõ ràng, Mỹ không thể đồng ý với các yêu cầu đó. Vì vậy ngày 1.12, Nội các Nhật chính thức bí mật quyết định khai chiến với Mỹ, Anh, Hà Lan. Thật ra, ngay từ ngày 26.11, một hạm đội hùng hậu đã bí mật rời Nhật Bản tiến về Trân Châu Cảng (Pearl Harbor, cách Nhật 6000km, cách bờ biển phía Tây nước Mỹ 3000km). Lực lượng này gồm 6 tàu sân bay, 2 thiết giáp hạm, 3 tàu tuần dương, 11 tàu khu trục, 3 tàu ngầm cùng 423 máy bay hải quân, ngoài ra còn 27 tàu ngầm đi trước trinh sát.

Nguyễn Hải Hoành
(Xem tiếp Trận đánh úp Trân Châu cảng)


View online : Đặc điểm của phát xít Nhật