Trang nhà > Văn chương > Cổ học > Ba bài thơ của sứ giả Việt Nam tìm thấy ở Triều Tiên

Ba bài thơ của sứ giả Việt Nam tìm thấy ở Triều Tiên

Chủ Nhật 10, Tháng Bảy 2011

Trong thư tịch của Hàn Quốc có chép lại ba bài thơ của sứ giả Việt Nam đi sứ ở Trung Quốc. Đấy là ba bài thơ đề ở quán dịch Lộ Hà ở Thông Châu, ngoại thành Bắc Kinh, được các sứ giả Triều Tiên đi sang Trung Quốc đọc thấy, chép lại và mang về Triều Tiên. Ba bài thơ này được người Triều Tiên coi là bằng chứng chứng tỏ Việt Nam là một quốc gia văn hiến đồng văn với Triều Tiên, và được đánh giá là "phong lưu văn nhã". Ba bài thơ được chép trong Tư Trai tập của Kim Chính Quốc (1485-1541), được khắc in vào năm 1603, và được chép trong Khê Cốc tập của Trương Duy (1587-1638), được khắc in vào năm 1643. Ba bài thơ được làm vào năm Giáp Tuất mùa hạ, và căn cứ vào niên biểu trong Tư Trai tập, có thể suy ra năm Giáp Tuất là năm 1514, tương ứng với triều Lê Tương Dực của Việt Nam. Thời gian này Việt Nam có nhiều hoạt động ngoại giao với Trung Quốc, được ghi trong Đại Việt sử ký toàn thư. Tác giả của ba bài thơ là Nguyễn Lâm Nam Trân, Nguyễn Hoài Nhất (chép trong Tư Trai tập) hay Nguyễn Hoài Tử Thanh (chép trong Khê Cốc tập) và Trương Phu Duyệt. Ba bài thơ được làm theo kiểu xướng hoạ.
Bài thứ nhất
Lộ Hà hà thượng dịch lâu tiền
Nhật vĩnh phong thanh tứ khoát nhiên
Bắc vọng Trường An tài chỉ xích
Nam diêm Hành Nhạc cách tam thiên
Tứ phương hồ thỉ sơ tâm khế
Vạn lý quân thân nhất niệm huyền
Tảo viễn kim đài hồi mã thủ
Bồng lai phong đính hội quần tiên
Giáp tuất quý hạ
An Nam quốc sứ Hối Trai Nguyễn Lâm Nam Trân

Tạm dịch:
Lộ Hà quán dịch ở trên sông
Gió mát suốt ngày sảng khoái không
Bắc ngắm Trường An trong tấc thước
Nam phơi Hành Nhạc cách muôn trùng
Bốn phương hồ thỉ tương thông ý
Vạn dặm vua tôi khắc khoải trông
Sáng tối đài vàng quay cổ ngựa
Quần tiên hội gặp đỉnh non Bồng

*Trường An: chỉ kinh sư (Bắc Kinh)
*Hành Nhạc: núi Hành sơn
Bài thứ hai
Bán thốc nguy lâu chẩm thủy tiền
Đăng lâm hành khách hứng du nhiên
Ba kinh điểm liễm thi tam bách
Mai dịch khu trì lộ bát thiên
Thượng quốc y quan tiền độ thục
Tả môn hồ thỉ túc tâm huyền
Nam nhi đáo thử chân kì sự
Hưu thuyết tam thần hải ngoại tiên
An Nam quốc sứ Nguyễn Hoài Nhất

Tạm dịch:
Lầu lớn nguy nga gối trước sông
Leo lên du khách hứng tầng không
Ba kinh điểm chọn thơ tam bách
Mai dịch ruổi rong đường vạn trùng
Thượng quốc áo khăn tinh thục chế
Tả môn hồ thỉ khắc lòng trông
Nam nhi tới được là duyên lạ
Thôi nói thần tiên chốn núi Bồng

* Ba kinh: Kinh Thi
Bài thứ ba
Thập nhị lan can tễ cảnh tiền
Vọng cùng sa mạc tiếp Yên nhiên
Xa đồng quỹ triệt thống quy nhất
Đài trúc hoàng kim giá bội thiên
Lộ viễn nam giao sương lũ duyệt
Thiên đê bắc cực nhật trường huyền
Cử đầu hỉ kiến hồng vân cận
Hương án thao bồi thứ đệ tiên
An Nam quốc sứ Trương Phu Duyệt

Tạm dịch:
Một tá lan can tạnh cảnh sông
Dõi xa sa mạc đất Yên không
Xe cùng bánh trục quy cùng cỡ
Đài đắp hoàng kim giá bội trùng
Đường tận nam giao sương móc đổ
Trời gần bắc cực mặt trời trông
Ngẩng đầu mừng thấy mây hồng sát
Hương án tiếp bồi nhị cảnh Bồng

Ghi chú:
1. Theo ghi chép của người Triều Tiên, cả ba bài thơ đều ghi tên nước là "An Nam", không phải là "Đại Việt". Như vậy phải chăng chính các sứ giả Việt Nam khi đề thơ của mình đều ghi tên nước là An Nam?
2. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1513 Lê Tương Dực sai Nguyễn Trang, Nguyễn Sư Truyền, Trương Phu Duyệt đi sứ nhà Minh. Vậy có phải Nguyễn Trang là Nguyễn Lâm, Nguyễn Sư Truyền là Nguyễn Hoài?
Source: Blog Đông A