Xem lẹ

Trang nhà > Xã hội > Đông Á > Báo Nga viết về Quân đội Việt Nam

Báo Nga viết về Quân đội Việt Nam

Thứ Sáu 24, Tháng Sáu 2016

(ANQP) - Theo nhận định của Thiếu tướng Nga E. Belov đăng tải trên trang factmil.com (Nga), hiện nay Quân đội Việt Nam sở hữu sức mạnh hàng đầu trong khu vực ĐNA.

Lục quân đứng số 1 khu vực ĐNÁ

Tướng Belov cho hay: Lục quân là Quân chủng chủ lực của các lực lượng vũ trang Việt Nam, “Quả đấm thép” của Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN). Sách trắng Quốc phòng năm 2009 của Việt Nam cho biết, các nhiệm vụ chính của quân chủng này là bảo vệ chế độ, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; ngăn ngừa xung đột vũ trang và chiến tranh; duy trì hòa bình và ổn định nhằm mục đích công nghiệp hóa và phát triển kinh tế đất nước.

Ngoài ra, Lục quân còn có chức năng thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững, đấu tranh chống đói nghèo, khắc phục thiên tai và các thảm họa công nghệ. Hiện nay, quân số Lục quân khoảng 400.000 người, chiếm 60% tổng quân số các lực lượng vũ trang Việt Nam. Sau khi triển khai tổng động viên con số này có thể tăng đến 600.000 người.

Theo chức năng, Lục quân được chia thành lực lượng bộ đội tác chiến và địa phương. Chịu trách nhiệm lãnh đạo tác chiến là Tổng Tham mưu trưởng QĐNDVN mà thực tế tương đương với Tư lệnh Lục quân của quân đội các nước lớn. Bộ đội tác chiến là lực lượng có quân số lớn nhất của lực lượng thường trực lục quân, có khả năng độc lập hoặc phối hợp với các đơn vị của các quân chủng khác tiến hành tác chiến (các hoạt động tác chiến) trong bất kỳ khu vực nào của đất nước.

Bộ đội tác chiến được tổ chức thống nhất thành 7 Quân khu, Bộ tư lệnh thủ đô và 4 Quân đoàn dự bị tổng chỉ huy (trực thuộc Tổng Tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang). Trong thành phần tác chiến của lực lượng này có Sư đoàn 61, 50 Trung đoàn độc lập của Binh chủng (đặc nhiệm, pháo binh, thông tin liên lạc…) và các đơn vị, phân đội làm nhiệm vụ bảo đảm.

Bộ đội địa phương (khoảng 50.000 người) là lực lượng dự bị đợt 1. Trong giai đoạn đất nước rơi vào trạng thái lâm nguy, lực lượng này có thể bổ sung vào lực lượng tác chiến và hậu chiến có thể thực hiện các nhiệm vụ theo chức năng của mình (thông thường tại các khu vực đóng quân thường trực). Về tổ chức, các đơn vị bộ đội địa phương được bố trí theo các trung đoàn, tiểu đoàn và đại đội độc lập.

Lục quân Việt Nam được trang bị các loại vũ khí và khí tài quân sự chủ yếu do Liên Xô (Nga) và Trung Quốc sản xuất. Ngoài ra, còn một số lượng vũ khí không lớn thu được của Mỹ sau chiến tranh. Binh chủng chủ lực của Lục quân Việt Nam là Sư đoàn bộ binh. Sư đoàn bộ binh được tổ chức thành các trung đoàn và các đơn vị trực thuộc sự đoàn (quân y, vận tải, thông tin liên lạc và công binh, trinh sát và sửa chữa).

Trong biên chế của Trung đoàn bộ binh gồm 3 tiểu đoàn bộ binh và 3 tiểu đoàn (pháo binh, phòng không và súng cối). Quân số của sư đoàn đầy đủ phụ thuộc vào vị trí đóng quân từ 5.000 đến 12.500 người với trang bị gồm 100 súng cối, 40 pháo chống tăng, 60 pháo phòng không, 13 xe bọc thép chở quân và 6 hệ thống hỏa lực bắn loạt.

Sư đoàn bộ binh cơ giới lục quân có sức mạnh hỏa lực tác chiến mạnh nhất, gồm 3 trung đoàn bộ binh cơ giới và 1 trung đoàn tăng với trang bị hơn 30 xe tăng, khoảng 100 xe chiến đấu bộ binh, 150 xe bọc thép chở quân, 6 hệ thống hỏa lực bắn loạt, 50 pháo dã chiến, 70 súng cối, 20 tổ hợp tên lửa chống tăng, 36 pháo chống tăng, 30 tổ hợp tên lửa phòng không và 30 pháo phòng không.

Theo đánh giá của Tướng E. Belov, trang bị kỹ thuật, huấn luyện và tinh thần chiến đấu cao của quân nhân Lục quân Việt Nam nhìn chung có thể cho phép thực hiện mọi nhiệm vụ đặt ra.

Không quân xếp thứ 2

Ngoài Lục quân, Không quân Việt Nam cũng được báo nước ngoài xếp vào top đầu khu vực khi chỉ đứng sau Singapore. Không quân nhân dân Việt Nam được thành lập vào ngày 03/03/1955, ngay sau khi thành lập, tuy non kém về kinh nghiệm, thiếu thốn về trang thiết bị nhưng Không quân nhân dân Việt Nam đã giành được những chiến công hiển hách trước Không quân Mỹ. Sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Không quân Việt Nam lại tiếp tục tham chiến trên chiến trường Tây Nam.

Những năm 1980, Không quân Việt Nam đã được Liên Xô chuyển giao cường kích tấn công mặt đất Su-22M, đưa Việt Nam trở thành quốc gia Đông Nam Á có phi đội máy bay chiến đấu hùng mạnh.
Vào thời điểm đó có khoảng 250 chiếc MiG-21 cùng với 40 chiếc Su-22M cùng với số lượng khá lớn máy bay chiến đấu các loại thu giữ được của VNCH.

Không quân nhân dân Việt Nam bắt đầu tiến hành quá trình hiện đại hóa vào những năm 1990. Năm 1994, Việt Nam đã đặt mua từ Nga 5 chiếc Su-27SK và 1 chiếc Su-27UBK đưa Việt Nam trở thành quốc gia thứ 2 ở châu Á và đầu tiên ở Đông Nam Á sở hữu tiêm kích tốt nhất thế kỷ 20 này. Đến năm 1996, Việt Nam lại đặt mua tiếp 2 chiếc Su-27SK và 4 chiếc Su-27UBK, tuy nhiên trong quá trình vận chuyển đến Việt Nam, chiếc An-124 chở theo 2 chiếc Su-27UBK đã gặp nạn, sau đó phía Nga bồi thường cho Việt Nam 2 chiếc Su-27PU tiền thân của Su-30.

Cuối năm 2003, Việt Nam tiếp tục trở thành khách hàng đầu tiên ở Đông Nam Á sở hữu tiêm kích Su-30MK2 bằng hợp đồng mua 4 chiếc Su-30MK2 tương tự như biến thể Su-30MKK xuất khẩu cho Trung Quốc với một vài cải tiến về hệ thống điện tử và trang bị ghế phóng mới.

Đến năm 2009, Việt Nam tiếp tục ký hợp đồng mua thêm 8 chiếc Su-30MK2, một biến thể được thiết kế chuyên dụng cho nhiệm vụ đánh biển. Năm 2011 Việt Nam tiếp tục ký hợp đồng mua thêm 12 chiếc Su-30MK2 trị giá 1 tỷ USD. Hợp đồng lần này ngoài máy bay còn đi kèm theo hợp đồng mua tên lửa không đối không tầm ngắn R-73M, tên lửa không đối không tầm trung R-27ER tầm bắn tới 130km, tên lửa chống hạm Kh-31A và tên lửa hành trình không đối đất Kh-29 cùng với bom thông minh các loại.

Đến ngày 20/8/2013, Việt Nam đã quyết định mua thêm 12 chiếc Su-30MK2 nâng tổng số Su-30MK2 của Việt Nam lên 36 chiếc. Cùng với lực lượng Su-30MK2, Không quân Việt Nam có 12 chiếc Su-27 SK/UBK/PU đưa Việt Nam trở thành quốc gia có phi đội tiêm kích Sukhoi đông đảo nhất khu vực Đông Nam Á.

Trong năm 2005 Việt Nam đã ký hợp đồng mua 40 chiếc cường kích Su-22M3 đã qua sử dụng từ Ba Lan. Đây là biến thể xuất khẩu của Su-17M3, máy bay đã được nâng cấp hệ thống điện tử hàng không, tăng sức chứa nhiên liệu, trang bị bổ sung thêm 2 giá treo vũ khí ở mỗi bên cánh.

Đến năm 2006 Việt Nam tiếp tục mua thêm một số Su-22M4 đã qua sử dụng từ Ukraine và CH Séc cũng như nâng cấp một số Su-22M3 lên chuẩn M4. Su-22M4 được nâng cấp hệ thống điện tử hiện đại hơn, trang bị hệ thống dẫn hướng vô tuyến CHAYKA tương tự như hệ thống dẫn hướng vô tuyến Loran-C, hệ thống dẫn hướng quán tính mới.

Mặc dù Su-22M3/M4 được cho là đã lạc hậu nhưng với chiến lược quốc phòng của Việt Nam cùng điều kiện địa lý thuận lợi sẽ cho phép Su-22 M3/M4 thực hiện những cuộc tập kích đường không tốc độ cao vào biên đội tàu chiến của đối phương bằng sát thủ chống hạm đáng sợ nhất thế giới Kh-31A.

Tuy rằng Không quân nhân dân Việt Nam đã được bổ sung trang bị 36 chiếc tiêm kích Sukhoi hiện đại nhưng nòng cốt trong nhiệm vụ bảo vệ không phận vẫn là những chiếc tiêm kích MiG-21 huyền thoại. MiG-21 của Việt Nam vẫn liên tục được nâng cấp lên các tiêu chuẩn mới hiện đại hơn như: MiG-21 Lancer, MiG-21 Bis và MiG-21-93. Gần đây nhất, MiG-21 của Việt Nam đang được nâng cấp lên tiêu chuẩn Mig-21 -2000 với sự trợ giúp của tập đoàn Công nghiệp hàng không vũ trụ Israel IAI.

Ngoài lực lượng máy bay chiến đấu, Không quân Việt Nam còn có phi đội trực thăng hùng hậu nhất Đông Nam Á với khoảng 195 chiếc các loại đang hoạt động. Trong đó đông đảo nhất là phi đội trực thăng vận tải đa năng Mi-8 và Mi-17.

Bên cạnh đó Việt Nam cũng đã thành lập Không quân-hải quân với nòng cốt là phi đội trực thăng EC-225 Super Puma và 6 chiếc thủy phi cơ đa dụng DHC-6 Twin Otter series 400. Tuy nhiên, điểm hạn chế của Không quân Việt Nam là năng lực vận tải đường không chiến lược. Năng lực vận tải đường không chiến lược của Việt Nam phụ thuộc vào phi đội 10 máy bay vận tải An-26 cùng một số máy bay vận tải hạng nhẹ M-28. Tuy nhiên, điểm yếu này đã được khắc phục một phần khi Việt Nam đặt mua 3 chiếc máy bay vận tải thế hệ mới C-295M.

Bên cạnh đó, Không quân Việt Nam thiếu máy bay chỉ huy và cảnh báo sớm đường không AWACS. Đây là một hạn chế lớn trong việc xây dựng phi đội chiến đấu hùng mạnh.