Trang nhà > Sáng tạo > Đổi mới > CHỐNG HAYEK (3)

Alain de Benoist:

CHỐNG HAYEK (3)

Anti Hayek

Thứ Ba 21, Tháng Mười 2008

“Laissez faire la misère, laissez faire la mort” - Antoine Buvet
(Mặc kệ đói nghèo, mặc kệ chết chóc)

5

Alain Caillé định nghĩa qua những từ ngữ sau đây hai khó khăn tồn tại chung trong chủ nghĩa duy lý tự do: “Cái thứ nhất, nằm ở chỗ lý trí phê phán không thể tự đầy đủ. Để phê phán, lý trí phải tìm một cái gì đó khác với bản thân để phê phán và cái đó, tự nó, không phải là một cái tiêu cực đơn thuần. Khó khăn thứ hai từ cái thứ nhất mà ra. Lý trí phê phán chỉ đi tới chỗ tự cho là có khả năng thấu hiểu hết trường hiện thực (le champ du réel), khi nó giả định trường hiện thực này thu gọn lại được vào cái lý tính tiêu cực rồi ra sẽ cấu tạo nên tính đồng nhất duy nhất của nó (của lý lý trí phê phán). Như vậy, lý trí tự do phê phán phải tự mình dựa vào một biểu tượng thể hiện tính chất đồng nhất của cái quan hệ xã hội vốn mâu thuẫn vớí ý tưởng về tự do” (49).

Max Weber về phần mình đã chỉ rằng luôn có một mâu thuẫn giữa lý tính hình thức với lý tính có nội dung và cả hai thứ lý tính này luôn có thể xung đột. Vấn đề nội dung quan trọng của tự do vì vậy không thể giải quyết bằng sự hiệu chính những thủ tục coi như bảo đảm cho tự do. Có thể giả thuyết về một sự điều tiết tự phát vô số những dự án cạnh tranh của những tác nhân kinh tế và xã hội trong chế độ trao đổi hoàn toàn tự do, sự điều tiết được coi như là tốt nhất, không phải theo nghĩa lý tưởng mà theo nghĩa khả thể, nghĩa là quy chiếu về những điều kiện nhận thức thực tế đời sống của những thành viên xã hội. Nhưng nếu giả định rằng sự điều tiết tự phát ấy như thể không có những đối kháng về các lợi ích không thể quy giảm, không có những cuộc khủng hoảng tàn phá trên khắp các thị trường v.v… thì cái giả thuyết ấy đã tỏ ra là không tưởng sâu sắc. Ý tưởng cho rằng người ta có thể tạo ra sự hợp nhất những giá trị tự do với trật tự tự phát, sinh ra từ hoạt động thực tiễn, thực sự đã dựa trên quan niệm một xã hội không có không gian công cộng.

Như đã thấy, Hayek không chỉ nói như những nhà tự do cổ điển rằng thị trường tối đa hoá sự sung túc của mọi người. Ông ta còn khẳng định rằng nó là một “trò chơi” làm tăng thêm những cơ may cho tất cả những người chơi, xét một cách cá nhân, đạt được những mục đích riêng biệt của mình. Khẳng định ấy vấp phải một sự phản bác hiển nhiên: làm sao có thể nói thị trường tối đa hoá cơ hội cho các cá nhân thực hiện những mục đích của họ nếu người ta đặt ra từ nguyên tắc rằng những mục đích ấy là không thể biết được? Vả chăng, như Alain Caillé đã viết, “nếu trường hợp là thế (…) thì không khó để khẳng định rằng kinh tế thị trường đã nhân những mục đích của các cá nhân lên nhiều lần hơn các phương tiện thực hiện; như vậy thị trường, theo cái cơ chế tâm lý do Tocqueville phân tích, đã tăng lên thêm sự bất mãn. Đó là một cách để nhắc nhở rằng những mục tiêu của các cá nhân không rơi xuống từ trên trời, nhưng bắt nguồn từ hệ thống xã hội và văn hoá trong đó họ được đặt để. Như thế người ta không thấy cái gì sẽ ngăn cản khi nghĩ rằng các thành viên của cái xã hội sơ khai, thí dụ vậy, đã có vô số những cơ may để thực hiện những mục đích cá nhân của mình nhiều hơn là những thành viên trong Xã hội Lớn. Hayek sẽ trả lời chắc chắn rằng những người bán khai không được “tự do” để tự mình chọn lựa những mục tiêu của họ. Điều sẽ phải chứng minh, như sẽ bằng chừng ấy, sẽ phải chứng minh rằng những cá nhân trong xã hội hiện đại cũng đã tự quyết định một cách tự do y như thế” (50). Sự trình bày cái catallaxie như một trò chơi cống hiến những cơ may “phi nhân cách” và trong đó thật bình thường khi có những người thua và những người thắng, trong thực tế là không thể bảo vệ được. Sự tồn tại của những quy tắc trừu tượng không đủ để bảo đảm rằng tất cả mọi người sẽ có cùng cơ hội thắng hoặc thua. Hayek quên hẳn rằng những cơ may để thắng không giống nhau cho mọi người, và những người thua thì quả rất thường là giống nhau. Như vậy kết quả của trò chơi không thể nói được là bấp bênh, theo sác xuất. Những kết quả ấy không bấp bênh, nhưng để làm cho chúng bấp bênh, ít nhất là về xu hướng, trò chơi phải được “sửa đổi” bởi những can thiệp tự nguyện của sức mạnh công cộng, điều mà Hayek quyết liệt từ chối. Sẽ nghĩ gì về một trò chơi mà như thể tình cờ những người thắng thì luôn luôn thắng thêm trong khi đó thì những người thua thì càng thua thêm nhiều hơn? Gán cho trật tự tự phát là “bất công”, như Hayek khẳng định, là rơi vào chủ nghĩa nhân hình hoá (anthropomorphisme) hoặc thuyết “vật linh”(animisme), kể cả trorng lý luận về bung xung bởi vì điều đó là đi tìm một kẻ chịu trách nhiệm, một tội đồ, ở cái nơi không có những thứ đó.

Nhưng, như Jean-Pierre Dupuy đã nhận thấy, lập luận này tự lộn ngược lại được như chiếc găng tay, vì nếu tiến hoá xã hội đã có một kết quả thu được có tính chất quyết định, ấy là vì người ta đã đi đến chỗ coi là không công bằng khi kết án một người vô tội. Về điểm này, đúng hơn, chính sự phủ định ngay khái niệm bất công xã hội mới đưa (sự việc) “trở lại đàng sau”. Cảnh giác chống lại cái lôgic kẻ bung xung, Hayek như vậy đã rơi vào lý luận đó: những kẻ bung xung, trong hệ thống của ông ta, tất cả đều là những nạn nhân của bất công xã hội, mà người ta cấm cản không cho phàn nàn. Khẳng định rằng bất công xã hội không có nghĩa gì, như vậy là quay lại biến những người chịu bất công thành những bung xung cho thứ lý luận bào chữa, hợp pháp hoá của ông ta. Sự nguỵ biện là ở chỗ khi nói rằng trật tự xã hội vừa công bằng mà cũng không công bằng, đồng thời lại kết luận rằng phải chấp mọi thứ là như vậy, nghĩa là … tất cả đã là công bằng rồi.

Ở đây mọi thứ hàm hồ đến từ việc Hayek coi thị trường, về thực chất, có khi như kẻ sáng tạo ra tự do (đó là nền móng của luận đề của ông ta), có khi lại xem tự do như phương tiện thực hiện tính hiệu lực phổ quát của thị trường. Nhưng như vậy mục đích thực sự của việc tìm kiếm là gì: là tự do cá nhân hay là tính hiệu nghiệm của thị trường? Hayek sẽ nói chắc chắn rằng hai mục tiêu ấy chỉ là một. Tuy nhiên còn phải xác định cái cách mà những mục tiêu ấy ăn khớp với nhau như thế nào. Thực tế, cái định nghĩa mà Hayek nói về tự do chỉ ra rằng cuối cùng mà nói, tự do đúng là có phận sự bảo đảm cho thị trường, còn thị trường thì trở thành một mục đích tự thân. Với Hayek, tự do không phải là thuộc tính của bản chất nhân loại, cũng không phải là sự bổ sung của lý trí nhưng là một chinh phục có ý nghĩa lịch sử, một giá trị ra đời từ cái “xã hội lớn”. Vả lại, đó là một tự do thuần tuý cá nhân, tiêu cực và đồng nhất. Hayek đi đến chỗ nói rằng tự do bị bóp nghẹt ở nơi nào người ta biện hộ cho các quyền tự do (51). Thị trường không tạo ra những điều kiện cho tự do bởi vì tự do được sử dụng để phục vụ thị trường. Đạo dức của tự do như vậy đã bị bẻ quặt theo hướng đạo đức của sự giàu có, có nghĩa là rơi xuống thêm môt lần vào lý luận vị lợi. Hayek chỉ đề nghị với chúng ta một viễn quan công cụ của tự do: tự do có giá trị theo cái tầm mức chính xác ở đó nó cho phép trật tự hàng hoá vận hành.

Đồng hoá thị trường với toàn bộ trật tự xã hội, cuối cùng, là phụ thuộc vào chủ nghĩa kinh tế có tính chất quy giảm nhiều nhất. “Thị trường không tránh khỏi là một nền kinh tế, Roger Frydman viết nhân chuyện này. Nó tạo ra một hệ thống giả định có sự nhất quán giữa sự xếp đặt xã hội với những mục tiêu mà nó có thể thoả mãn. Để cho thị trường hoạt động tốt, tự nó phải được đặt trên một quan hệ xã hội có khả năng diễn đạt sang một ngôn ngữ có tinh chất định lượng, và nó tự đề nghị những mục đích buôn bán, hay ít nhất nó biến những mục đích ấy thành những sản phẩm chuyển được thành tiền và mang lợi cho các xí nghiệp. Cũng như vậy, người ta không thoát khỏi việc bắt buộc phải thiết lập cơ sở vững chắc cho xã hội trên những hiệu năng kinh tế và ngược lại tuyển chọn những quy tắc ứng xử đúng, tuỳ theo những những mục tiêu giống nhau đó” (52). Chung quy, như vậy cái duy nhất rút lại “có thể bảo vệ được chính là cái nền pháp luật thích hợp với phương thức tồn tại của những sản phẩm của hoạt động nhân loại như là hàng hoá, vận dụng trong một quy trình cạnh tranh” (53). Đó cũng là kết luận của Alain Caillé: “Trò ảo thuật của ý thức hệ tự do mà Hayek minh hoạ cho chúng ta dưới hình thức hoàn tất nhất nằm trong việc đồng hoá Nhà nước pháp quyền với Nhà nước buôn bán, nằm trong việc quy giảm của ý thức hệ ấy vào vai trò làm xuất hiện thị trường. Ngay từ đó, sự biện hộ cho tự do của những cá nhân để chọn lựa những mục đích riêng của họ, đã tự đảo ngược thành sự bắt buộc thực tế được làm ra cho họ không có mục đích nào khác hơn là những món hàng” (54).

Lý luận tự do là lý luận cho rằng mọi thứ đều có thể mua được và bán được trên thị trường tự động điều tiết. Nó phù hợp với cái ý thức hệ kinh tế, mà Pierre Rosanvallon nói là nó “diễn đạt trước hết sự kiện những quan hệ giữa người và người được hiểu như những quan hệ giữa những giá trị hàng hoá”. Từ đó, nó nằm trong khuôn khổ của sự phủ định sự khác nhau, đặt ra theo truyền thống, ít nhất là từ Aristote, giữa kinh tế và chính trị, hay đúng hơn, nó chỉ nắm lấy sự khác nhau đó để thay vào đó một sự đảo ngược những quan hệ tuỳ phụ giữa cái thứ nhất và cái thứ hai. Như vậy nó dẫn về điều mà Henri Lepage gọi một cách thật chính xác là “nền kinh tế khái quát hoá, mở rộng”, nghĩa là đã giản lược tất cả các sự kiện xã hội vào một mô hình kinh tế ( tự do), qua góc nhìn xiêng của một lý luận đặt trên chủ nghĩa cá nhân mang tính phương pháp, và mô hình kinh tế ấy tự tạo tính chính đáng cho mình bằng một niềm tin cho rằng “như lý luận kinh tế khẳng định, nếu những tác nhân kinh tế có một ứng xử tương đối duy lý và nói chung theo đuổi chọn lựa lớn nhất của họ khi vấn đề đối với họ là sản xuất, đầu tư, tiêu thụ, thì không có lý do gì để nghĩ họ sẽ làm khác đi trong những hoạt động xã hội khác: thí dụ như bầu một đại biểu, chọn một đào tạo chuyên môn, sau đó một nghề nghiệp, một sự liên kết, sinh con, dự định giáo dục cho chúng… Hệ tư duy về Con người kinh tế như vậy đã được sử dụng không phải chỉ để giải thích thái độ sản xuất hay tiêu thụ mà còn để thăm dò toàn thể lĩnh vực của những quan hệ xã hội đặt nền trên sự tác động qua lại của những quyết định và hành động của những cá nhân” (55).

Sự nghiệp của Hayek khác với chủ nghĩa tự do cổ điển bởi cái ý muốn xây dựng lại học thuyết kinh tế ở tầm cao nhất mà không cần viện đến điều tưởng tượng về khế ước xã hội và bằng cách cố thoát khỏi những phê phán gửi chung cho chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa duy lợi, khỏi định đề về một cân bằng chung hoặc một sự cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo có cơ sở trên sự minh bạch của thông tin. Để làm điều đó, Hayek đã chuyển lên thượng nguồn (déplacer en amont) số vốn ăn thua (enjeu, mục đích cần đạt) trong cách đặt vấn đề của ông và làm cho thị trường trở thành một khái niệm toàn cục, không thể vượt qua vì tính chất tổng thể hoá (totalisant) của nó. Kết quả là (sự ra đời) một không tưởng mới, dựa trên bao nhiêu ngộ biện thì cũng bấy nhiêu mâu thuẫn. Trên thực tế, rõ ràng “nếu một Nhà nước Phúc lợi không bỏ tiền ra mua một nền hoà bình xã hội thì cái trật tự thị trường có thể đã bị quét sạch từ lâu” (Alain Caillé). Một xã hội mà vận hành theo những nguyên lý của Hayek không lâu sẽ bùng nổ. Sự thiết lập của nó có thể nằm trong phạm vi của một “chủ nghĩa thiết kế” thuần tuý và không nghi ngờ gì sẽ đòi hỏi một Nhà nước theo kiểu chuyên chính. Như Albert O. Hirshman viết, “cái tư cách công dân giả mạo lý tưởng thơ mộng được tư nhân hoá chỉ biết quan tâm đến lợi ích kinh tế và chỉ phục vụ công ích một cách gián tiếp mà không bao giờ góp phần trực tiếp vào đó, tất cả điều đó chỉ có thể thực hiện được trong những điều kiện chính trị giống hệt một cơn mơ bị bóng đè (cauchemar)” (56). Ngày nay mà cho rằng có thể canh tân “tư tưởng dân tộc” bằng cách trông cậy vào cái loại lý luận như vậy thì điều đó đã nói quá nhiều về sự sụp đổ của bản thân cái tư tưởng ấy rồi.

(Xem phần 1)

(Xem phần 2)

© Alain de BENOIST

Nguồn: http://www.alaindebenoist.com/pdf/contre_hayek.pdf

Người dịch: Lữ Phương

CHÚ THÍCH

49. Op. cit., pp. 340-341.

50. Ibid., pp. 320-321 Leland B. Yeager, "Utility, Rights, and Contract. Some Reflections on Hayek’s Work", trong Kurt R. Leube và Albert H. Slabinger (ed.), The Political Economy of freedom, op. cit., pp. 61-80.

51. “Các quyền tự do cụ thể chỉ xuất hiện khi không có tự do nói chung”, "Liberties appear only when liberty is lacking" (The Constitution of Liberty, op. cit., p.12).

52. "Individu et totalité dans la pensée libérale", art. cit., p. 120.

53. Ibid.

54. Op. cit., p. 347.

55. Henri Lepage, op. cit., pp. 25-26.

56. Vers une économie politique élargie, Minuit, 1986, p. 27.


Xem online : Tiểu sử và tác phẩm của Hayek