Xem lẹ

Trang nhà > Nghệ thuật > Kiến trúc > CHÙA VÀ QUÁN TRUNG QUỐC

CHÙA VÀ QUÁN TRUNG QUỐC

Thứ Ba 22, Tháng Mười Một 2011

ĐẠO QUÁN


Cổng vào Bạch Vân quán

Các đạo quán có rất nhiều ở khắp Trung Quốc, đẹp bậc nhất là Bạch Vân Quán [1]. Bạch Vân Quán ở phía ngoài cửa tây của Bắc Kinh, là tổ đình của Toàn Chân phái, nổi tiếng là «Thiên hạ đệ nhất tùng lâm». Tên ban đầu của nơi này là Thiên Trường Quán, xây dựng năm 722 theo sắc lệnh của Đường Huyền Tông.

Đời Kim, giặc Khiết Đan phương bắc kéo xuống phương nam đánh phá, Thiên Trường Quán bị hủy hoại nặng nề. Năm 1167 Kim Thế Tông ra sắc lệnh trùng tu, đặt tên lại là Thập Phương Đại Thiên Trường Quán. Năm 1202, đạo quán bị đốt cháy, Kim Chương Tông ban sắc lệnh trùng tu năm 1203, đổi tên là Thái Cực Điện, rồi lại đổi thành Thái Cực Cung.

Đời Nguyên, Bạch Vân Quán nổi danh kể từ Khưu Xứ Cơ được Thành Cát Tư Hãn quý trọng. Khưu Xứ Cơ về trụ trì Thái Cực Cung năm 1224. Nguyên Thái Tổ ban sắc lệnh tu sửa nơi này và đổi tên thành Trường Xuân Cung. Cuối đời Nguyên, Trường Xuân Cung cũng bị hư hoại trong chiến tranh.


Sơn môn của Bạch Vân Quán

Vào những năm Vĩnh Lạc (1403-1424), vua Minh Thành Tổ ban sắc lệnh trùng tu, và đổi tên nơi này thành Bạch Vân Quán năm 1443.

Quần thể Bạch Vân Quán gồm Bài Lâu (lầu gỗ cao 7 tầng để quan sát tinh tú), Linh Quan Điện (thờ thần hộ pháp của Đạo giáo là Vương Linh Quan), Ngọc Hoàng Điện (thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế), Lão Luật Đường (tức Thất Chân Điện, thờ Toàn Chân Thất Tử), Khưu Tổ Điện (kiến trúc trung tâm của Bạch Vân Quán, thờ Khưu Xứ Cơ), Tam Thanh Các, Tứ Ngự Điện (thờ chư thần của Đạo giáo). Những điện đường này xây dựng không cùng thời gian, bên trong có tượng thờ và hình ảnh trang trí tùy theo mục đích thờ phụng.

PHẬT TỰ

Chùa chiền (phật tự) Trung Quốc xuất hiện từ khi Phật giáo du nhập vào đất nước này. Ban đầu Hán Minh Đế (cai trị 58-75) cho xây riêng một toà nhà ở Lạc Dương để hai cao tăng Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan làm chỗ cư ngụ và tàng trữ kinh Phật. Vì kinh phật ban đầu được chở bằng ngựa trắng chở sang, nên chùa được đặt tên là Bạch Mã tự.


Bạch Vân Tự tại Bắc Kinh, xây dựng năm 1651 với kiến trúc Phật giáo Tây Tạng, đổi tên là Vĩnh An Tự năm 1741 (đời vua Càn Long), trùng tu vào các năm 1743 và 1751

Khi Phật giáo phát triển, các chùa mọc lên rất nhiều, bố cục kiến trúc chùa còn ảnh hưởng theo kiểu kiến trúc qua các dinh phủ quan lại đời Hán (một số quan lại đã hiến nhà làm chùa). Theo cấu trúc này, cổng vào nằm trên trục nam bắc, cách một khoảng sân lại có toà điện, xung quanh là hành lang. Bố cục thông thường của quần thể này là: Cổng chính có ba cửa nhỏ. Bước qua cổng thì thấy ngay một điện thứ nhất (Thiên Vương Điện, có gác chuông hai bên). Kế đó là lớp điện chính (Đại Hùng Bảo Điện), gồm đại điện thờ chư phật; sau đại điện là pháp đường để thuyết pháp giảng kinh. Hai bên pháp đường là trai đường và thiền đường. Nơi ở của phương trượng (sư trụ trì), nhà kho, nhà bếp, nhà tắm, và nhà tiếp khách thì thiết kế xung quanh.


Lục Hoà Tháp ở Hàng Châu, xây dựng năm 971 (đời Tống)

Quần thể kiến trúc chùa theo kiểu Ấn Độ còn có tháp đá. Kiểu kiến trúc này du nhập vào Trung Quốc qua ngả Trung Á. Khi tháp xuất hiện tại Trung Quốc (có lẽ cuối đời Hán), thì tháp có dáng cao và thon thả. Tháp có khoang rỗng để đặt tượng phật. Khi tháp được bản địa hoá thì nó thay đổi kiểu dáng, có nhiều tầng lầu, vừa có thể để tượng phật vừa có thể đứng ngắm cảnh. Các tháp thông thường có 7 tầng (cũng có khi 9 hay 11 tầng) xây dựng trên nền cao, các tầng dưới thì cao và to, các tầng trên thì thu nhỏ dần.

Tháp đời Nam Bắc Triều có tầng trệt cao rộng, các tầng trên rất thấp là khít nhau. Tháp đời Đường bằng gạch hay gỗ, phổ biến là tháp hình vuông, lục giác, và bát giác. Tháp bát giác thịnh hành sau đời Đường. Đời Tống, tháp bằng gạch và xây đặc ruột. Sang đời Nguyên do Phật giáo Tây Tạng hay Lạt Ma giáo thịnh hành, tháp Lạt Ma giáo xuất hiện cũng nhiều; kể cả trong đời Minh và đời Thanh cũng vậy [2].

Trung Quốc có bốn tháp Phật giáo nổi tiếng nhất:
- Tháp Đại Từ Ân Tự (Đại Nhạn Tháp) (652) thời vua Đường Thái Tôn, ở Tây An, Thiểm Tây;
- Tung Nhạc Tự Tháp (523) thời Bắc Nguỵ ở Hà Nam;
- Vân Nham Tự Tháp (601) thời Hậu Chu ở Tô Châu;
- Tứ Môn Tháp (611) ở Sơn Đông.

Đại Nhạn Tháp tại Tây An, xây dựng năm 652 đời Đường (hình ảnh như hiện nay là do đã được trùng tu, bổ sung từ đời Minh).

Bước qua tam quan, nổi bật trên nền trời là toà tháp xây bằng đất nung, cao 7 tầng, 64 m, hình vuông. Dưới có tấm đại tự bằng đá khắc ba chữ “Đại Nhạn Tháp”. Phân tầng bằng gờ đua ra rộng, trang trí đơn giản. Cả 6 tầng trên đều có cửa sổ cuốn xoay ra bốn hướng của bốn mặt tháp. Trên mặt tháp có nẩy các trụ tạo nên những ô hình chữ nhật đứng theo số lẻ, dưới cùng có 9 ô, lên trên 7 và 5 ô.

Đường Tăng sau khi đi Tây Trúc lấy kinh đã dành 20 năm để dịch bộ kinh từ chữ Phạn sang chữ Hán và lưu giữ bản gốc và bản dịch ở trong toà tháp Đại Nhạn

Tại nơi đây có rất nhiều ngôi nhà làm việc, đàm đạo của một cơ quan dịch thuật cổ xưa, bao gồm nhiều phòng ban liên quan đến nhau chặt chẽ. Các toà nhà ngang, dãy dọc đều nối với nhau bằng hệ thống hành lang đề phòng khi mưa nắng không ảnh hưởng đến vận chuyển kinh Phật.


[1Khanh Hi Thái, Trung Quốc Đạo Giáo, quyển 4, Đông Phương xuất bản trung tâm, Thượng Hải, 1996, tr.231-232.