Trang nhà > Bạn đọc > Kẻ trong cuộc > CHUYỂN ĐỔI CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG THEO NGHỊ ĐỊNH 115 TẠI VIỆN KH&CN (...)

CHUYỂN ĐỔI CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG THEO NGHỊ ĐỊNH 115 TẠI VIỆN KH&CN GTVT

Thứ Tư 21, Tháng Tư 2010

Viện Khoa học và Công nghệ Giao thông Vận tải (KH&CN GTVT) là 1 trong 15 đơn vị trong cả nước được Bộ KH&CN lựa chọn là đơn vị thí điểm chuyển đổi cơ chế hoạt động theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP (Nghị định 115) của Chính phủ. Bài viết điểm lại những chuyển biến tích cực cũng như kinh nghiệm của Viện trong quá trình chuyển đổi, đồng thời đề xuất một số ý kiến nhằm tạo điều kiện giúp các tổ chức KH&CN công lập nói chung chuyển đổi thành công và hoạt động có hiệu quả sau khi chuyển đổi.

TÌNH HÌNH CHUYỂN ĐỔI

Theo số liệu thống kê của Bộ KH&CN, tính đến tháng 3.2009, có 504 tổ chức KH&CN công lập thuộc các bộ/ngành và địa phương trong cả nước phải thực hiện chuyển đổi theo Nghị định 115. Trong đó có hơn 200 tổ chức đã có Đề án chuyển đổi được phê duyệt (chiếm khoảng 45%). Viện KH&CN GTVT là một trong số hơn 200 tổ chức KH&CN nêu trên, đã có Đề án chuyển đổi được Bộ trưởng Bộ GTVT phê duyệt từ tháng 12.2006 theo định hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Sau hơn 2 năm thực hiện chuyển đổi cơ chế, tuy còn nhiều khó khăn và thử thách, song tình hình hoạt động của Viện đã và đang có những chuyển biến đáng mừng với tốc độ tăng trưởng bình quân 10-13%/năm. Năm 2009 được xác định là năm bản lề của quá trình chuyển đổi cơ chế, Viện đã hoàn thành (bước I) việc sắp xếp lại tổ chức và hoạt động của các đơn vị trong toàn Viện, theo đó 100% số đơn vị làm công tác chuyên môn đã được hợp thức hoá chuyển thành các viện, trung tâm thuộc Viện, có đủ tư cách pháp nhân để từng bước thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo phân cấp của Viện. Tuy nhiên, theo đánh giá chung, tiến trình chuyển đổi cơ chế tại Viện vẫn còn chậm, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu, vì ngoài vấn đề chính là lo triển khai hoàn thành kế hoạch công tác hàng năm, Viện cũng đang còn phải từng bước giải quyết những tồn tại cũ để lại và khắc phục các khó khăn, trở ngại chính sau:

Tiềm lực còn khiêm tốn, mức độ đầu tư trang thiết bị còn nhỏ và nguồn vốn lưu động do tự tích lũy được còn khó khăn, cho nên đến nay toàn Viện mới có khoảng 30% số đơn vị đạt được mức tăng trưởng tốt, đảm bảo được nguồn việc và khẳng định được khả năng tự chủ, tự chịu trách nhiệm; 40% số đơn vị đạt ở mức từ trung bình đến khá; còn lại khoảng 30% số đơn vị thuộc diện khó khăn, chưa tự lo được nguồn việc

Do sự mất cân đối giữa nguồn việc, nhu cầu về nhân lực và khối lượng công việc với thực tế tuyển dụng lao động đã làm cho tình trạng tuyển dụng lao động trong nhiều năm qua khá tùy tiện, thiếu chọn lọc, dẫn đến tình trạng lao động dôi dư hiện nay khá lớn.

Trình độ nhận thức, am hiểu pháp luật và năng lực quản lý, khả năng tìm việc, tổ chức quản lý đơn vị của một bộ phận nhỏ cán bộ trong Viện còn hạn chế, dẫn tới một số đơn vị thiếu công ăn việc làm và khả năng tự chủ, tự chịu trách nhiệm cũng rất hạn chế khi thực hiện chuyển đổi cơ chế hoạt động.

Do chịu ảnh hưởng của lề lối làm việc thời bao cấp, thiếu năng động nên chưa thực sự tạo ra được các bước đột phá trong hoạt động KH&CN; nhiều đơn vị trong Viện lâm vào tình trạng thường xuyên thiếu vốn cho hoạt động kinh doanh, dịch vụ và thực sự gặp khó khăn trong chủ động mở rộng thị trường và quy mô hoạt động.

Để đảm bảo sự nghiệp chuyển đổi cơ chế của Viện thành công, một trong những công việc đầu tiên cần phải nhận thức và xác định rõ, đó là đánh giá một cách khách quan về thực trạng của Viện trong hoạt động KH&CN, bao gồm cả những mặt mạnh và mặt yếu, những yếu tố tiềm năng và các điểm hạn chế, từ đó mới có cơ sở để đề ra các bước đi thích hợp, mục tiêu cụ thể cần phải đạt được cho từng giai đoạn phát triển và tính toán dự báo lộ trình chuyển đổi cho phù hợp với các điều kiện khách quan và chủ quan của đơn vị.

NHỮNG KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC CẦN KHẮC PHỤC

Về nghiên cứu KH&CN

Việc đăng ký và thực hiện các đề tài/dự án KH&CN hàng năm là nguồn thu quan trọng, đồng thời cũng là cơ hội tốt để không ngừng nâng cao trình độ nghiên cứu của cán bộ trong các tổ chức KH&CN. Tuy nhiên, đối với Viện KH&CN GTVT, hoạt động nghiên cứu của Viện trong những năm qua mặc dù đã có nhiều cố gắng song chưa tạo ra được sự đột phá so với tiềm năng và về cơ bản vẫn giữ ở mức tăng trưởng đều về kinh phí dành cho đề tài nghiên cứu khoảng 10-15%/năm.

Thực tế cho thấy, nguồn thu từ hoạt động nghiên cứu mới chỉ chiếm tỷ lệ dưới 10% tổng doanh thu hàng năm của Viện và trong suốt thời gian qua, hoạt động và nguồn thu của Viện phải dựa chủ yếu vào việc thực hiện các dịch vụ KH&CN. Chính vì đặc điểm như vậy nên trong khoảng 10 năm trở lại đây, số lượng và tỷ lệ cán bộ làm dịch vụ KH&CN có phần tăng lên và tỷ lệ cán bộ có khả năng làm nghiên cứu tại Viện lại đang có xu thế giảm dần. Theo thống kê sơ bộ, nếu như trong thời kỳ 1974-1994, tỷ lệ cán bộ có khả năng làm nghiên cứu đạt khoảng 35-40% tổng số cán bộ, công nhân viên toàn Viện, thì từ năm 1995 trở lại đây, tỷ lệ đó đã giảm, chỉ còn trên dưới 10%. Mặt khác, mặc dù công tác quản lý khoa học của Viện những năm qua đã được cải tiến và đổi mới một bước song cho đến nay, công tác nghiên cứu khoa học vẫn chỉ tập trung vào một số người có năng lực chuyên môn, do đó quỹ thời gian dành cho nghiên cứu bị hạn chế, dẫn tới tình trạng nhiều đề tài/dự án bị chậm tiến độ, tình trạng nợ đọng một số đề tài từ các năm trước vẫn kéo dài mà chưa có được biện pháp hữu hiệu để khắc phục. Thực trạng này cho thấy, với một đơn vị nghiên cứu công lập như Viện hiện nay, nếu chỉ dựa vào nguồn kinh phí cấp cho hoạt động nghiên cứu hàng năm thì cũng mới chỉ đảm bảo cho một phần nhỏ hoạt động của Viện. Các lý luận về việc sử dụng kinh phí cấp cho các đề tài nghiên cứu hàng năm để thay thế cho việc cấp ngân sách chi thường xuyên cho các đơn vị công lập xem ra chỉ phù hợp với các viện chuyên làm nghiên cứu cơ bản, còn đối với các viện nghiên cứu ứng dụng thì trước mắt trong 5-10 năm tới khó đạt được. Rõ ràng là tuy Viện KH&CN GTVT đã có nhiều cố gắng, song cũng còn nhiều việc phải làm để chấn chỉnh và sắp xếp lại nhằm mục tiêu đạt tăng trưởng lớn hơn và tăng cường hoạt động KH&CN để đạt hiệu quả cao hơn trong nhiều năm tới.

Về hoạt động dịch vụ KH&CN

Số liệu thống kê kết quả triển khai hoạt động có thu của Viện trong một số năm qua cho thấy, tốc độ tăng trưởng về hoạt động dịch vụ KH&CN hàng năm của Viện đạt khoảng 10%/năm. Riêng mức tăng trưởng kể từ khi Viện bước vào giai đoạn chuyển đổi cho đến nay (từ 2007-2008) tăng tới 15%/năm. Tuy nhiên, so với yêu cầu chung của quá trình chuyển đổi, với mức doanh thu đạt được như hiện nay, theo tính toán so với tổng số nhân lực của Viện hiện có thì mới chỉ đáp ứng khoảng 60-65% so với nhu cầu. Vì vậy, để có thể đứng vững và phát triển sau khi kết thúc giai đoạn chuyển đổi, Viện phải thúc đẩy các loại hình hoạt động dịch vụ KH&CN lên một tầm cao mới để có thể tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường.

Trong hoạt động dịch vụ KH&CN của Viện, bên cạnh một số đơn vị mạnh đã có khả năng tự chủ, tự chịu trách nhiệm và xứng đáng được biểu dương trong quá trình chuyển đổi thì vẫn còn những đơn vị đạt mức sản lượng khiêm tốn so với kế hoạch đề ra và đặc biệt vẫn còn một số đơn vị yếu kém. Các đơn vị này, nếu không có các biện pháp đặc biệt về tổ chức lại sản xuất hoặc kiện toàn công tác cán bộ thì khó có thể trụ nổi trong cơ chế thị trường. Khi tìm hiểu về nguyên nhân tạo nên sức mạnh vượt trội của một số đơn vị mạnh hoặc sự trì trệ, yếu kém của các đơn vị trong Viện, Đảng ủy và Ban lãnh đạo Viện đã chỉ ra được nguyên nhân cơ bản và trực tiếp nhất chính là ở khâu cán bộ (thể hiện chủ yếu qua trình độ, năng lực của cán bộ quản lý đơn vị). Vì vậy, song song với quá trình chuyển đổi cơ chế, công tác kiện toàn tổ chức và nhân sự của Viện đòi hỏi phải được triển khai theo đúng các quy định và trình tự, thủ tục hiện hành song cũng phải đáp ứng được các đòi hỏi về công tác cán bộ cho thời kỳ chuyển đổi. Theo đó, mẫu người cán bộ điển hình trong giai đoạn chuyển đổi phải là những người có đạo đức tốt, hiểu biết và tuân thủ pháp luật; có tâm huyết và trách nhiệm cao với tập thể; có khả năng tập hợp quần chúng và lãnh đạo đơn vị; có trình độ chuyên môn vững vàng; có khả năng tìm kiếm, khai thác nguồn việc cũng như có năng lực quản lý, tổ chức tốt công việc.

Về đầu tư tăng cường tiềm lực KH&CN

Những năm gần đây, Bộ GTVT cũng như Bộ KH&CN đã hỗ trợ nhằm tăng cường năng lực hoạt động KH&CN cho Viện. Tuy nhiên, do những hạn chế về năng lực tổ chức chỉ đạo và yếu kém trong khâu quản lý của những năm trước đây, mà một số dự án đầu tư cho Viện được triển khai từ hơn chục năm nhưng cho đến nay vẫn đang còn bị tồn đọng, chưa quyết toán được hoặc một số thiết bị tuy phải nhập ngoại nhưng lại không có khả năng sử dụng (vì nhập phải thiết bị lạc hậu về công nghệ). Trong khi đó, để hỗ trợ Viện duy trì và phát triển hoạt động KH&CN, kể từ năm 2004 trở lại đây, Bộ GTVT đã quan tâm và vẫn tiếp tục rót vốn đầu tư tăng cường năng lực KH&CN cho Viện theo nguồn kinh phí sự nghiệp KH&CN hàng năm, trong đó mỗi năm Viện được Bộ phê duyệt đề án đầu tư tăng cường trang thiết bị và cấp kinh phí để mua sắm thiết bị từ 2-4 tỷ đồng/năm. Để có thể hỗ trợ và tạo dựng cho Viện một tiềm lực vững mạnh khi thực hiện cơ chế mới, đồng thời để đáp ứng được với những đòi hỏi mới của ngành GTVT khi bước vào thực hiện quy hoạch chiến lược phát triển hệ thống đường bộ và đường ôtô cao tốc đến năm 2020 và định hướng đến 2030, nhu cầu về đầu tư xây dựng cơ bản nhằm cải tạo, nâng cấp Viện và tiếp tục đầu tư tăng cường tiềm lực KH&CN hiện đại cho Viện lại càng trở nên cấp thiết và là một trong những điều kiện hỗ trợ quan trọng nhất đối với Viện trong quá trình chuyển đổi.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHÍNH NHẰM THÚC ĐẨY TIẾN TRÌNH CHUYỂN ĐỔI

Để chuẩn bị bước vào giai đoạn mới của sự nghiệp chuyển đổi cơ chế hoạt động nhằm đưa Viện theo kịp
và đáp ứng được với những đòi hỏi của cơ chế thị trường ngay sau khi kết thúc giai đoạn chuyển đổi, Viện đã xác định nội dung cơ bản của công tác chuyển đổi cơ chế cần phải đồng thời tiến hành trên 3 mặt, đó là:

Đổi mới phương thức hoạt động KH&CN nội bộ

Để xoá dần tình trạng mất cân đối giữa khối lượng công việc đang còn hạn chế với số lượng người tuyển vào dư thừa, Viện đã chủ động tính toán và giao kế hoạch nghiên cứu và phục vụ sản xuất cho các đơn vị trên cơ sở tính theo sản lượng đầu người. Khi đó, các đơn vị đông người buộc sẽ phải nỗ lực phấn đấu tìm kiếm nguồn việc để triển khai khối lượng công việc cao hơn, sao cho đảm bảo thu nhập bình quân đầu người của đơn vị phải đạt tối thiểu gấp 2 lần lương cơ bản theo quy định của Viện và mức thu nhập này sẽ được nâng dần lên hàng năm cho phù hợp với tình hình nghiên cứu, sản xuất và tình hình phát triển kinh tế - xã hội. Để nắm bắt và chỉ đạo kịp thời tình hình hoạt động KH&CN, hàng năm Viện thực hiện phân loại các đơn vị trực thuộc ra 4 loại A, B, C và D (tương ứng với các mức độ đơn vị mạnh, trung bình, yếu và kém). Từ đó, có các biện pháp phù hợp để hỗ trợ cho các đơn vị loại A có điều kiện thuận lợi hơn để ngày càng phát huy thế mạnh và đạt hiệu quả cao hơn trong hoạt động KH&CN; giúp đỡ và chấn chỉnh hoạt động của các đơn vị loại B và C, đồng thời xem xét áp dụng các biện pháp cần thiết để điều chỉnh về mặt tổ chức, kiện toàn công tác nhân sự đối với các đơn vị loại D. Ngoài ra, bước vào giai đoạn chuyển đổi, để tạo điều kiện thuận lợi ban đầu cho các đơn vị từng bước thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo phân cấp, Viện đã chủ động cấp vốn lưu động và hỗ trợ điều kiện làm việc, trang thiết bị cho các đơn vị. Trong 6 tháng đầu năm 2009, Viện đã trình Bộ GTVT phê duyệt dự án tăng cường năng lực nghiên cứu khoa học giai đoạn 2 năm 2009 bằng nguồn vốn ngân sách. Đồng thời, Viện đã lập kế hoạch và dự toán trình Bộ GTVT phê duyệt dự án tăng cường năng lực hoạt động KH&CN bằng nguồn vốn tự có của Viện với tổng mức đầu tư trên 2 tỷ đồng đầu tư cho Phòng thí nghiệm trọng điểm đường bộ III, Phòng thí nghiệm trọng điểm đường bộ I, Trung tâm KHCN và bảo vệ môi trường, Trung tâm công nghệ máy xây dựng và cơ khí thực nghiệm. Bên cạnh đó, Viện cũng đang xúc tiến lập và trình Bộ GTVT xem xét và phê duyệt dự án tăng cường năng lực nghiên cứu khoa học cho năm 2010 bằng nguồn vốn ngân sách trên cơ sở đăng ký của các đơn vị và rà soát của Viện.

Đổi mới cơ chế quản lý điều hành nội bộ

Để nhanh chóng khắc phục và tiến tới xoá bỏ lề lối quản lý điều hành cũ (vốn đi kèm với sự trì trệ, lỏng lẻo và thiếu tính chuyên nghiệp), từ giữa năm 2008 đến nay, Viện đã ban hành 25 quy chế nội bộ phù hợp với cơ chế chuyển đổi theo Nghị định 115. Đây là những quy chế quan trọng và thiết thực nhất đối với Viện nhằm phục vụ cho hoạt động của Viện trong quá trình chuyển đổi cơ chế. Ví dụ như các quy chế về quản lý hoạt động KH&CN, quy chế về quản lý hoạt động có thu, quy chế đầu tư mua sắm trang thiết bị, quy chế thực hành dân chủ, quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế về trật tự nội vụ... Bên cạnh đó, Viện tiếp tục duy trì nề nếp quản lý điều hành Viện theo hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000.

Đổi mới công tác tổ chức

Để góp phần thúc đẩy sự nghiệp chuyển đổi cơ chế hoạt động, Viện đã và đang có nhiều hoạt động tích cực trong kiện toàn công tác tổ chức cán bộ để đáp ứng các đòi hỏi của thực tế chuyển đổi. Về mặt tổng thể, Viện đã điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cán bộ trong giai đoạn trước mắt 2009-2010 và cho giai đoạn tiếp sau 2011-2015 theo hướng dẫn và chỉ đạo của Bộ GTVT. Đối với công tác tuyển dụng cán bộ, từ tháng 5.2009, Viện đã thành lập và đưa Hội đồng tuyển dụng cấp Viện vào hoạt động, đảm bảo tính công khai, minh bạch và hiệu quả trong tổ chức tuyển dụng cán bộ. Ngoài ra, trong 6 tháng đầu năm 2009 Viện đã triển khai kế hoạch đào tạo, đã cử cán bộ đi học tập ở trong và ngoài nước. Đặc biệt quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ trẻ, nhiệt tình, năng động, có tài và có đức, có khả năng tìm kiếm công việc và tổ chức thực hiện, để tạo ra yếu tố quan trọng nhất là con người nhằm đảm bảo cho sự thành công của sự nghiệp chuyển đổi và phát triển Viện.

Định hướng mô hình tổ chức của Viện trong thời gian tới là củng cố các đơn vị trong Viện, phấn đấu không còn đơn vị yếu kém, xây dựng các đơn vị phát triển bền vững. Theo đó, bước sang năm 2010, toàn Viện phấn đấu không còn đơn vị loại D, năm 2011 có 50% số đơn vị trong Viện đạt loại A và B và năm 2012 phấn đấu không còn đơn vị loại C.

KẾT LUẬN

Viện KH&CN GTVT là một trong số các viện nghiên cứu quốc gia nằm trong hệ thống gồm trên 500 tổ chức KH&CN công lập thuộc đối tượng chuyển đổi theo Nghị định 115 và là 1 trong 15 đơn vị được Bộ KH&CN lựa chọn là đơn vị thí điểm chuyển đổi cơ chế trên toàn quốc. Về chủ quan, Viện đã có sự nhất trí cao và quyết tâm lớn để phát triển theo hướng bền vững và mạnh mẽ. Tuy nhiên, về khách quan, Viện xin kiến nghị các cấp lãnh đạo và các cơ quan hữu quan quan tâm giải quyết những trở ngại mà các đơn vị chuyển đổi đang gặp phải. Đó là một số quy định tuy đã được Nghị định 115 cho phép nhưng cho đến nay vẫn chưa có khả năng áp dụng, liên quan đến các ưu đãi nhằm tạo cho các đơn vị chuyển đổi có thêm lợi thế về đầu tư, về tài chính, về nhiệm vụ được giao, về phát huy ưu thế khai thác mặt bằng, đất đai và những ưu đãi khác.

Cái quý nhất và cần phải bảo vệ nhất đối với hệ thống các tổ chức KH&CN công lập sau khi chuyển đổi cơ chế, đó chính là việc phải bảo toàn và phát triển được đội ngũ các nhà khoa học có đủ tài, đức để phụng sự có hiệu quả cho sự nghiệp phát triển KH&CN nước nhà. Mà để có được một người cán bộ trợ lý nghiên cứu thì phải cần tới 3-5 năm, còn đào tạo một cán bộ để có khả năng làm được chủ nhiệm đề tài/dự án cấp bộ thì tối thiểu phải mất 10 năm, để đào tạo ra một chủ nhiệm đề tài/dự án cấp nhà nước thì phải không dưới 15 năm. Công tác nghiên cứu khoa học có những đặc thù riêng, do đó để đảm bảo sự nghiệp chuyển đổi cơ chế hoạt động KH&CN thành công, thiết nghĩ cũng cần có thêm một thời gian nữa, tối thiểu là một vài năm, để các cơ quan có trách nhiệm còn có thêm thời gian và thực tiễn tìm hiểu thực trạng công tác chuyển đổi, từ đó tiếp tục định ra các chính sách hợp lý, hỗ trợ cho các đơn vị chuyển đổi, đồng thời cũng để tạo điều kiện cho các đơn vị chuyển đổi có thêm thời gian để điều chỉnh dần hoạt động của mình, định ra các bước đi thích hợp và phương pháp hợp lý nhất để động viên được các nhà khoa học cống hiến có hiệu quả cho sự nghiệp KH&CN, cũng như để tạo ra cơ chế thích hợp nhất nhằm thúc đẩy hoạt động KH&CN ngày càng phát triển trong nền kinh tế thị trường.

(Source: TC Hoạt động khoa học)