Xem lẹ

Trang nhà > Văn chương > Cổ học > CÚC THU BÁCH VỊNH (1)

NGÔ THÌ NHẬM (1746-1803)

CÚC THU BÁCH VỊNH (1) CÚC THU BÁCH VỊNH (1)

50 bài thơ đối thoại với Phan Huy Ích (1751-1802)

Thứ Hai 9, Tháng Tư 2018

Cúc Thu Bách Vịnh 菊 秋 百 詠 là một tập thơ 100 bài gồm 50 bài của Phan Huy Ích và 50 bài của Ngô Thì Nhậm viết từ tiết Trùng Dương năm 1796. Ngô Văn gia phái gọi tập thơ là Cúc Hoa Thi Trận.

Sau những biến cố xảy ra trong triều đình Tây Sơn từ khi vua Quang Trung mất năm 1792. Thái sư Bùi Đắc Tuyên chuyên quyền đày quân sư Trần Văn Kỷ. Tướng Vũ Văn Dũng đem quân về giết cha con Bùi Đắc Tuyên và tướng Ngô Văn Sở. Tình hình nội bộ Tây Sơn mâu thuẫn, Ngô Thì Nhậm lui về nhà cũ tại Bích Câu cạnh hồ Kim Âu, thành Thăng Long, mở Trúc Lâm thiền viện xưng danh Hải Lượng thiền sư, viết Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh [1]. Phan Huy Ích cũng mở Bảo Chân quán xưng danh Bảo Chân đạo sĩ tu đạo Lão.

Điều đáng quý là hai vị đối thoại nhau bằng thơ Đường luật những vấn đề: Văn học, Triết học, Mỹ học, Lịch Sử... kèm theo lời chú dẫn. Thật là thú vị và hiếm có một cuộc đối thoại như thế trong lịch sử văn học Việt Nam, nhất là hai danh nhân hàng đầu trong lịch sử Văn Học Việt Nam mà chúng ta chỉ mới biết đến qua Hoàng Lê Nhất Thống Chí và bản dịch Chinh Phụ Ngâm Khúc. Chúng ta chỉ biết đến phần nổi của tảng băng, còn phần chìm của tảng băng là các tác phẩm viết bằng chữ Hán, mà tiếc thay này nay chúng ta chỉ đọc được như đọc tác phẩm ngoại quốc, qua những bản dịch thi ca khập khểnh bằng văn xuôi. Trong bài này tôi dịch toàn bộ 50 bài thơ Đường luật của Ngô Thì Nhậm và chỉnh đốn những sơ sót bản dịch nghĩa để bạn đọc có thể thưởng thức được những tuyệt tác của di sản văn học Việt Nam.

50 bài thơ trao đổi về tình yêu, tâm tình, đạo lý, tâm sự... thật thú vị.

Ngô Thì Nhậm đã nêu lên một chuyện chẳng ai để ý là Ngũ Kinh của Khổng Tử đều khởi đầu bằng chuyện tình yêu nam nữ. Bằng bài thơ lấy đề tài câu khởi đầu Năm Kinh, ông đã bàn luận chuyện tình yêu thật thú vị.

Kinh Thi khởi đầu từ bài thơ Quân tử hảo cầu. Bạn đẹp đôi lứa của người quân tử.

Kinh Thư khởi đầu bằng chuyện Vua Nghiêu gả hai cô con gái Nga Hoàng và Nữ Anh cho Đế Thuấn, để thử tài tề gia, trước khi nhường ngôi cho trị nước.

Kinh Dịch khởi đầu bằng quẻ Đế Ấ́t quy muội. Vua Đế Ấ́t gả chồng cho em. Em gái vua cớ gì mà can dự vào hình tượng ? Bởi vì con em vua chúa phần nhiều kiêu căng hợm hĩnh, nên khiến cho họ hạ bớt vẻ tôn quý để phục tùng chồng. Muốn đại cát phải hạ mình, thân với người hiền, lấy sự trung chính mà đi lên.

Kinh Xuân Thu khởi đầu bằng chuyện Khương Thị hội Tề Hầu. “Năm Trang Công thứ 5, mùa đông tháng 12, nàng Khương Thị về hội với Tề Hầu ở đất Cáo. Khương Thị là vợ Lỗ Hoàn Công, em gái Tề Tương Công... Hoàn Công mất ở Tề. Khương Thị bèn thông dâm với anh ruột là Tương Công.” Thơ Y Ta, thơ Tệ Cẩu trong Kinh Thi khinh chê Khương Thị. Thánh nhân đã cố gắng nói rõ cái ý sâu xa chuyện gian dâm.

Kinh Lễ khởi đầu: “Thiếp tuy lão niên vị ngũ thập tất dự ngũ nhật chi ngự”. Vợ thiếp tuy già, nhưng nếu tuổi chưa tới 50, ắt phải được dự 5 ngày một lần ngự. Màn rách còn cất dấu, trai biển nẩy hạt châu khi đã sống lâu năm, thánh nhân chỉ rõ cách dùng cày nghĩa để làm ruộng tình.

Ai bảo Ngũ Kinh của Khổng Tử chỉ bàn chuyện khô khan về đạo đức. Thật thú vị Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích, một thiền sư một đạo sĩ đã bàn chuyện tình yêu bằng kinh điển đạo Khổng thật là sống động.

Ngô Thì Nhậm sinh năm 1746 tại làng Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Đông, con trưởng Ngô Thì Sĩ. Gia tộc họ Ngô một bồ Tiến sĩ.

Năm 1765 ông đỗ đầu thi Hương. Năm 1769 đỗ khoa Sĩ Vọng được bổ làm Hiến sát phó sự Hải Dương. Năm 1775 đỗ tiến sĩ, được bổ làm Hộ khoa cấp sự trung, rồi thăng Giám sát Ngự sử đạo Sơn Nam, sau đổi làm Đốc Trấn Kinh Bắc.

Năm 1780 xảy ra vụ án Trịnh Tông. Việc phác giác Ngô Thì Nhậm bị nghi ngờ là người tố cáo vì được thăng Hữu thị lang bộ Công. Bây giờ thân phụ ông mất ông lấy cớ về chịu tang tránh sự dèm pha.

Tháng 9 năm Nhân Dần 1782 Trịnh Sâm mất, tháng 10 kiêu binh nổi dậy đưa Trịnh Tông lên ngôi chúa. Ông trốn về quê vợ Sơn Nam ẩn náu suốt 6 năm.

Năm Mậu Thân 1788. Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc lần II, ông được Trần Văn Kỷ tiến cử. Nguyễn Huệ trọng dụng phong làm Tả Thị lang bộ Lại tước Trình Phái Hầu. Trong thời Quang Trung tài năng ông được phát huy trong lĩnh vực ngoại giao, chính trị, quân sự. Nào ngờ chưa đầy 4 năm vua Quang Trung mất trong căn bệnh đột ngột ngày 29-4 nhuận năm Nhâm Tý, 1792, Ông được triều đình cử làm Chánh sứ đi báo tang và cầu phong cho vua Cảnh Thịnh mới lên mười. Lên đường ngày 20-2 năm Qúy Sửu 1793 đến Yên Kinh ngày 8-5 và trở về nước tháng 9 âm lịch.

Tình hình chính trị rối ren triều Tây Sơn, năm Bính Thìn 1796, ông rút lui về phường Bích Câu. Những nâm tháng cuối cùng triều Tây Sơn, ông lại được gọi về Phú Xuân. Nâm 1801, Phan Huy Ích và ông bị bắt, được Gia Long hỏi ý dò xét, rồi được tha. Năm 1803 ông cùng Phan Huy Ích, Nguyễn Gia Phan bị Binh Bộ Thượng Thư bộ Binh Đặng Trần Thường đem ra đánh ở Văn Miếu, sau trận đánh đòn ông về nhà không lâu thì mất ngày 16-2 năm Quý Hợi, 1803 hưởng dương 57 tuổi. Ông để lại các tác phẩm: Nhị thập nhất sứ toát yếu. Bút hải tùng đàm, Ung văn nhàn vịnh, Ngọc đường xuân khiếu, Cúc hoa thi trận, Thu cận dương ngôn, Cẩm đường nhàn hoài, Hoàng hoa đồ phả, Hàn các anh hoa, Kim mã hành dư, Xuân thu quản kiến, Trúc lâm tông chỉ nguyên thanh,

Được TS Nguyễn Tuấn Cường, nhà nghiên cứu Hán Nôm, gửi cho Ngô Thì Nhiệm toàn tập, trong đó có Cúc Hoa Thi trận, thật là quý báu, xin cảm ơn anh. Các bản dịch nghĩa nhiều bài người dịch không lưu ý đến mạch thơ thông suốt toàn bài, người viết bài thơ muốn nói gì, gửi gắm tâm sự gì ? bài thơ có liên hệ gì trong tiểu sử; nên nhiều bài câu này không thông với câu kia. Ví dụ bài 11 câu “Lãi chu nhã hứng dật kinh đường”. Dịch: “Hứng thanh nhã của thuyền Phạm Lãi tràn ra ở kinh đường.”, chú thích: “kinh đường là ao ở kinh đô.” Không ai có thể ngao du trong một cái ao ? Điều này ngược với chuyện ai cũng biết Phạm Lãi sau khi giúp Việt Vương Câu Tiễn thắng nước Ngô, ông từ quan cùng Tây Thi ngao du Ngũ Hồ, 5 hồ lớn Trung Quốc, và các sông Giang Bắc, Giang Nam, chứ không phải là ngao du trong ao ở kinh đô. Bài 14 câu 1: “Bỉ thướng thường lai, thử há đường,” dịch: “Dấy lên nhà thì đây xuống khỏi nhà. “ có lẽ người dịch cũng không hiểu mình viết gì? Người Việt có câu ai cũng biết: “Hết cơn bĩ cực đến hồi thái lai.” Tôi xin dịch lại: “Qua cơn khổ cực đến vận may thời thái lai, nào có chọn con đường”. Ý nói vì bị nghi là người tố giác trong vụ án Trịnh Tông, nên khi Trịnh Tông lên ngôi chúa, ông phải trốn tránh, ẩn náu khổ cực suốt 6 năm, cả Phan Huy Ích vì là em rể cũng bị hệ lụy, nhưng khi Tây Sơn Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai, ông lại được Nguyễn Huệ mời ra trọng dụng lo việc Bắc Hà và sau đó việc ngoại giao với nhà Thanh sau khi chiến thắng. Sơ sót như thế khá nhiều trong bản dịch.

Trong Cúc Thu Bách Vịnh có những bài thơ Ngô Thì Nhậm thương nhớ đến vua Quang Trung và cho rằng triều Quang Trung là thời đại vua sáng tôi hiền tụ họp một nhà. Sau khi vua mất ông được cử đi sứ báo tang. Lòng ông luôn thương nhớ trông vời đến lăng Đan Dương nhà vua, bài 27, ông khâm phục: “Võ công hiển hách nơi nương tựa, Mưu lược anh minh lưu hiến chương.” Ông ước mơ gặp lại một thời đại như thế, nhưng không còn tìm thấy nữa.

BÀI 1.

Nguyên dẫn: Gặp tiết Trùng Cửu (Mồng 9 tháng 9 âm lịch) ốm ngồi ngắm cảnh cảm thấy rất buồn. Tiếp được thơ ông đưa tới, bất giác tinh thần phấn chấn, bèn lạm nối vận kính gửi sang ông, mong ông xem tới và sửa cho thì thật là điều vinh hạnh.

Hoa phụng tiên thơm nức nhà phụng nghi. Trăng soi đầy thềm, tuyết phủ đầy bờ ao. Khen ông lúc hứng lên vẫn thường có rượu. Cười cho tôi khi ốm vẫn gượng làm thơ. Thuật lại chuyện vui họ Phùng coi thường Doanh Quốc [2]. Tài khó át bầy tôi nhà Chu, xem rẻ việc ẩn núi Thú Dương [3]. Chốn phòng tu muốn tu mà chưa ổn. Vì có ngón tay nhỏ gõ cửa nhiều phen quấy rầy [4].

Bài thơ Ngô Thì Nhậm muốn nói đến thân phận ông giữa hai lựa chọn. Hoặc trung quân với ông vua Lê Chiêu Thống, với chúa Trịnh Khải thời đại suy tàn, như Trụ Vương tàn ác chẳng ra gì, bị nhân dân chán ghét, hai ông lẩn trốn trên núi Thú Dương, đốt núi cũng không ra, ẩn đến chết đói, được Mạnh Tử khen là thánh của bậc thánh. Hoặc Phùng Đạo ai thắng thì theo ra làm quan, làm Tể Tướng quản lý việc nước. Ngô Thì Nhiệm và Phan Huy Ích không như Lý Trần Quán, Trần Danh Án người đương thời theo Trịnh, Lê chống Tây Sơn đến chết, hai ông đã chọn thái độ Phùng Đạo. Các ông phục vụ cho nhân dân cho đất nước, lo công việc đối ngoại trước láng giềng to lớn hơn mười lần nước ta lúc nào cũng muốn sáp nhập nước ta thành quận huyện. Triều đại chúa Trịnh, nhà Lê, vua Quang Trung, Thái sư Bùi Đắc Tuyên chiếm quyền lực triều đình, tướng Vũ Văn Dũng, Trần Quang Diệu hay vua Gia Long chỉ là chuyện nội bộ Việt Nam, các triều đại mạnh được yếu thua, cờ đến tay ai nấy phất xưng là Thiên mệnh, nhưng đất nước, nhân dân chỉ là một. Thời ông khái niệm quốc gia, dân tộc chưa rõ như ngày nay nhưng hai ông đã thấy rõ việc đó. Khi triều đình trong vòng tranh chấp, hai ông không dính vào việc tranh giành quyền lực, sau khi đi sứ báo tang và cầu phong cho vua Cảnh Thịnh năm 1793, Bùi Đắc Tuyên đã cho con Bùi Đắc Trụ làm Trấn Thủ Quảng Nam, chức vụ thời các chúa Nguyễn dành cho Thế Tử chuẩn bị việc thừa kế ngôi Vương. Hai ông về ẩn nơi chốn thị thành: người trở thành thiền sư, người thành đạo sĩ nhưng cũng chẳng yên, chiếu chỉ vua Cảnh Thịnh lại mời ra, lại lên đường lo việc bang giao.

Cảm hứng họa lại bài thơ ông Thị Ngự

Phụng tiên thơm nức phụng nghi đường,
Trăng sáng đầy thềm ao tuyết tràn.
Khen hứng ông thường đầy rượu uống.
Tự cười ta bệnh vẫn thơ tuôn.
Lạc quan Phùng Đạo khinh Doanh quốc,
Tài khó Di, Tề ẩn Thú Dương.
Thiền viện muốn tu, tu chẳng ổn,
Tay ngà ai gõ cửa bao phen.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Phụng tiên hương phức phụng nghi đường.
Nguyệt mãn đình giai tuyết mãn đường.
Hứng đáo tiên công tần hữu tửu,
Bệnh lai tiếu ngã cưỡng thành chương.
Tự truyền Phùng Lạc đê Doanh Quốc,
Tài khó Di Tề ẩn Thú Dương.
Thiền viện muốn tu tu chẳng ổn,
Khâu quan tiêm thủ nảo đa phương.

BÀI 2.

Nguyên dẫn: Đọc bài đến câu: “Xỉ phát ninh vô cảm vãn dương.” Răng tóc đổi khác, lẽ nào không cảm khái trước cảnh chiều, nỗi buồn lại tăng thêm, không thể ngăn nổi. Những điều ca tụng nhau trong bài trước của tôi, chính là cái tự khen tự chê của nhà thơ, chẳng sợ người ngoài biết, chỉ sợ người ngoài không biết đến mà thôi. Song buồn một nỗi, đó đều là những lời dong dài! Còn như bàn về cái lẽ “hàm chương” thì làm sao có thể nói hết được! Nhưng trong lúc nhàn rãnh, xướng họa thổ lộ chí hướng đành tạm tả cái mối tình sâu kín của ta, và phó thác cho “Trùng Dương chủ nhân” [5] nhận xét, mong được cười và lưu lại lấy làm hân hạnh.

Thân là học sĩ bận rộn bước lên nhà ngọc Viện Hàn Lâm. Thương thay mãnh trăng tàn (nơi quê nhà) in bóng trên ao vắng. Mày râu già rồi luống uổng soi gương. Gấm vóc (triều đình Tây Sơn) tặng nhiều, chưa lời báo đáp. Dép ngọc thoa vàng, ẩn chốn thị thành thật là bậc đại ẩn. Tiếng thưa, rượu nhạt lại là tiết nguyên dương. Cùng ông quên cả dáng hình quên cả ý định. Hà tất phải nhọc lòng tìm phương chữa chứng cuồng điên.

Thân phận đa đoan chốn ngọc đường,
Bỏ trăng tà bóng lạnh ao vườn.
Mày râu già thẹn gương soi ngắm,
Gấm vóc nhiều phen chữa báo đền.
Dép ngọc, thoa vàng ông đại ẩn,
Tiếng thưa rượu nhạt tết Trùng Dương.
Cùng ông quên dáng hình, quên ý,
Hà tất nhọc công chữa chứng cuồng.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Thân thị đoan minh bộ ngọc đường,
Khả lân tà nguyệt ấn hàm đường.
Tu mi lão hỉ đồ lâm kính,
Cẩm tú đa hồ mạc báo chương,
Châu lý, kim thoa chân đại ẩn,
Hy thanh, đạm tửu hữu nguyên dương.
Dữ công vọng tưởng khiêm vong ý,
Hà tất y cuồng khổ mịch phương.

BÀI 3.

Nguyên dẫn: Kính đọc bài giai tác, hùng tráng thay. Cái phong vị như tập Kích Nhưỡng của Thiệu Tử [6].

Bỗ̉ng dưng phút chốc được vời đến triều đình (minh đường). Như cây quế cạnh cung trăng, như cây liễu bên ao. Như chiếc chĩnh tự chứa đầy (kiến thức). Tài kẻ cuồng ngông được tiếng nhiều áng văn chương rực rỡ. Như cây trước sân giữ lại lá chống chọi với sương giá. Được cài hoa, mang trâm hốt khi đứng chầu trước nhà vua (thái dương). Gảy đàn (tri kỷ) mời ông đêm mai dời gót tới. Chỉ bảo cho tôi con đường lớn, để biết hướng mà đi.

Như không lại đến chốn minh đường,
Quế ở trong trăng, ao liễu buông.
Chất chứa lòng đầy như chiếc chỉnh,
Tài cuồng rực rỡ áng văn chương.
Cây còn lá biếc qua đông giá,
Trâm tóc hoa cài trước thái dương.
Đàn gảy đêm mai mong bạn tới,
Chỉ bàn tôi biết hướng con đường.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Hư linh phương thốn hữu minh đường,
Quế tại thiềm khuyên, liễu tại đường.
Tích thực tự doanh ngung nhược phẫu,
Tài cuồng đa tại phỉ nhiên chương.
Diệp lưu đình thụ đương hàn tuế,
Hoa sáp triều trâm đối thái dương.
Cổ sắt lai tiêu kỳ bí dỉ.
Chu hành thị ngã thứ tri phương.

BÀI 4.

Nguyên dẫn: Kính nhận được quý thơ, thấy ý muốn biện hộ cho Dì Gió. Vậy xin họa nguyên vận mong ông cười mà nhận cho.

Lòng tiêu diêu sảng khoái tự mái nhà tranh. Vì chưa rảnh để đến nâng chén thưởng cảnh. Cuối xuân còn bận rộn bên đài Đồng Tước [7]. Câu này Ngô Thì Nhậm muốn đùa Phan Huy Ích còn bận với các dì hầu thiếp. Đầu thu xao lãng với văn chương bên sông Ngân. Bảo toàn năng lực luyện thuốc tiên với thủy ngân để khai mở trăng thu [8]. Sức khỏe còn sung, sức non chống chọi với ánh dương già. Rất mừng cho ông nay vẫn còn cường tráng. Theo đường trận thơ bày cuộc vuông tròn.

Bài thơ này Ngô Thì Nhậm trêu Phan Huy Ích than là vì Dì Gió mà cảm bệnh không đến dự tiệc: Không đến uống rượu thưởng cảnh với ông vì có nhiều vui thú nơi mái thảo đường, vì bận rộn với các dì hầu thiếp còn đang xuân. Mùa thu đến sông Ngân Hà sáng tỏ cũng xao lãng với văn thơ. Lo luyện thuốc tiên với thủy ngân để khai mở vầng trăng tỏ. Thân thể còn tráng kiện gân sức. Rất mừng ông vẫn còn khỏe mạnh, tôi theo cuộc vuông tròn của ông bày trận văn thơ.

LỜI THAN VUI MỬNG

Tiêu dao vui thú mái tranh quê,
Chẳng rảnh nâng ly thưởng tuyết về.
Đồng Tước xuân sang còn vướng bận.
Ngân Hà thu đến lãng xao thơ.
Bảo tồn luyện thủy trăng thu tỏ,
Tráng kiện còn gân sức lão già.
Mừng bạn hãy còn thân tráng kiện,
Vuông tròn bày cuộc trận văn thơ.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

KHÁNH VÃN

Tiêu diêu khởi thị lậu mao đường,
Vị hạ huề bôi thưởng tuyết đường.
Đồng Tước xuân thâm mang tác đối,
Ngân hà thu thiện lãn vi chương.
Bảo năng tàng hống khai thu nguyệt,
Kiện đáo sinh thê chiến lão dương,
Đa hỷ thi ông cường bất túc,
Kinh tòng thi trận bố viên phương.

BÀI 5.

Nguyên dẫn: Tiếp được quý thư phúc đáp nói rằng quan Sĩ sư gửi tới [9]. Xét rõ tình lý không cần phải biện bạch nữa, kính y vần trước, mong được vui nhận.

Phan Huy Ích cho rằng mình bị hàm oan. Ngô Thì Nhậm tiếp tục đùa cho rằng án tình rõ ràng, tình lý không cần phải biện bạch, thanh minh nữa. Bữa tiệc thanh cao hôm trước có đông đảo bạn bè như bạn Mạnh Thường Quân đến thưởng trăng, ngắm hoa làm thơ, thì chú như vua có giai nhân bước vào cung nên bận rộn không đến. Tôi chẳng buồn vì có nhiều bạn làm thơ ngâm vịnh. Nào ai cấm chú luyện thuốc tiên, như Lã Động Tân luyện thuốc, vợ chồng cùng lên tiên. Chú đừng biện bạch chim hồng bay cao không có sức. Bay vạn dặm trong gió thu mát cũng là một phương thuốc hay.

Án tình đã đưa đến tụng đường đối chứng. Say sau bữa tiệc Cao Dương [10] trăng sáng đầy ao. Ba ngàn khách quý từ biệt cửa Kim Mã. Hai trăm giai nhân bước lên cung vua lầu Kiến Chương. Tăng Tử Cố chẳng buồn vì đã có thi xã. Nào ai ngăn nổi Lã Thuần Dương luyện linh đan. Lông cánh chim hồng chớ bảo là không có sức. Muôn dặm gió thu mát, ấy là phương thuốc hay.

Đến nay nhà thơ vẫn học theo nếp cũ. Hồ phán thủy [11] vẫn như xưa bốn bề trong suốt. Vui thú tao nhã vui tiếng đàn ca. Cuộc chơi thanh cao nơi cảnh đẹp sông sâu nước cả. Khói nước ngày thường tạm gửi hứng vào đó. Gió thổi mây bay rồi cũng đi theo ánh dương. Tin rằng thú xướng họa hơn hẵn các thú vui khác. Nhưng ý đó phải hỏi bậc đại phương [12]

Nếp cũ người thơ theo đến nay,
Phán hồ trong suốt tỏ tường bày.
Tiếng đàn ca hát vang vang tiếng,
Sông nước rong chơi cảnh đẹp thay.
Khói nước lòng thường theo hứng gửi,
Gió mây soi bóng ánh dương đầy.
Xướng họa tin rằng hơn mọi thú,
Cần hỏi cao nhân cái ý này.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

TỰ LẠC HOÀI

Thi thất như kim học khẳng đường,
Phán hồ y cựu triệt phương đường.
Lạc danh giáo hệ huyền ca hưởng,
Du tuấn anh du quýnh lạo chương.
Yên thủy tâm thường liêu thác hứng,
Phong vân đáo để các tòng chương.
Canh thù tự tín hiền tha hiểu,
Thử ý hoàn tu chất đại phương.


(còn tiếp)

TS Phạm Trọng Chánh


Xem online : CÚC THU BÁCH VỊNH. PHAN HUY ÍCH (1)


[1Theo Wikipedia, sách do Vũ Trinh và Nguyễn Sở viết, những ý chính của sách là của Ngô Thì Nhậm. Thiền viện Trúc Lâm ở phường Bích Câu còn có 24 người khác tham dự những cuộc đàm luận trên. Phần đầu nói về hành trạng của ba tổ Trúc Lâm. Phần hai gồm 24 chương nói về 24 thanh, bàn 24 vấn đề liên hệ đến giáo lý Nho và Phật, nhan đề là Ðại Chân Viên Giác Thanh. Ngoài ra còn có một phần phụ do Hải Ðiền (Nguyễn Ðàm) soạn, nhan đề là Ðại Chân Viên Giác Thanh Tiểu Khấu. 24 Thanh Phối Khí Ứng Sơn, và 24 tên mới đặt cho Bồ Tát Quan Âm, mỗi tên ứng với mỗi thanh để phối hợp là vì vị Bồ Tát này nhờ quán sát âm thanh mà chứng được quả vị viên thông. 24 chương trình bày 24 đề tài thiền quán, mỗi đề tài là một thứ âm thanh. Hai mươi bốn âm thanh là: Không thanh, Ngộ thanh, Ẩn Ngộ thanh, Phát tưởng thanh, Kiến thanh, Hoán thanh, Thuyết thanh, Thu thanh, Ðịnh thanh, Tịch nhiên vô thanh, Minh thanh, Phán thanh, Tục thanh, Bất quả thanh, Tàng thanh, Hưởng thanh, Lưu động thanh và Dư thanh.

[2Phùng Đạo thời Ngũ Đại thời Hậu Đường làm Tể Tướng. Hậu Đường bị Tấn diệt. Phùng Đạo đầu hàng rồi cũng làm Tể Tướng. Hậu Tấn bị Hậu Hán diệt, Hậu Hán bị Hậu Chu diệt. Đạo cứ đầu hàng các triều đại mới. Triều Hậu Chu được phong làm Doanh Quốc Công. Phùng Đạo viết bài Trường Lạc Lão từ nói về sự vinh hoa của mình trải 4 triều đại, 10 đời vua. Quan niệm Nho giáo chính thống “Trung thần bất sự nhị quân” xem khinh Phùng Đạo là không tiết tháo, liêm sỉ.

[3Bá Di, Thúc Tề bầy tôi vua Trụ nhà Ân. Trụ Vương tàn ác bị Chu Võ Vương diệt. Bá, Thúc không chịu ăn thóc nhà Chu. Lên núi Thú Di ăn rau vi và cuối cùng chết đói. Mạnh Tử khen là thánh chí thánh, người thanh cao nhất trong các bậc thánh nhân.

[4Tiêm thủ là tay nhỏ, tay phụ nữ trong Kinh Thi, đây chỉ triều đình vua Cảnh Thịnh.

[5Trùng Dương chủ nhân là một chưởng môn Đạo Lão đời nhà Thanh, đây chỉ Phan Huy Ích Bảo Chân đạo sĩ

[6Thiệu Tử là Thiệu Ung đời Tống, sống ẩn dật nhiều lần được mời ra làm quan, nhưng ông từ chối. Ông có tác phẩm Y Xuyên Kích Nhưỡng tập

[7Kiều: Một nền Đồng Tước khoá xuân hai Kiều. Tào Tháo xây đài Đồng Tước, con út là Tào Thực làm thơ ca tụng vẻ đẹp hai chiếc cầu bắt ngang. Khổng Minh muốn khích Chu Du đánh trận Xích Bích thay một chữ khoá rồi diễn dịch thành: Tào Tháo xây đài Đồng Tước để chuẩn bị bắt Nhị Kiều là vợ Tôn Quyền và vợ Chu Du về giam ở đấy.

[8Đạo Lão luyện thuốc trường sinh với chì và thủy ngân và quan niệm sự giao hợp nam nữ điều độ cũng là một phương thuốc trường sinh.

[9Quan Sĩ sư là người xét xử kiện tụng.

[10Tiệc Cao Dương: theo Kinh Thi là tiệc người phẩm chất thanh cao.

[11Hồ phán thủy: Giữa hồ có phán cung làm nhà dạy học. Quốc tử giám còn gọi là phán cung

[12Bậc đại phương: theo Trang Tử là người có kiến thức rộng, có tầm mắt nhìn xa trông rộng.

Có nhắn tin hay bình luận gì không?

xét trước, đăng sau

Diễn đàn này được điều hợp trước: bài vở đóng góp sẽ xuất hiện sau khi được quản trị viên chấp thuận.

Chi tiết về bạn (không bắt buộc)
Votre message
  • Ce formulaire accepte les raccourcis SPIP [->url] {{gras}} {italique} <quote> <code> et le code HTML <q> <del> <ins>. Pour créer des paragraphes, laissez simplement des lignes vides.