Xem lẹ

Trang nhà > Sử­ sách > Thời mới > Cầu sông Kwai và tuyến đường sắt tử thần (kỳ 2)

Cầu sông Kwai và tuyến đường sắt tử thần (kỳ 2)

Thứ Ba 8, Tháng Giêng 2008

XEM KỲ 1: Cuộc mộ phu tàn ác

16.000 người lính đồng minh đã vĩnh viễn không trở về quê hương. Nhưng họ vẫn là những sinh linh may mắn khi 100.000 công dân châu Á khác đã vùi xác trong vô danh, không có lấy một tấm bia mộ để tưởng nhớ.

Xem thêm: HỒ SƠ TƯ LIỆU VỀ PHÁT XÍT NHẬT

MỖI THANH RAY, MỘT KIẾP NGƯỜI

Rất nhiều địa danh với những cái tên chết chóc được những công nhân khổ sai 65 năm trước gọi, nay thành tên chính thức trên bản đồ hành chính Thái Lan.

Kế hoạch hình thành mạng lưới đường sắt xuyên Á, không phải là ý tưởng của người Nhật. Đầu thế kỷ 20, đế quốc Anh đã khảo sát tuyến đường này nhưng rồi đành bỏ dở. Bởi chỉ hơn 400 km nhưng phải băng qua hàng loạt rừng rậm, dốc núi và phải xây tới 300 cây cầu để vượt ghềnh thác của sông Kwai Yai và Kwai Noi.

Nhưng tham vọng và sự tàn ác đã khiến phát xít Nhật bất chấp cả thực tế. Không phải chỉ vì sợ đồng minh trả đũa sau trận Trân Châu cảng mà còn là những mỏ vàng, kim cương và những cánh rừng gỗ tếch ở Miến Điện. Thứ tài nguyên đắt đỏ ấy nếu xuôi về được ga xe lửa Changi ở Singapore coi như đã đặt chân trên đất Nhật. Bởi đường hàng hải tây Thái Bình Dương với nước Nhật bấy giờ đã như cái ao trong nhà.

Dự án điên cuồng và xuẩn ngốc

Mệnh lệnh số 1 về tuyến đường sắt được Bộ tư lệnh Quân đội Hoàng gia Nhật ban hành tháng 6 năm 1942. Nội dung khá trùng khớp với bản khảo sát của người Anh đưa ra năm 1903. Với khổ đường 1m, chiều dài toàn tuyến là 415 km, từ Nong Plaluk đến Kanchanabury, vượt sông Kwai Yai và Kwai Noi đến biên giới Miến Điện để nối thẳng lên Yangun và Thanbyuazayat tại vùng vịnh Andaman.

Chỉ có một điểm khác biệt duy nhất, họ muốn làm tuyến đường này chỉ trong vòng một năm thay vì năm năm như bản khảo sát. Sự nóng vội đó đã phải trả giá ngay khi tuyến đường chưa được khởi công.

Người nhận lệnh thực hiện dự án này là trung tướng Shimada Noubo, chỉ huy trung đoàn đường sắt số 9, và 11 sĩ quan cấp cao đã thiệt mạng trong một chuyến khảo sát bằng không quân vì không thuộc địa hình. Dù thế, chỉ ba tháng sau mệnh lệnh này, ngày 16 - 9 –1942, tuyến đường đã được khởi công từ hai đầu Thái Lan và Miến Điện.

Cái chết của những sĩ quan, kỹ sư cao cấp không chỉ gây khó khăn cho quân Nhật. Hàng trăm ngàn tù nhân đồng minh và phu đường châu Á đã phải lãnh hậu quả từ những tính toán sai lầm của các kỹ sư Nhật cấp thấp.

Cuộc khảo sát từ trên không thất bại đã buộc quân Nhật phải sử dụng bản đồ từ thế kỷ 19 và kiến thức phỏng đoán của những kỹ sư còn lại. Theo hồi ký của tù binh người Úc Hugh Clarke, việc xây dựng và khảo sát thiếu chuyên nghiệp chỉ được người Nhật phát hiện vào tháng 1-1943 khi hai đầu tuyến đường ray đã không thể nối với nhau vì bị lệch tới hơn 1km.

Hạn chế về kỹ thuật và những sự cố ấy không làm cho quân Nhật từ bỏ dự án mà càng làm tăng sự cuồng điên, đổ lên đầu tù binh và dân phu.

Khủng khiếp hơn địa ngục

“Bạn sẽ không sợ địa ngục vì ở đây còn kinh khủng hơn cả địa ngục” – đó là lời của trung tá Weary Dunlop, chỉ huy trưởng nhóm tù binh Úc, được lưu lại tại một tấm bia ở nghĩa trang chiến tranh Kanchanabury. Đó là sự miêu tả ngắn gọn nhưng đầy đủ nhất về nỗi thống khổ trên tuyến đường này

Công việc ngay khi khởi công đã rất nặng, mỗi ngày một nhân công phải xẻ được ít nhất 0,6 mét khối đất đá. Định mức này giúp quân Nhật mau chóng hoàn thành cung đường qua đèo Three Pagodas (Đèo Ba Chùa), nơi tướng Shimada Noubo đã bỏ mạng khi khảo sát. Nhưng nó cũng giúp họ nhận ra là vẫn chưa bóc lột hết sức lực của những tù binh và dân phu.

Khối lượng đào đắp được nâng lên. Quy ước ngày làm 8 tiếng ở một nước công nghiệp phát triển như Nhật không có giá trị tại vùng rừng núi thuộc địa này. Một ca làm việc là 24 giờ và nghỉ ngơi chỉ là ước vọng xa xỉ.

JPEG - 33.2 kb
Nghĩa trang lính Úc tại Kanchanabury. Ảnh: VIỄN SỰ

Đến Kanchanabury, tôi nhận ra có rất nhiều địa danh với những cái tên chết chóc được chính những công nhân khổ sai 65 năm trước gọi tên nay thành tên chính thức trên bản đồ hành chính Thái Lan.

Đó là cầu Cỗ Bài gần nhà ga Hintok, do tù binh Anh đặt tên. Vách đá hai mố cầu đã nuốt chửng gần 100 người, 29 người khác bị đánh chết. Số tù binh thiệt mạng quá nhiều là do bản thiết kế nóng vội của quân Nhật khiến cầu bị gãy. Nó phải xây lại đến ba lần, xếp chồng nhau như ba lá bài trong một kiểu chơi bài Tây.

Đó là đèo Hoả Ngục (Hellfire), theo cách gọi của tù binh Úc. Ngọn đèo được thi công cả vào ban đêm và từ trên cao nhìn xuống như những ánh đuốc soi công trường quyện với tiếng rên la của tù binh bị hành hạ nhìn như đốm lửa phát ra từ âm ty. Đoạn đường 5km này có 400/1000 tù binh Úc nằm lại.

Hàng vạn dân phu và tù binh may mắn sống sót sau những đòn roi và công việc nghiệt ngã đã tiếp tục bị vùi xác vì dịch tả. Mùa mưa năm 1943, ít nhất hai phân đội bị chết vì bệnh tả chỉ trong có một tuần. Một tù binh người Anh ghi lại: “Mỗi buổi sáng, các nhân viên y tế lại đem vài chục cái cáng vào và khi họ đi ra trên mỗi cáng là những đôi chân buông thõng”. Người chết nhiều đến mức quân Nhật đã buộc phải quẳng những người xấu số lên giàn thiêu vì sợ dịch lây lan. Có những phân đội số người sống đã không còn đủ để đào huyệt chô người chết.

280 xác người cho mỗi km đường

Cả khi cây cầu đã xây xong, chết chóc vẫn tiếp diễn cho đến tháng 8 - 1945 khi quân Nhật đầu hàng quân đồng minh. Trung tá Weary Dunlop còn nhớ: “Sau khi hoàn thành tuyến đường, họ bắt chúng tôi đào những cái hố nói là làm hồ bơi. Nhưng khi hoàn thành, rất nhiều đồng đội của tôi đã bị đẩy xuống, xả đạn và đó chính là một nấm mồ tập thể”…

Câu chuyện về số phận bi thảm của hai mươi sáu vạn công nhân đã dài hơn cả con đường mà họ xây nên. Mỗi thanh ray, mỗi bệ đá tại cầu Cỗ Bài, đèo Hoả Ngục… ở hai đầu biên biến giới Thái – Miến hôm nay đều là một lời làm chứng câm lặng, oán thán cho nỗi thống khổ của những người đã bỏ xác 65 năm trước.

Những con số còn lưu ở bảo tàng tại Kanchanabury quá nhiều và quá lớn để ai đó có thể nhớ tất cả. Nhưng tôi và rất nhiều du khách đã dừng lại rất lâu và không thể quên con số 280/1 với dấu cộng trừ phía trước. Đó là số người đã thiệt mạng trên mỗi km để xây tuyến đường sắt này. Một phép so sánh đau đớn khi nó nhiều gần bằng số thanh ray được lắp trên mỗi tuyến đường.

Con số ấy có thể là lời nhắn nhủ rằng, ở dưới địa ngục những bè bạn của Weary Dunlop đã không phải sợ hãi. Bởi có lẽ sự chết chóc ở nơi ấy cũng không thể nhiều bằng trên tuyến đường sắt tử thần này.

116.000 người đã chết

Tuyến đường sắt 415km này được hoàn thành ngày 17-10-1943 tại Konkuita (Kanchanabury - Thái Lan), trễ hai tháng so với dự kiến.

Sau khi tuyến đường xây xong, số tù binh và dân phu còn sống sót vẫn bị tiếp tục giữ lại trong những đội bảo dưỡng cầu. Khoảng hơn mộtvạn người khác bị ép đưa về Nhật để lao động trong các mỏ than. Nhưng 3000 người trong số này đã chết trên biển Thái Bình Dương vì tàu chở họ bị trúng đạn truy kích của quân đồng minh.

Tổng cộng 68.000 tù binh đồng minh và 200.000 dân phu châu Á đã được đưa tới công trường. Trong đó 16.000 tù binh và 100.000 dân phu đã chết.

Từ khi hoàn thành đến năm 1945, quân đồng minh đã nhiều lần đánh phá tuyến đường hòng chặt đứt đường tiếp tế cho quân Nhật tại Miến Điện. Trọng điểm đánh phá là cầu sông Kwai, phải xây dựng lại nhiều lần. Tuy nhiên đến ngày 2-4-1945 thì tuyến đường bị cắt đứt hoàn toàn khi cầu sông Kwai bị phá hủy sau loạt bom từ chiếc B24 của trung tá Bill Henderson.

Theo Nguyễn Viễn Sự (PL)

Vùng đất hoang vu, chết chóc Kanchanabury nay đã là đô thị sầm uất và thanh bình. Ở đó có cả một con phố mang tên Việt Nam để tưởng nhớ những người Việt ngã xuống trên tuyến đường sắt tử thần 65 năm trước.


Xem online : KỲ 3: TRỞ LẠI KANCHANABURY