Xem lẹ

Trang nhà > Gia đình > Sức khỏe > Chăm sóc người bệnh suy tim cấp

Chăm sóc người bệnh suy tim cấp

Thứ Hai 2, Tháng Ba 2009

Suy tim cấp là tình trạng chức năng co bóp của tim bị suy giảm đột ngột, có thể liên quan đến suy giảm chức năng tâm thu (tim co bóp để tống máu) và suy tim tâm trương (tim giãn ra để nhận máu), rối loạn về nhịp tim (nhịp quá nhanh hoặc quá chậm), rối loạn về tiền tải hoặc hậu tải của tim, và còn có thể gặp ở cơn cấp của suy tim mãn. Khi được chẩn đoán suy tim cấp thì tính mạng bệnh nhân đang bị đe doạ và cần can thiệp y tế khẩn cấp...

Tùy theo nguyên nhân mà bác sĩ sẽ có những phương pháp điều trị khác nhau. Người bệnh cần được nghỉ ngơi tuyệt đối và được chăm sóc y tế chặt chẽ, nhằm giảm công làm việc của tim; điều trị bệnh căn nguyên của suy tim cấp và các yếu tố thuận lợi đưa đến suy tim cấp như: rối loạn điện giải, nhiễm trùng, bệnh tiểu đường, rối loạn chuyển hoá, suy giảm chức năng thận...

Bệnh nhân suy tim cấp sau khi được điều trị ổn định sẽ được bác sĩ đánh giá mức độ suy tim (từ độ 1 đến độ 4) và tùy theo mức độ suy tim mà người bệnh có thể tự sinh hoạt hoặc cần người chăm sóc. Về vấn đề dinh dưỡng hằng ngày phải cung cấp đủ năng lượng cho hoạt động cơ thể tuy nhiên cần hạn chế một số chất gây quá tải cho tim như muối hoặc chất đạm khi có suy chức năng thận...

Ðiều trị suy tim cấp

Biểu hiện lâm sàng của suy tim cấp có thể là khó thở đột ngột hoặc sốc tim. Một số tác giả xếp các trường hợp suy tim cấp bao gồm: phù phổi do tim, sốc tim và đợt mất bù cấp của suy tim trái mãn [1]. Một số tác giả châu Âu chỉ xếp phù phổi cấp và sốc tim vào suy tim cấp [2].

1. Phù phổi cấp

Phù phổi cấp do suy tim là cấp cứu nội khoa. Nguyên nhân thường gặp ở nước ta là do hẹp van 2 lá và nhồi máu cơ tim cấp. Các thăm khám cần làm để xác định nguyên nhân và lượng giá độ nặng bao gồm: hỏi bệnh sử và khám thực thể; điện tâm đồ 12 chuyển đạo; theo dõi bằng điện tâm đồ monitoring; huyết đồ, chất điện giải, urê máu, creatinine máu và men tim; độ bão hoà oxy máu qua ngón tay, khí máu động mạch; X quang lồng ngực; siêu âm tim 2D và Doppler màu; thông tim và chụp động mạch vành khi có điều kiện, trong trường hợp: dự định can thiệp ngoại khoa NMCT hoặc phù phổi cấp kháng trị.

Các biện pháp điều trị bao gồm:
- Thở oxy qua mũi 6 lít/phút
- Nitroglycerin: ngậm dưới lưỡi viên 0,4 - 0,5 mg mồi 5-10 phút hay truyền tĩnh mạch với liều khởi đầu 0,3 - 0,5 microgram/kg/phút.
- Gắn đường truyền tĩnh mạch; tiêm lợi tiểu (TD: Furosemide 20-80 mg)
- Morphine Sulfate: 3-5 mg tiêm mạch.
- Ðặt nội khí quản và giúp thở bằng máy khi giảm oxy máu nặng không đáp ứng điều trị ngay và bệnh nhân có toan hô hấp.
- Truyền thuốc trợ co bóp tim như Dobutamine, Dopamine … khi huyết động không ổn định.
- Thuốc tan cục máu (Streptokinase, Urokinase, r - tPA) ở bệnh nhân có NMCT cấp trong 6 giờ đầu.
- Ðiều trị nguyên nhân dẫn đến phù phổi cấp. TD: hẹp khít van 2 lá, hở van 2 lá cấp …

Khi bệnh nhân đã ra khỏi cơn phù phổi cấp, cần tìm cách xác định chắc chắn nguyên nhân bệnh để điều trị lâu dài.

2. Sốc tim

Sốc tim có tiên lượng rất xấu. Khi chỉ điều trị triệu chứng, không tìm được nguyên nhân chữa được, tử vong lên tới 85% [3]. Do đó tất cả bệnh nhân sốc tim cần được tích cực tìm nguyên nhân và nếu có thể điều trị ngay nguyên nhân.

Các thăm khám cần làm cho bệnh nhân sốc tim bao gồm:
- Bệnh sử và khám thực thể.
- Ðiện tâm đồ 12 chuyển đạo, có khi cần cả chuyển đạo ngực bên phải.
- Theo dõi bằng điện tâm đồ monitoring.
- Huyết đồ, tiểu cầu, điện giải đồ, urê máu, creatinine máu, đường máu, men tim, men gan và rối loạn đông máu.
- Khí máu động mạch và nồng độ lactale máu.
- X quang lồng ngực.
- Siêu âm tim 2D và Doppler màu.
- Ðặt ống (catheler) động mạch để theo dõi huyết áp và đo khi máu động mạch.
- Ðịnh lượng dịch xuất nhập.
- Thông tim và chụp ÐMV khi có chỉ định.

Các biện pháp điều trị bao gồm:
- Oxy qua đường mũi: 6 lít/phút
- Ngoại trừ bệnh nhân có T3 rõ, ran ẩm đáy phổi, dấu xung ở phổi và mạch máu phổi trên phim nồng ngực; tất cả bệnh nhân sốc tim cần điều trị dịch truyền nhanh NaCl 9%0 bơm 500 ml/giờ.
- Khi có quá tải dịch trong lòng mạch hoặc khi đã truyền dịch đầy đủ, mà huyết áp tâm thu thấp 70 mmHg, có thể cho thuốc vận mạch như: Dopamine, khởi đầu bằng 4-5 microgram/kg/phút có thể tăng lên đến 15-20 microgram/kg/phút mà huyết áp không tăng có thể thực hiện:
+ Ðặt bóng đẩy ngược nội động mạch chủ.
+ Hoặc TTM Norepinephrine.

Ở bệnh nhân đã có đủ dịch truyền, hoặc quá tải dịch truyền mà huyết áp tâm thu ở khoảng (80 mmHg, có thể truyền Dobutamine 2-3 microgram/kg/phút hoặc Dopamine 2-3 microgram/kg/phút.
- Tái lưu thông ÐMV (nong, mổ bắc cầu) khi có điều kiện, trong trường hợp sốc tim do NMCT cấp không đáp ứng với các biện pháp điều trị nêu trên.

3. Ðợt suy tim cấp trên bệnh nhân suy tim mạn

Nguyên tắc điều trị chung cho nhóm bệnh nhân này là ổn định lâm sàng và huyết động, phát hiện yêu tố làm nặng có thể điều trị được và tìm biện pháp điều trị lâu dài tốt hơn.

Biểu hiện lâm sàng của nhóm bệnh nhân này thường là quá tải khối lượng dịch, gia tăng áp lực đổ đầy thất và giảm cung lượng tim.

Các thăm khám cần làm để phát hiện các yếu tố làm nặng
+ Bệnh sử và thực thể
+ Ðiện tâm đồ
+ Siêu âm tim 2D và Doppler màu
+ Men tim
+ Một số xét nghiệm cận lâm sàng khác tùy theo trường hợp

Khi có triệu chứng nhẹ hay vừa chỉ cần gia tăng thuốc lợi tiểu (tiêm tĩnh mạch hoặc uống) hoặc hợp lý hoá cách điều trị suy tim là đủ. Chỉ khi có biểu hiện nhồi máu cơ tim mới hoặc giảm kali máu nặng, tăng urê máu, loạn nhịp có triệu chứng cơ năng; hoặc có triệu chứng suy tim nặng hơn mới cần nhập viện.

Nguồn: http://www.cimsi.org.vn/TimMach/Default.asp?act=3a27


Xem online : Bệnh suy tim


[1Guidelines for the evaluation and management of heart failure. ACC/ AHA Task force report. jACC Vol 26 No. 5, Nov 1, 1995: 1367-98

[2Guidelines for the diagnosis of heart failure. The Task Force on heart failure of the European Society of Cardiology. Eur. Heart. J (1995): 16; 741 - 751

[3Guidelines for the evaluation and management of heart failure. ACC/ AHA Task force report. jACC Vol 26 No. 5, Nov 1, 1995: 1367-98