LOGO CỦA WEBSITE NÀY

Xem lẹ

Trang nhà > Văn chương > Cổ học > Chân dung Hồ Xuân Hương qua 31 bài thơ tình của Tốn Phong (1)

Chân dung Hồ Xuân Hương qua 31 bài thơ tình của Tốn Phong (1)

Thứ Sáu 25, Tháng Năm 2012

I.

Tiếc rằng cách đây hai trăm năm, Hồ Xuân Hương không như nàng Tiểu Thanh nhờ một hoạ sĩ vẽ chân dung nàng truyền lại cho đời sau. Tiếc rằng không có một nhạc sĩ yêu nàng như Fédéric Chopin mười năm yêu George Sand truyền lại cho đời những Dạ khúc, những Sonate, Préludes bất tử. Tiếc rằng phải trăm năm sau Léon Busy (Fondation Albert Kahn) năm 1915, mới mang chiếc máy ảnh chụp kính màu thô sơ, sang chụp giai nhân, tài tử, thắng cảnh, đời sống ở Hà Nội. May mắn thay có Tốn Phong đã mê Hồ Xuân Hương viết 31 bài thơ tình đủ « chất thành non ». Một tập thơ viết về một người đã hiếm có ngày xưa, mà lại là một người đẹp « thơ thần », « thơ quỷ, « tài cao nhả phượng thế gian kinh », « bà Chúa thơ Nôm », cả dân tộc Việt Nam khao khát tìm kiếm nàng, truyền tụng về nàng, những bậc thi hào như Nguyễn Du, danh sĩ Phạm Đình Hổ, Trần Ngọc Quán, Trần Quang Tĩnh, Trần Phúc Hiển... từng đảo điên vì nàng. Hai trăm năm qua bao bút mực, bao nhiêu tranh cải, tìm kiếm, chờ đợi, thật là một tập thơ quý giá. Thơ Tốn Phong có thể sánh với những bài thơ Đêm mà Alfred de Musset đã viết cho George Sand. Một mối tình đau khổ tuyệt vọng mỗi lời thơ như một lưỡi kiếm vạch trên không trung, còn rực sáng những giọt máu long lanh. Mỗi lời thơ như con chim bồ nông rút ruột, rút máu cho con ăn, như người thi sĩ rút tinh huyết, khổ đau mình để dọn cho người đời bữa tiệc trần thế.

Từ nay lòng khổ vì thương nhớ,
Gối lạnh phòng không nỗi đoạn trường.
(Bài 19)

Gặp lại Phi Mai còn nhớ nhỉ ?
Phong trần đày đoạ một tình đau.
(Bài 31)

Tập thơ Tốn Phong và bài tựa Lưu Hương Ký chép tay do học giả Trần Thanh Mại phát hiện năm 1963 tại Thư Viện Khoa Học Trung Ương Hà Nội, đóng lẫn với bài Du Hương Tích động ký của Chu Mạnh Trinh. Năm 1995 ông Bùi Hạnh Cẩn mới in lại phần chữ Hán toàn bộ thơ Tốn Phong trong tập Hồ Xuân Hương. Thơ chữ Hán chữ Nôm và giai thoại, nxb VHTT. Hà Nội 1995. Công trình ông Bùi Hạnh Cẩn thật đáng hoan nghênh, công bố không dấu diếm những gì mình có, để mọi người từ bốn phương trời có thể cùng nhau nghiên cứu, bàn bạc, không ngại ngùng bản dịch của mình có nhiều điểm còn sai. Điều này khác biệt với thái độ ông Đào Thái Tôn đã dành độc quyền bản chính Lưu Hương Ký suốt 40 năm, và còn 5 bản khác do học giả Trần Thanh Mại mướn người sao chép trước khi mất năm 1964, cũng không biết ai cất dấu nơi đâu ? May thay ông Đào Thái Tôn đã trả lại cho Viện Văn Học trước khi mất năm 2011. Nếu không thì tất cả các công trình nghiên cứu Hồ Xuân Hương qua Lưu Hương Ký cũng mơ hồ như thơ Hồ Xuân Hương truyền khẩu. Lưu Hương Ký của Hồ Xuân Hương đã thoát khỏi số phận Hý phường phả lục của Lương Thế Vinh, người ’mượn’ nó không biết là ai có thể đã mất và con cháu đã vất đi cái di sản quốc gia quý báu. Trường hợp Hồng Hà phu nhân di văn của Đoàn Thị Đỉêm, bà Nguyễn Kim Hưng (phu nhân Gs Nguyễn Huệ Chi) tìm ra đã hơn 40 năm qua, vì không công bố sớm, mấy chục bài thơ trào phúng chữ Nôm cổ giờ đây, không ai đọc được, vì người đọc được là GS Hoàng Xuân Hãn tại Pháp đã qua đời năm 1996.Từ Đoàn Thị Điểm đến Phan Huy Ích khoảng cách 60 năm, là một cuộc thống nhất đất nước sau 250 phát triển hai miền đàng trong, đàng ngoài riêng biệt. Chữ Nôm từ kinh đô Phú Xuân của Vua Gia Long, đã trở thành mẫu mực cả nước, những cách viết, cách đọc chữ Nôm đời Lê Trịnh bị chìm vào quên lãng.

Thơ Tốn Phong gồm 31 bài thơ chữ Hán: 11 bài viết năm 1807 sau khi hỏng thi Hương trường Nghệ lần thứ nhất và 20 bài viết năm 1814 sau khi hỏng thi Hương trường Nghệ lần hai. Thơ Tốn Phong óng ả, bóng bảy trử tình, thơ cho giai nhân thì treo giải nhất chẳng nhường cho ai, nhưng chốn trường quy, thơ để thử ý chí tài năng trị nước bình thiên hạ, thì ta hiểu vì sau chàng lận đận thi cử hai phen không đỗ. Tôi dịch thơ 31 bài này, và sau đó sắp xếp từng câu thơ theo đề mục, để tìm ra cuộc đời Hồ Xuân Hương, quang cảnh, sức khoẻ, sinh hoạt cuộc sống.. Từ thi ca đến thực tế cuộc đời, những câu thơ làm đẹp cuộc sống, nhưng dù sao nó cũng phản ảnh cái nhìn của người đương thời với Hồ Xuân Hương...

Bài I. Tốn Phong viết: Từ Hồ Kim Âu trước cửa Quốc Tử Giám, tôi không phải là anh thuyền chài ở Vũ Lăng, mà cũng gặp được nàng tiên cõi Đào Nguyên. Nhà nàng nằm hướng Đông đối diện với trời xanh Hồ Tây, mưa móc điều hoà. Nàng viết những bài thơ tuyệt vời như mây khói lên, như khúc hát Bạch Tuyết của Sư Khoáng đời Chiến Quốc khó ai hoạ được. Tư cách nàng xuất chúng, thanh nhã không ai ví bằng. Tài văn chương nàng làm thế gian kinh ngạc, nàng là tiên nữ Ngọc Nữ được trời sai xuống trần. Toả ngát hương mai khi cùng nàng nâng chén rượu mừng gặp gỡ. Tôi ngờ gặp nàng vốn sẵn nhân duyên tiền định tự kiếp nào.

Bài 1

Trước nhà cửa Giám, hồ Âu Vàng,
Tìm đến Đào Nguyên, chẳng Vũ Lăng.
Đối mặt trời xanh mưa móc thuận,
Ngâm thơ tuyết trắng khói mây dâng.
Hơn đời phong cách ta sao ví,
Nổi tiếng văn chương tiên xuống trần.
Toả ngát hương mai nâng chén rượu,
Gặp nàng ngờ trước sẵn nhân duyên.

Thơ chữ Hán Tốn Phong tặng Hồ Xuân Hương,
Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt

Kim Âu hồ thượng Giám môn tiền,
Phi Vũ Lăng nhân tự đắc nguyên.
Toạ đối thanh dương điều vũ lộ,
Ngâm thành bạch tuyết khởi vân yên.
Xuất quần phong cốt thanh ư ngã,
Kinh thế văn chương giáng tự thiên.
Phao khước mai hương tần cử tửu,
Đối quân nghi thị cựu hàn duyên.

Chú thích:

Kim Âu, tên hồ ở phường Bích Câu nay đã lấp, khoảng đường Cát Linh gần Văn Miếu Quốc Tử Giám.

Vũ Lăng: Trong Đào Nguyên Ký của Đào Tiềm, ông chài ở Vũ Lăng tìm ra lối vào Đào Nguyên.

Bạch Tuyết và Dương Xuân: hai khúc hát do Sư Khoáng làm ra, theo Tống Ngọc cả nước chỉ 2, 3 người hoạ được.

Bài 2: Trong tao đàn đã xuất hiện vị thần thơ, là người đồng quận duyên may được quen biết nàng.

Nàng vốn dòng dõi gia đình vọng tộc quan Hoàng Giáp Hồ Sĩ Đống, họ Hồ nhiều đời làm quan đứng đầu triều đình.. Nàng xinh đẹp tuyệt vời như tiên giáng trần. Từ ngàn xưa vùng Hoan Châu vẫn nổi tiếng nhiều anh tài tuấn kiệt. Nàng là ngôi sao Khuê kết tụ của văn học mười phân vẹn mười. Nên nhớ 99 ngọn Hồng Lĩnh quê hương của nàng, nàng là tinh anh của núi sông đó. Nàng là hoa mai xinh đẹp nhất chiếm cả mùa xuân cố kinh thành vua Lê.

Bài 2

Tao đàn xuất hiện vị thơ thần,
Đồng quận duyên may được biết nàng.
Hoàng các vốn gia đình vọng tộc,
Hồng nhan tiên giới thác sinh chăng ?
Châu Hoan thuần túy từ ngàn trước,
Khuê tú tinh hoa vẹn thập phần.
Chín chín đỉnh non Hồng có nhớ,
Hoa Mai xuân sắc nhất kinh thành.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt

Tao đàn đàn thượng xuất tao thần,
Đồng quận tương phùng hỉ đắc quân.
Hoàng các khấu lai chân vọng tộc,
Hồng nhan nghi thị thác sinh thân.
Hoan phong thuần túy tri thiên cổ,
Khuê toạ tinh hoa hào thập phần.
Cửu thập cửu phong tằng ức phủ,
Mai hoa độc chiếm đế thành xuân.

Chú thích:

Tao đàn: do chữ Ly Tao, tác phẩm của Khuất Nguyên (300 năm trước Tây lịch) thời Chiến Quốc, nói lên nỗi buồn bực một trung thần nói phải, làm tốt mà vua không nghe theo, để đến nước mất nhà tan. Sau chữ tao được dùng để thay thế những từ văn nhã hay văn thơ xuất sắc, tao đàn là đài thơ, nơi tụ họp những nhà thơ xuất sắc.

Hoàng các: gác vàng, chỉ gia đình quyền quý, tích Đỗ Như Hối làm Tể Tướng nhà Đường ba chục năm, chăm lo cho dân cho nước.Hoàng các tam thập niên, thanh phong tiên vạn cổ. Gác vàng ba mươi năm mà bia thơm để muôn đời... Ám chỉ họ Hồ nay có quan Hoàng Giáp Hồ Sĩ Đống từng đứng đầu triều đình để tiếng thơm đời sau.

Hoan phong: những phong cách cao quý của người vùng Nghệ An, Hà Tĩnh.

Sao Khuê: ngôi sao văn học.

Bài 3. Mùa xuân làng Nghi Tàm bay bay khắp mặt đất hoa tàn rụng. Đi đến Đình Mai hỏi thăm chủ nhân. Nàng hiện ra như người tiên trong mây đang múa khúc Nghê Thường trong giấc mơ Vua Đường Minh Hoàng lên chơi cung trăng. Trong bóng trăng nghe như tiếng nhạc Quân Thiều khúc nhạc trời cảnh tượng thái bình.Một bầu mây nước nhuần nhụy đoá hoa lòng. Mắt nàng sáng như các vì sao, từ vạn dậm các vì sao như mới làm long lanh đôi mắt nàng. Nhìn suốt cầu vòng mà nhớ tới nỗi niềm của Ngưu Lang, Chức Nữ. Ta đã đến gặp nàng không cần cầu vòng, như thiên hà đã phí phạm hết một dòng sông bạc.

Bài 3

Bay bay ngập đất rụng hoa tàn,
Thẳng hướng đình mai hỏi chủ nhân.
Nghê Vũ người tiên mây giáng hiện,
Quân Thiều thiên khúc bóng ca trăng.
Một bầu mây nước hoa nhuần nhị,
Vạn dậm sao trời mắt sáng trong.
Nửa ánh cầu vòng Ngưu Nữ nhớ,
Thiên hà hoang phí một dòng ngân.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Phồn hoa mãn địa lục phân phân,
Khẳng hướng mai đình nhận chủ nhân.
Nghê Vũ tiên dung vân thượng kiến,
Quân Thiều thiên khúc nguyệt trung vân.
Nhất soang vân thủy tâm hoa nhận,
Vạn lý tinh hà nhãn kính tân,
Vọng đoạn hồng kiều Ngưu Nữ tứ,
Thiên hà phí tận nhất giang ngân.

Chú thích:

Nghê Vũ: tích Vua Đường Minh Hoàng nằm mơ thấy lên chơi cung trăng, gặp các tiên nữ, mặc áo xiêm bảy sắc như cầu vòng, múa hát rất đẹp. Vua nhớ lại đặt ra khúc Nghê Thường dạy cung nữ múa hát.

Quân Thiều: tên khúc nhạc nói lên cảnh tương thời thái bình.

Ngưu Nữ, tích Ngưư Lang, Chức Nữ. Chức Nữ con gái Ngọc Hoàng Thượng Đế, yêu chàng chăn trâu, bị trời chia ly bắt thành Sao Hôm và Sao Mai ở hai bên bờ sông Ngân Hà, mỗi năm gặp nhau một lần vào ngày mồng 7 tháng 7 âm lịch, mùa này quạ rụng lông đầu để bắt nhịp cầu Ô Thước cho hai người gặp nhau, nước mắt rơi xuống trần gian
thành mưa ngâu, sau đó lại phải xa nhau.

Bài 4. Một dòng sông bạc làm gì vô ích, vì muôn thuở Ngưu Lang thành người bất tử. Thương mày liễu xanh xanh càng thêm yêu vầng trăng. Mùi hương Mai thoang thoảng làm thêm mãi yêu mùa xuân.. Hứng về cũng thấy thơ sinh quỷ, sầu đến rồi mới hay rượu có thần.. Muốn hỏi nơi Cao Đường người đoán mộng cho vua Sở Trang Vương có đoán được Vua giao hoan với Thần Nữ Vu Sơn mấy lần. ? Phải chăng Hồ Xuân Hương đã đọc cho Tốn Phong nghe những bài thơ đùa nghịch của nàng, những bài thơ có quỷ như bài Thiếu nữ ngủ ngày, Cái Giếng... nàng không chép trong Lưu Hương Ký nên Tốn Phong uống rượu, nóng máu thấy rượu có thần, nên đùa nghịch lại với nàng.

Bài 4

Thiên hà hoang phí một dòng ngân,
Muôn thuở chàng Ngưu, bất tử nhân.
Mày liễu xanh xanh thêm mến nguyệt,
Hương mai thoang thoảng mãi yêu xuân.
Hứng về lai thấy thơ sinh quỷ,
Sầu đến rồi hay rượu có thần.
Ướm hỏi Cao Đường ai đoán mộng,
Gió mưa Đài Sở được bao lần ?

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

Thiên hà phí tận nhất giang ngân,
Chung cổ Ngưu Lang bất tử nhân.
Thanh triển liễu si thiên ái nguyệt,
Hương phiêu mai cốt tối nghi xuân.
Hứng lai dã giáo thi sinh quỷ,
Sầu khứ phương tri tửu hữu thần.
Vị vấn Cao Đường tri mộng khách,
Sở Đài phong vũ ký phiên tân.

Chú thích:

Cao Đường còn gọi là Dương Đài nơi Vua Sở Tương Vương nằm mơ thấy giao hoan cùng thần nữ núi Vu Sơn.

Bài 5. Tốn Phong đến thăm Hồ Xuân Hương tại Cổ Nguyệt Đường. Phía Nam xa xa có dãy núi, phía Bắc là sông Hồng, một dòng sông Tô Lịch nho nhỏ chảy qua (dòng sông chảy qua hào thành Thăng Long và ra sông Hồng cửa Hà Khẩu, Hàng Buồm, bị lấp vào đầu thế kỷ 20). Tốn Phong phải đi đò qua sông, đầu thuyền Tốn Phong còn chèo đẩy ánh trăng, đã thấy chủ nhân Cổ Nguyệt Đường, Xuân Hương Hồ Phi Mai đứng trước nhà mai nở trắng xoá. Gió sương từ xưa, nàng đã trao cho ai, còn ta còn trôi nổi như bèo nước hôm nay giờ sẽ biết ra sao ? Nàng như thần hoa rất yêu mến hiếu khách, thôi thì đàn, sách đến đâu, cuộc sống ở đó.

Bài 5

Phương Nam núi biếc, Bắc Hồng Hà,
Một dãi sông Tô nho nhỏ qua.
Du khách đầu thuyền, trăng toả sáng,
Chủ nhân trước viện, trắng mai hoa.
Phong sương tự cổ xui ai đến,
Bèo nước giờ đây lại nỗi ta.
Rất quý thần hoa yêu mến khách,
Sách đàn đâu cũng áo cơm nhà.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt.

Quần sơn Nam khống, Bắc khâm hà,
Nhất mạch Tô giang tiểu tiểu qua.
Du khách trạo đầu, minh nguyệt sắc,
Chủ nhân đình thượng, bạch mai hoa.
Phong sương tự cổ giao thùy thụ,
Bình ngạnh như kim nại ngã hà.
Tuyệt ái hoa thần, thiên hiếu khách,
Cầm thư tùy xứ tức sinh nha.

Bài 6. Cây bàng đơn côi, che khuất ánh trăng chiếu sáng nhà giai nhân, nhà vắng, chén rượu nàng mời hương vị nồng ấm thanh tao. Lá ngô đồng (cây vông) rơi từ cành biếc, chim phượng múa trong sân. Lối trúc lá vàng bay, chim hoàng oanh chuyền trên cành. Man mác đêm thu gầy gốc mai lạnh, bên bờ hồ Tây đìu hiu rung rinh cành liễu. Khách thơ chợt thấy hồn mộng say sưa, từ giả nàng về còn thấy cây bàng đơn côi che khuất ánh trăng chiếu sáng nhà Hồ Phi Mai... Ông Bùi Hạnh Cẩn trong Thơ Hồ Xuân Hương Văn Học Hà Nội 1995, sđd tr 152 dịch là non côi. Cảnh Hồ Tây không có núi nào che khuất Cổ Nguyệt Đường cả, tôi cho rằng ông đã lầm chữ phong là cây bàng với phong là núi. Ánh trăng khuất sau cây bàng đơn côi chiếu sáng nhà Xuân Hương, đúng hơn. Trong bài thơ Trương Kế: Giang phong ngư hoả đối sầu miên, cây bàng bên sông và ngọn đèn thuyền chài đối sầu trong đêm. Bài thơ cho thấy trước nhà Cổ Nguyệt Đường có cây bàng lớn, có cây vông, lối vào có trúc xanh. Bến trúc Nghi Tàm, bên bờ Hồ Tây có liễu rũ, nhà nàng có nuôi đôi chim phượng hoàng đất, gọi là Cái Cắng, một giống trĩ đủ màu, từ Nghệ An một người bà con đã mang tặng nàng, trong văn bản Landes, Hồ Xuân Hương có bài thơ: cái Cắng đánh nhau.

Bài 6

Cội bàng trăng khuất chiếu hoa đình,
Nhà vắng hương nồng vị rượu thanh.
Biếc rụng cành ngô, sân phượng múa,
Vàng bay lối trúc ngõ chuyền oanh.
Đêm thu man mác mai gầy vóc,
Bến nước đìu hiu liễu rũ cành.
Thoáng tỉnh hồn mơ say mộng khách,
Cội bàng trăng khuất chiếu mai đình.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Cô phong ẩn nguyệt tiếu hoa đình,
Tỉnh viện hương nồng tửu vị thanh.
Ngô lạc bích chi đình vũ phượng,
Trúc phiêu hoàng diệp kính xuyên oanh.
Thu dương dạ sắc hàn mai sấu,
Ngạn lược phong điều tế liễu khinh,
Du giác mộng hồn tao khách túy,
Cô phong ẩn nguyệt tiếu mai đình.

Bài 7. Một dãi sông Tô Lịch giặt vạt áo, nàng ngồi đối mặt với trăm hoa. Tốn Phong hứng thổi sáo tiếng ngân vút như đến sao Bắc Đẩu. Hứng nhập vào ly rượu cùng nàng bàn chuyện thơ xưa và này. Xuân Hương gảy đàn, tiếng đàn mùa thu mát viện thanh vắng. Mộng chuyền giấc mơ hoá bướm mùa xuân vào chăn. Đã chán cảnh phố xá Nam phố phồn hoa, khi lạnh khi nóng đổi thay. Nàng về Cổ Nguyệt đường có riêng một ánh trăng. Xuân Hương đã chán bán sách, nàng dẹp tiệm về lại Cổ Nguyệt Đường, trở lại nghề dạy trẻ. Nhà nàng có trồng nhiều hoa để bán như các gia đình làng Nghi Tàm, Ngọc Hà. Tốn Phong thổi sáo và Xuân Hương đàn nguyệt cầm, cây đàn được yêu chuộng thời bấy giờ. Xuân Hương được Nguyễn Du dạy đàn. (Khúc Hoàng tay Nguyệt còn chờ dạy. Thơ Hồ Xuân Hương). Tiếc rằng tiếng sáo Tốn Phong không được ký âm để truyền lại đời sao, để hiểu thế nào tiếng sáo ngân vút tận đến sao Bắc đẩu.

Bài 7

Một vốc sông Tô giặt áo khăn,
Nàng đây đối mặt giữa hoa ngàn.
Thần vào sáo ngọc tung sao đẩu,
Hứng nhập ly quỳnh chuyện cổ kim.
Đàn chuyển tiếng thu vang tỉnh viện,
Mộng chuyền xuân bướm ngát thơm chăn.
Lạnh nồng ngán nỗi phồn hoa lắm.
Riêng tựa đình mai một ánh trăng.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Nhất cúc Tô giang học tẩy khâm,
Dữ quân đối toạ bách hoa thâm.
Thần lai ngọc quản phi tinh đẩu,
Hứng nhập quỳnh bôi tống cổ kim.
Cầm đệ thu thanh lương tỉnh viện,
Mộng chiền xuân điệp đáo hương khâm.
Viêm lương đệ sái phồn hoa thái,
Tuyệt tự đình mai nhất viện âm.

Bài 8. Gió mát từng cơn quét hoa đào hồng rơi rụng dưới đất, tứ buồn vương vấn hai người nhìn nhau không nói. Năm nay, nơi Cổ Nguyệt Đường còn vui tình phượng loan gặp gỡ, rồi mai đây trên bước đường thi cử công danh, như cá vượt vũ môn hoá rồng biết sẽ ra sao. Khí thiêng trời đất đôi ta cùng hát xướng, ngâm thơ. Duyên lạ mây mưa mặc cho hồn mơ mộng. Đừng nói nhớ nhau với biết nhau, chỉ thấy hôm nay lòng cùng ấm chung chén rượu nồng .

Bài 8

Gió mát từng cơn quét ngấn hồng,
Tứ sầu vương vấn biếng lời chung.
Năm nao nhà nguyệt vui tình phượng,
Sao biết đường mây vượt cửa rồng.
Linh khí đất trời cùng hát xướng,
Mây mưa duyên lạ gửi hồn mong.
Nhớ nhau với biết nhau đừng nói,
Chỉ thấy hồn chung chén rượu nồng .

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Thanh phong vận vận tảo hoa ngân,
Sầu tứ trù mâu lãn đối ngôn.
Nguyệt viện đương niên hài phượng lữ,
Thiên cù hà nhật hoá long môn.
Càn khôn linh khí chung ngâm phách,
Vân vũ kỳ duyên phó mộng hồn.
Mạc thuyết tương tư dữ tương thuyết,
Đồng tâm đãn giác tửu bôi ôn.

Chú thích:

Long Môn: Cửa rồng, cá chép vượt vũ môn hoá rồng, chỉ việc thi đỗ làm quan.

Càn khôn: trời đất.

Bài 9. Muôn tía ngàn hồng, sắc mùa xuân đã tới, u buồn việc gì mà khách sầu bi ? Trong mây, ánh trăng sáng toả lồng cây quế, bên đình người hoa chỉ thích hoa mai. Sầu vướng đầu mày ngài gầy với tuyết, Hương theo ngọn bút nở với xuân. Lưu tên lại cho ngày tháng tìm ý thơ mới. Một nụ cười nàng cũng đủ cho lòng sướng vui. Bài thơ này cho thấy Tốn Phong si tình nặng, mùa xuân tới nàng buồn chi trong muôn sắc hoa, nàng hãy cười lên, một nụ cười nàng cũng đủ cho lòng chàng vui sướng.

Bài 9

Muôn tía ngàn hồng xuân sắc tới,
Việc gì buồn bã, khách sầu chi ?
Trong mây nguyệt chiếu, trăng lồng quế,
Bên quán người hoa chỉ thích mai.
Sầu vướng nét mi gầy với tuyết,
Hương vào ngọn bút nở xuân tươi.
Lưu danh ngày tháng thơ tìm đến,
Một thoáng hoa cười đủ sướng vui.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Vạn tử thiên hồng xuân sắc lai,
U sầu hà sự khách tâm ai ?
Vân gian nguyệt sắc tần phiêu quế,
Đình thượng hoa nhân độc hiếu mai.
Sầu nhập mi phong đương nguyệt sấu,
Hương tùy bút nhụy hướng xuân khai.
Lưu danh tha nhật cầu di án,
Nhất tiếu quần thoa diệc khoái tai.

Bài 10. Khi làm quan ở đền đài, hay sống giang hồ nay đây mai đó đều có thời. Khi thời đến thì như cánh chim Bằng bay cao vút chín tầng trời. Gặp gỡ nàng, người có con mắt xanh nhìn đời lưu lại những bài thơ mùa xuân. Hẹn hò với lòng son trong ánh nắng chiều tà. Chèo thuyền bằng gỗ quế bơi theo dấu chim hạc đen, tôi như chàng Lưu Thần từ Đào Nguyên nơi mây biếc trở về. Nơi trường đình từ biệt, chia tay nếu nàng còn nhớ, hãy ghi lấy địa chỉ tôi, phía Nam Châu Hoan Nghệ Tĩnh, huyện Thạch Hà là quê tôi.

Bài 10

Đền đài sông nước cũng theo thời,
Thời đến Bằng bay chín cửa trời.
Gặp gỡ mắt xanh xuân hát khúc,
Hẹn lòng son sắc nắng vàng trôi.
Ruổi rong huyền hạc, bơi chèo quế,
Từ cõi hoa đào mây biếc trôi.
Từ biệt trường đình nàng hãy nhớ :
Hoan Nam, huyện Thạch chốn quê tôi.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt

Lăng miếu giang hồ các hữu thì,
Thì lai bằng cách cửu thiên phi.
Tao phùng thanh nhãn lưu xuân khúc,
Đề
đính đan tâm đối tịch huy.
Quế trạo mỗi tòng huyền hạc tế,
Đào châu nguyên tự bích vân quy.
Trường đình biệt hậu như tương ức,
Ký thủ Hoan Nam, Thạch ẩn nhi.

Chú thích:

Thanh nhãn: mắt xanh, người có mắt suy xết việc đời. Theo Tấn Thư, Nguyễn Tịch người đời Tấn khi tiếp khách, nếu người tốt, tri kỷ thì mắt ông xanh, nếu là người xấu thì mắt ông trắng.

Huyền hạc: theo truyền thuyết, chim hạc sống hai nghìn năm thì lông biến thành màu xanh, lại sống nghìn năm nữa thì lông biến thành màu đen gọi là huyền hạc tượng trưng người ẩn dật. Ngày nay thì ta biết chuyện này không đúng vì Hạc có nhiều nơi trên thế giới có giống lông trắng, lông xanh, lông đen, lông hồng, lông xám, có giống pha nhiều màu.

Trường đình: đình trạm, trên đường cái quan, năm dậm thì dựng cái đình nhỏ gọi là đoản đình, mười dậm thì dựng cái đình lớn gọi là trường đình, để ngựa trạm và người công sai đưa công văn, người đi đường dừng chân nghỉ ngơi. Trường đình Trung Quốc có từ thời Đường, có lẽ do ý kiến của Trần Huyền Trang sau khi đi Ấn Độ về kể chuyện những đình trạm thời A Dục Vương.

Bài 11. Lại viết thêm. Dịu vợi núi sông mấy dậm đường. Giữa phố phường hỏi thăm chốn đình mai (Cổ nguyệt Đường). Hoa đào tự ta không phải là không có duyên phận. Tơ liễu với ai lại rất có tình. Khách ghen chịu sao được điều oán nhỏ nhặt. Nhớ người, ngàn nụ cười làm nhẹ tấm lòng. Chị Hằng hiểu được riêng tấm lòng thương nhớ, xin toả ánh trăng sáng xuống Cổ Nguyệt Đường.

Bài 11 Lại viết thêm

Dịu vợi giang sơn mấy dậm đường,
Phồn hoa thăm hỏi chốn mai đình.
Đào hoa ta cũng không duyên phận,
Tơ liễu ai kia rất có tình.
Sao để khách ghen điều nhỏ nhặt.
Ngàn nụ cười vui nhẹ tấm thân.
Hằng Nga hiểu được lòng thương nhớ,
Cổ Nguyệt Đường xin toả ánh trăng.

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH

(còn tiếp...)