Xem lẹ

Trang nhà > Văn chương > Cổ học > Chân dung Hồ Xuân Hương qua 31 bài thơ tình của Tốn Phong (2)

Chân dung Hồ Xuân Hương qua 31 bài thơ tình của Tốn Phong (2)

Thứ Bảy 26, Tháng Năm 2012

II.

Năm 1814, Tốn Phong sau khi thi hỏng trường Nghệ năm 1813 lại trở ra thăm Hồ Xuân Hương, viết tiếp 20 bài thơ tặng nàng. Tôi giải nghĩa, và dịch thơ đường luật theo nguyên tác.

Bài 12. Đã quen biết nhau ở Phố Nam thành Thăng Long gần 10 năm trước, nơi hiệu sách gần chùa Lý Quốc Sư Nguyễn Minh Không, thuở ấy Xuân Hương ở xa ngôi nhà nàng sinh trưởng làng Nghi Tàm. Năm nay 1814, gặp lại nàng ở Cổ Nguyệt Đường phía Bắc thành Thăng Long, tình xưa như tơ liễu vẫn còn vấn vương như sương khói. Bao năm qua nàng như cành mai phất phơ trong đông tàn tuyết lộng, đời nàng nhiều phong trần. Từ khi từ biệt lòng Tốn Phong vẫn thương nhớ như nước mênh mông liền trời. Gặp nhau đây nơi nhà nàng thắp sáng ngọn đèn bạc, cùng kể nhau nghe chuyện lưu lạc sông hồ, hò hẹn duyên nợ xa xưa.

Bài 12

Nam Phố mười năm xưa đã quen,
Hoa đào độ ấy cách nguồn tiên.
Năm nay gặp lại nơi thành bắc,
Tơ liễu vẫn còn sương khói vương.
Điểm nửa tình xuân mai tuyết lộng,
Muôn trùng nỗi biệt nước trời chen.
Nhà lan là lúc chong đèn bạc,
Kể chuyện giang hồ hẹn mối duyên.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Nam phố tương tri thập tải tiền,
Đào hoa do tự cách tiên nguyên.
Bắc thành tương kiến kim niên cảnh,
Liễu nhữ hoàn ưng đối dã yên.
Bán điểm xuân tình mai dục tuyết,
Vạn trùng lý tứ thủy như thiên.
Hữu thời lan thất khiêu ngân chúc,
Cộng thoại giang hồ đính túc duyên.

Chú thích:

Nam Phố: Phố Nam thành Thăng Long.

Lan thất: nhà lan, nơi phụ nữ ở.

Túc duyên: mối duyên xưa từ trước.

Ngân chúc: đèn bằng bạc thắp bằng dầu lạc. Thời Hồ Xuân Hương thường dùng đèn bằng đất sét, hay đèn sứ, có bấc bằng sợi bông vải, ngâm trong dầu lạc (đậu phọng), chỉ có nhà khá giả mới dùng đèn bạc chạm khắc công phu.

Bài 13. Xuân Hương Hồ Phi Mai như mai lạnh gặp tuyết xúc động tinh thần, đối mặt với Mai càng thầy yêu nàng nhiều hơn. Thư từ không truyền đạt hết được ý, bèo mây phiêu bạt làm sao hiểu được giấc mộng trong lòng. Tình ta thăm thẳm như nước Hồ Tây sâu ngàn thước, soi gương cũ nàng có gầy hơn trước. Tốn Phong muốn hỏi nàng buồn vui thế nào, nàng vẫn vui vẻ lạc quan rằng tháng tới là tết đến.

Bài 13

Hàn mai như tuyết động tâm thần,
Đối mặt mai càng thương cố nhân.
Cá nhạn sao truyền, thư ngoại ý,
Bèo mây nào biết mộng trong lòng.
Đầm trong nước cả sâu ngàn thước,
Gương cũ gầy soi dáng mấy phần.
Khách đến buồn vui tha thiết hỏi,
Nàng: trong tháng tới lại sang xuân.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Hàn mai như tuyết động tinh thần,
Trùng đối mai hoa bội ái quân.
Ngư nhạn bất truyền thư ngoại ý,
Vân bình nan tín mộng trung thân.
Thanh đàm lãng thủy thâm thiên sích,
Cổ kính si nhan sấu kỷ phần.
Khách lộ bi hoan hà xứ vấn,
Kinh văn lai nguyệt thị tân xuân.

Chú thích

Ngư nhạn: giấy viết thơ ngày xưa có in hình con cá, hay chim nhạn ở đầu trang.

Hồ Tây còn gọi là Dâm đàm, vì mùa Đông đầy sương mù ngày xưa đơn vị thước đo bằng gang tay không chính xác, ngàn thước chỉ là một cách nói Hồ Tây sâu.

Bài 14. Mai lạnh không ghen với màu trắng sương móc xa gần, Nàng đẹp yêu kiều sánh với các mỹ nhân trong sách sử. Tốn Phong cởi ngựa hay đi xe ngựa từ Nghệ Tĩnh ra, trên đầu ngựa đã thấy mùa xuân hoa nở rộ. Nghe văng vẳng như tiếng đàn Phượng Cầu Kỳ Hoàng của Tư Mã Tương Như từ giữa khóm trúc vang vang. Bạn cũ nơi chốn phồn hoa, gặp nhau lại kính e như là mới gặp, tình giao du sống chết có nhau tưởng như mới tạm quen. Nàng trịnh trọng tiếp đãi ân cần như dịp tốt không phụ lòng trời. Tình Tốn Phong như núi màu xanh gấm vóc. Lòng Phi Mai như nước thành gương bạc soi núi biếc.

Bài 14

Ghen chi mai lạnh trắng sương ngần,
Một vẻ yêu kiều sánh mỹ nhân.
Đầu ngựa tin xuân hoa sắc điểm,
Phượng cầm tự khóm trúc vang thanh.
Phồn hoa bạn cũ như ngày mới,
Sinh tử giao tình tưởng mới thân.
Tình trọng duyên may trời chẳng phụ,
Tình non như gấm, nước như gương.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Hàn mai vô đố bạch tân phân,
Nhất dạng kiều tu bạn mỹ nhân.
Mã thủ xuân tùy hoa lý đắc,
Phượng cầm thanh tự trúc trung văn.
Phồn hoa cựu lữ kinh sơ kiến,
Sinh tử giao tình tích tạm thân.
Trịnh trọng nhai kỳ thiên bất sảng,
Tình sơn như cẩm thủy như ngân.

Chú thích:

Phượng cầm: trai tỏ tình với gái, Tích Tư Mã Tương như tỏ tình với Trác Văn Quân gảy đàn cầm mà hát rằng: « Phượng chừ, Phượng chừ, về quê làng ngao du bốn biển tìm chim Hoàng. » thường gọi khúc Phượng Cầu Kỳ Hoàng.

Bài 15. Tình Tốn Phong như núi non màu xanh gấm vóc, phản chiếu xuống lòng Hồ Phi Mai như gương bạc. Chủ nhân Cổ Nguyệt Đường tiếp đãi trịnh trọng, ân cần. Nàng như vầng trăng không thích để đêm đen tối, nàng chìu lòng khách không bỏ lững câu chuyện làm buồn ai bao giờ. Nàng như hoa trời chúa xuân đến đâu nẩy mầm xuân đến đó. Lòng Tốn Phong như khách hò hẹn chốn Đào Nguyên cùng tiên nữ, Chốn Vu Sơn vô tâm làm bài phú thần sông Lạc. Phi Mai nhắc lại chuyện cũ than thở lúc từ giả Tổng Cóc trở về Thăng Long, dời nhà ra mở hiệu sách, một mình lận đận sinh con, khốn khổ vô cùng.

Bài 15

Tình non như gấm nước như gương,
Tình trọng tao phùng với chủ nhân.
Trăng cũ vẫn thường soi mỗi tối,
Hoa trời khắp chốn nẩy mầm xuân.
Đào nguyên hò hẹn cùng tiên nữ,
Vu giáp nào hay hát Lạc thần.
Mai lạnh vẫn thường than nỗi khổ,
Chốn dời hoa mới nẩy thêm cành.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Tình sơn như cẩm, thủy như ngân,
Trịnh trọng tao phùng hữu chủ nhân.
Cổ nguyệt sinh thời ưng bất dạ,
Thiên hoa tùy xứ khả vi xuân.
Đào nguyên hữu ước minh tiên lữ,
Vu giáp vô tâm phú Lạc thần.
Tối thị hàn mai tự ái khổ,
Thiên cư trùng lệnh nhất chi tân.

Chú thích:

Vu giáp: Tống Ngọc viết bài phú Cao Đường về chuyến đi chơi đầm Vân Mộng của Sở Tương Vương, gặp Thần nữ núi Vu Sơn và giao hoan cùng nàng. Lúc từ biệt nàng nói: Thiếp xin sớm làm mây, tối làm mưa sớm tối dưới Dương Đài.

Lạc Thần: Thần sông Lạc, con sông ở tình Hà Nam, Trung Quốc, tương truyền con gái Vua Phục Hy chết đuối nơi đây hoá thần. Tào Thực đời Ngụy(con Tào Tháo) qua đây ngủ mơ gặp cô gái thần sông Lạc, nhìn ra lại hoá hoàng hậu họ Nhân, trước vợ Viên Đàm sau lấy Tào Phi tức Ngụy Văn Đế.

Bài 16 Sông Tô Lịch có rộng là bao mà hoá ra giải Ngân Hà. Tốn Phong đêm qua ngủ mộng thấy mình qua cầu như Ngưu Lang gặp Chức Nữ. Khách văn của nàng Hồ (Cổ Nguyệt) chỉ nhớ suông, nhưng nàng phận má hồng phải chịu nhiều cảnh long đong. Một khúc đàn nơi bến Tầm Dương thấy thương nàng nhiều. Bao năm dài Tốn Phong như Tô Vũ bị đày ngoài Ải Bắc. Nay trở về cùng nắm tay hương mai thơm đồng ngoạn cảnh, nhớ đến động Bích Đào ngày trước nay đã xa.

Bài 16

Sông Tô gang tấc hoá Ngân Hà,
Lòng nhớ qua cầu giấc tối qua.
Trăng cũ khách văn suông nỗi nhớ,
Hoa xuân má thắm phận sa đà.
Tầm Dương một khúc thương lòng lắm,
Ải Bắc bao năm biết nỗi ta.
Tay nắm hương mai, cùng ngoạn cảnh,
Bích Đào ngày cũ bóng mây xa.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Tô Giang chỉ sích hoá Ngân Hà,
Tạc dạ giang kiều tiểu mộng qua.
Cổ nguyệt văn nhân không phiến diểu,
Xuân hoa hồng liễm phận sa đà.
Tầm Dương nhất khúc lân khanh nhĩ,
Bắc Tái liên miên nại ngã hà.
Thủ bả hương mai đồng ngoạn cảnh,
Bích Đào tha nhật hựu vân xa.

Chú thích:

Tô Giang: sông Tô Lịch chảy vào hào thành Thăng Long và chảy ra cửa Hà khẩu (Hàng Buồm)

Tầm Dương: Bài Tỳ Bà hành của Bạch Cư Dị khi trấn nhậm Hàng Châu viết trên bến Tầm Dương, Hàng Châu nơi có nhiều thanh lâu, kỹ nữ.

Bắc Tái: tích Tô Vũ đi sứ Hồ bị bắt đi chăn dê ở Ải Bắc 18 năm.

Bích Đào: Đào Nguyên, nơi Lưu Thần, Nguyễn Triệu gặp tiên nữ Ngọc Chân.

Bài 17 Vầng trăng đơn côi khuất nửa rèm soi hoa ngoài sân, dáng Phi Mai gầy trong gió thanh thanh. Lá cũ cây ngô đồng còn mơ hồn chim phượng, ngoài ngõ cây mận tiết lạnh cuối đông bóng con chim oanh chuyền cành. Một cành hoa lê trắng như tuyết cắm trong bình còn hờn oán mùa thu. Khách sầu nơi quán vắng lòng nghe sương khói như nhẹ lên cành liễu. Bâng khuâng giữa mộng lệ ướt khăn, vầng trăng cô đơn nửa rèm vẫn soi bóng ngàn hoa trong sân.

Bài 17

Trăng lẻ nửa rèm hoa bên đình,
Mai gầy cung điệu, gió thanh thanh.
Ngô đồng lá cũ mơ hồn phượng,
Ngõ hạnh lạnh tàn chuyển bóng oanh.
Thu oán một bình lê tuyết nhạt,
Khách sầu quán vắng liễu sương dâng.
Bâng khuâng giữa mộng khăn nhoà lệ,
Trăng lẻ nửa rèm hoa bên đình.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Cô nguyệt bán liêm hoa ngoại đình,
Sấu mai cung đệ hiểu phong thanh.
Ngô đồng cựu diệp tân tường phượng,
Lý hạnh hàn dư tảo chuyển oanh.
Thu oán độc bình lê tuyết đạm,
Khách sầu không quán liễu yên kinh.
Du du mộng lý khâm tùy lệ,
Cô nguyệt bán liêm hoa ngoại đình.

Bài 18 Đến thăm nàng thời gian qua nhanh quá, vừa ngồi bên gối đó lại phải về. Trong Cổ Nguyệt Đường con đường thơ của nàng lắm gian nan gió bụi phong trần. Nàng không khoẻ lắm, sức khoẻ nàng như những người đẹp đào hoa từ xưa đến nay. Nàng ngồi lặng im chìm đắm trong giấc mơ. Bên trời có khách ra đi gió thổi bồng mái tóc, Canh vắng nàng có lạnh nửa chăn không ? Lòng ước mơ nơi chốn Chương đài sau cơn mưa, bóng trăng lồng bóng hoa. (Tốn Phong
ước mơ được ôm ấp nàng như bóng trăng lồng bóng hoa)

Bài 18

Vừa cùng gối khách, lại dời chân,
Viện cũ đường thơ lắm bụi trần.
Sức vóc đào tơ như tự cổ,
Mộng mơ mai ít nói làm thinh.
Cuối trời khách gió bồng đôi tóc,
Canh vắng ai người lạnh nửa chăn.
Tiếc nỗi Chương đài mưa núi tạnh,
Trăng non còn nhớ bóng hoa lồng.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Sạ đồng khách chẩm hựu phân khâm,
Tao lộ trần dao cổ viện thâm.
Mạnh thuộc đào hoa lân tự cổ,
Mộng huyền mai thực sỉ như câm.
Thiên nhai hữu khách song bồng mấn,
Thâm dạ hà nhân bán lãnh khâm,
Thác ái Chương đài sơn vũ hậu,
Đề hồi sơ nguyệt ẩm hoa âm.

Chú thích:

Chương đài: Kiều: Khi về hỏi liễu Chương đài, cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay. Chương Đài tên con đường ở Trường An, Đời Đường, Hàng Hoành có lấy một người kỹ nữ họ Liễu ở con đường đó. Sau Hoàng Hoành làm quan xa, Liễu Thị ở nhà bị tướng Phiên cướp mất, mãi ba năm sau mới tái hợp. Thơ Hàng Hoành viết cho Liễu Thị có câu: Chương Đài liễu. Tích nhật thanh thanh, kim tại phủ ? Giả ưng phân chiết tha nhân thủ ? Cây liễu Chương Đài xưa xanh xanh, nay còn không ? Hay là tay khác đã bẻ mất rồi ?

Bài 19: Đầu xóm chia tay nhau lệ thắm khăn, nhìn nhau lưu luyến không nói lên lời nào. Mười phần hoa sắc đến nước Nam, nàng mang lại ánh sáng mùa xuân vào cửa Bắc. Bóng trăng hồn nhiên phơi phới giữa trời cao, hồn hoa Mai đã gửi bên bờ bến nước (nàng đã yêu Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển). Từ nay chỉ thấy tương tư là đau khổ, gối lạnh phòng không nhớ đứt ruột.

Bài 19

Đầu xóm cầm tay lệ thắm khăn,
Nhìn nhau lưu luyến lặng tình câm.
Mười phần son sắc trời Nam đến,
Quá nửa xuân quang cửa Bắc tràn.
Bóng quế trời cao thăm thẳm lộng,
Hoa mai hồn gửi bến sông trong.
Từ nay lòng khổ vì thương nhớ,
Gối lạnh phòng không nỗi đoạn trường.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Huề thủ thôn đầu thức lệ ngân,
Trù trừ tương cố cánh vô ngôn.
Thập phần hoa sắc lai Nam quốc,
Thái bán xuân quang nhập Bắc môn.
Quế ảnh hồn như thiên thượng lộng,
Mai hoa thác đắc thủy biên hồn.
Tòng kim đãn giác tương tư khổ,
Trường đoạn đông phòng chẩm vị ôn.

Bài 20: Trên bến sông Tô Lịch mùa xuân sắp đến, nay tạm chia tay khách bùi ngùi, đã rằng tài tử hay đề thơ bạch tuyết (làm những bài thơ khó hoạ) riêng bản tính Phi Mai thích người đi xa. Chớp mắt phong trần đều là mộng ảo cả, gần đây thi tứ chẳng gì vui. Đáng thương cho kẻ từ đêm đen quay đầu nhìn lại, người ta mong nhớ bây giờ nơi đâu ?

Bài 20

Đầu bến Tô Giang xuân sắp đến,
Tạm rời ly biệt khách sầu ai.
Đã rằng tài tử hay đề tuyết,
Riêng thích chinh nhân bản tính mai.
Một thoáng phong trần cơn mộng ảo,
Gần đây thi tứ chẳng gì vui.
Thương sao đêm thẳm lòng nhung nhớ,
Mong nhớ người xa nỗi ngậm ngùi.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Tô giang giang thượng xuân tiệm lai,
Tạm thời ly hợp khách tâm ai.
Dĩ tri tài tử năng đề tuyết,
Thiên hỉ chinh nhân bản tính mai.
Thúc hốt phong trần đô thị mộng,
Nhĩ lai thi tứ vị tằng khai.
Khả lân hắc dạ dao hồi thủ,
Ngã tứ chi nhân an tại tai.

Bài 21: Chim hót, mùa xuân tươi tốt cuối tháng ba, lòng Tốn Phong như bay bổng giữa cơn mê. Từ nay nơi đầu cầu nước chảy đôi dòng chia hai, tiếng đàn xưa còn rung buổi chiều tà. Trước ngựa mùa xuân tươi đẹp ý. Mong nàng lên xe loan với người tâm đầu ý hiệp, xa nàng mong nàng gặp nhiều may mắn. Bên đình mai cùng nắm tay nhau đối diện với khóm trúc, từ nay đôi ta chỉ là bạn chân tình với nhau.

Bài 21

Chim hót hoa tươi cuối tháng ba,
Hồn chơi không nhớ mộng bay xa.
Đầu cầu khách biệt chia dòng nước,
Dưới gác đàn rung nửa ánh tà.
Trước ngựa theo niềm xuân đẹp ý,
Xe loan mong sớm với người xa.
Xa người càng thấy vui khi gặp,
Khóm trúc đình mai ta với ta.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Hoa sắc quyên thanh tam nguyệt thì,
Du hồn không ức mộng trung phi.
Kiều đầu khách ứ không phân thủy,
Các hạ cầm minh bán tịch huy.
Mã thủ hảo tùy xuân đắc ý,
Loan xa tảo dữ tử đồng quy.
Biệt quân tối ái phùng quân hảo,
Huề thủ mai đình đối trúc nhi.

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH

(còn tiếp...)


Xem online : Chân dung Hồ Xuân Hương qua 31 bài thơ tình của Tốn Phong (3)