Trang nhà > Sáng tạo > Cận đại > Chí sĩ Phan Bội Châu (1867-1940)

Chí sĩ Phan Bội Châu (1867-1940)

Thứ Ba 30, Tháng Giêng 2007

Nhà cách mạng chống Pháp và văn sĩ yêu nước nồng nàn hồi cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.

Tên thật là Phan Văn San, do trùng huý tên vua nhà Nguyễn mà đổi thành Phan Bội Châu, lấy hiệu Sào Nam và nhiều biệt hiệu: Hải Thụ, Thị Hán, Độc Tĩnh Tử, Hãn Mạn Tử, quê ở làng Đan Nhiễm, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Lúc còn trẻ ông tham gia viết bài hịch Bình Tây Thu Bắc rồi cùng các đồng chí thành lập đội "Sĩ tử Cần Vương" tại quê nhà. Năm 1900, ông thi Hương đỗ Giải nguyên trường Nghệ An. Năm 1904, ông vận động thành lập hội Duy Tân, qua năm sau ông cùng Tăng Bạt Hổ sang Trung Quốc, Nhật Bản gây dựng phong trào Đông du. Năm 1908, bị trục xuất khỏi Nhật, ông trở lại Trung Quốc, rồi qua Thái Lan xây dựng căn cứ hoạt động ở nước ngoài. Sau cách mạng Tân Hợi 1911, ông trở lại Trung Quốc và thành lập "Hội Việt Nam Quang Phục" và Hội "Chấn Hoa Hưng Á", cũng năm này ông bị giặc bắt giam tại Quảng Châu. Năm 1922, ông ra tù tiếp tục hoạt động, và cải tổ Hội Việt Nam Quang Phục thành Đảng Việt Nam Quốc Dân.

Năm 1925, ông bị tay sai Pháp bắt cóc tại Thượng Hải, bị giải về nước. Chúng định thủ tiêu kín, nhưng việc bại lộ, buộc chúng phải đưa ông ra xử trước Hội đồng Đề hình, kết án khổ sai chung thân. Nhưng do cả nước dấy lên phong trào đòi thả Phan Bội Châu nên thực dân Pháp phải "ân xá" và an trí ở Huế (trên dốc Bến Ngự). Từ đấy ông chuyên tâm vào nghiên cứu Kinh Dịch và viết sách.

15 năm cuối đời, ông sống trong lòng yêu thương kính trọng của nhân dân. Ông để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ: Phan Bội Châu niên biểu, Lưu cầu huyết lệ tân thư, Việt vong thảm trạng, Hải ngoại huyết thư, Việt Nam vong quốc sử, Chu Dịch quốc âm giải, Phan Sào Nam tiên sinh, Quốc văn thi tập, Việt Nam quốc sử khảo, Nữ quốc dân tu tri, Khổng học đăng, Sào Nam văn tập, Ngục trung thư, Trùng Quang tâm sử, Xã hội chủ nghĩa và hơn mười tiểu truyện về các anh hùng liệt nữ Việt Nam.

Xuất dương lưu biệt

Làm trai phải lạ trên đời,
Há để càn khôn tự chuyển dời.
Trong khoảng trăm năm cần có tớ,
Sau này muôn thủa, há không ai?
Non sông đã chết sống thêm nhục,
Hiền thánh còn đâu học cũng hoài.
Muốn vượt biển Đông theo cánh gió,
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi

(Bản dịch của Tôn Quang Phiệt)