Quick browsing

Home > Nghệ thuật > Kiến trúc > Chùa Bút Tháp (Bắc Ninh)

Chùa Bút Tháp (Bắc Ninh)

Saturday 3 March 2007

Chùa Bút Tháp còn gọi là chùa Nhạn Tháp, tên chữ Ninh Phúc Tự (寧 福 寺). Địa chỉ: thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Xếp hạng: di tích quốc gia (1962) sau nâng lên di tích quốc gia đặc biệt. Tọa độ: 21°6’57"N 106°2’35"E, cách Hồ Gươm chừng 26km về phía Đông. Du khách có thể từ Công viên Thống Nhất lên xe bus số 52a rồi xuống bến cuối (KDL Hapro) và đi tiếp 6km bằng taxi hoặc xe ôm đến chùa. Nếu có thời gian thì nên đi thuyền để thăm một loạt di tích ven sông Đuống.

Lược sử

Theo Địa chí Hà Bắc (1982) chùa Bút Tháp có từ đời Trần Thánh Tông (1258-1278). Thiền sư Huyền Quang (đỗ Trạng nguyên năm 1297) từng trụ trì ở đây và cho dựng một tháp đá 9 tầng có trang trí hình hoa sen, tiếc rằng nay không còn nữa. Đến thế kỷ 17, chùa càng nổi tiếng với hòa thượng Chuyết Chuyết, người Phúc Kiến, từ Trung Hoa sang Việt Nam năm 1633 và trụ trì ở chùa, sau khi viên tịch đã được vua phong là "Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư".

Người kế nghiệp là thiền sư Minh Hạnh, học trò của hòa thượng Chuyết Chuyết. Vào thời gian này, hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc đã rời bỏ cung thất, về đây tu hành, pháp danh là Diệu Viên. Thấy chùa bị hư nát nhiều, bà cùng con gái là công chúa Lê Thị Ngọc Duyên (pháp danh Diệu Tuệ), xin phép chúa Trịnh Tráng cho bỏ tiền của, ruộng lộc để trùng tu lại ngôi chùa và hoàn thành năm 1647.

Đến năm 1876, khi vua Tự Đức qua đây thấy cây tháp hình dáng to lớn bèn đặt tên là Bút Tháp, nhưng trên đỉnh vẫn ghi là tháp Bảo Nghiêm. Chùa được trùng tu vào các năm 1739, 1903, 1915, 1921 và gần đây vào năm 1992-1996. Với những giá trị lịch sử và nghệ thuật, chùa Bút Tháp đã được Bộ Văn hóa xếp hạng ngay đợt đầu là di tích cấp quốc gia theo quyết định số 313-VH/VP ngày 28 tháng 4 năm 1962, sau này nâng lên thành di tích quốc gia đặc biệt.

Bản đồ trực tuyến

Kiến trúc

Bút Tháp là một trong số ít ngôi chùa cổ có quy mô kiến trúc lớn còn lại đến ngày nay tại đồng bằng Bắc Bộ. Mặt chùa quay về Nam, hướng của trí tuệ bát nhã. Trong khuôn viên có nhiều di tích từ thế kỷ 17. Cụm trung tâm bao gồm 8 tòa nhà chạy song song và đối xứng theo một trục "Thần Đạo", được bao bọc bởi hai dãy hành lang suốt dọc chùa ở hai bên. Đó là các tòa Tiền đường, Thượng điện, cầu đá, Am Tích Thiện, Trung đường, Phủ thờ, Hậu đường và hàng tháp đá.

Tổng cộng ngôi chùa gồm 10 nếp nhà nằm trên một trục dài hơn 100 m. Qua cổng Tam quan là gác chuông kiểu 2 tầng 8 mái rồi đến chùa chính với 3 dãy nhà Tiền đường - Thiêu hương - Thượng điện tạo thành hình chữ "Công". Kiến trúc chùa vẫn dựa trên khung gỗ chịu lực nhưng nền bệ lan can dùng đá rất phổ biến, trên có những hình động vật được khắc trông sinh động và độc đáo. Trang trí được thể hiện ở mọi nơi trên các chất liệu gỗ và đá, ở kiến trúc và ở các đồ thờ.

Đặc biệt trên lan can tòa Thượng điện có 26 bức chạm khắc đá, trên lan can cầu nối với Am Tích Thiện có 12 bức và ở lan can quanh chân tháp Báo Nghiêm có 13 bức. Như vậy tổng cộng các bức chạm khắc đá ở chùa Bút Tháp là 51 với những đề tài khác nhau, nhưng đều thống nhất với nhau ở mặt chất liệu, phong cách và niên đại. Hình ảnh chạm khắc ở đây sống động tươi vui hàm chứa ý nghĩa Phật đạo và đặc biệt mang đậm nét nghệ thuật Thiền. Các bức chạm đều tập trung về đề tài thiên nhiên phong phú sinh động như Tứ Linh Quý.

Tháp Báo Nghiêm

Tháp thờ hoà thượng Chuyết Chuyết, đỉnh tháp trông giống như cây bút lông vươn lên trời cao. Tháp cao 13,05m, gồm 5 tầng với phần đỉnh xây bằng đá xanh; tầng đáy rộng hơn với mái hiên nhô ra; 4 tầng trên gần giống nhau, mỗi cạnh rộng 2m. Tại 5 góc của 5 tầng có 5 quả chuông nhỏ. Lòng tháp có một khoang tròn đường kính 2,29m. Ngoài kỹ thuật xây dựng đá, phần bệ tượng được bao quanh bằng hai vòng tường cấu tạo bằng cột và lan can. Riêng ở tầng dưới cùng của toà tháp này có 13 bức chạm đá với lấy đề tài chủ yếu là các con thú.

Di sản

Tâm điểm là pho tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay do điêu khắc gia họ Trương tạc năm 1656. Tượng cao 3,7 m, ngang 2,1 m, dày 1,15 m. Cánh tay xa nhất có chiều dài là 2m. Tượng có 11 đầu, 42 tay lớn và 952 tay dài ngắn khác nhau. Tượng cao 2,35m tính từ đài sen lên. Đầu rồng đội tòa sen cao 30cm, bệ tượng cao 54cm.

Đức Quan Âm ngồi trên toà sen hồng, bệ tượng hình vuông được trang trí bằng những nét chạm khắc cổ với dáng vẻ hành đạo thư thái, đôi mắt như bao quát cả vũ trụ. Ở đây có nhiều mô tip quen thuộc được trang trí ở chùa Việt Nam như hoa lá, cây cảnh cùng các con vật - trong đó có rồng - ngư với viên ngọc; lân với quả cầu; quạt hai vòng tròn, sóng nước, hoa sen,... Tượng tạc Quan Âm hai tay chắp trước ngực, hai tay để trên đùi với những ngón tay đan chéo biểu tượng cho dáng hành đạo và nhập định; các chùm tay để trần từ sườn, vai, lưng, trên người; những tay được xếp vòng tròn từ lớn đến nhỏ hướng vào tâm (ngay sau gáy Phật) trong lòng mỗi bàn tay lại hiện lên một con mắt. Nhìn tổng thể tượng Quan âm nghìn mắt nghìn tay như những vòng hào quang toả ra từ tâm điểm.

Hai kiệt tác điêu khắc khác nữa là tượng Tây Thiên Đông Độ Việt Nam lịch đại Tổ sư và tượng Thị Kính. Pho tượng Tuyết Sơn ở đây cũng là một kiệt tác của thế kỷ 17. Ngoài ra, trong chùa có hơn 70 pho tượng gỗ được tạc trong tư thế quỳ, đứng, ngồi với nét mặt thành kính trông rất sinh động như pho tượng Kim Đồng - Ngọc Nữ,... còn tượng La Hán lại thể hiện cảm xúc nội tâm, mang nặng ý tưởng Phật giáo.

Phủ thờ nằm sau Phật điện là ngôi nhà 5 gian có hai pho tượng đáng chú ý được cho là chân dung hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (vợ Lê Thần Tông) đầu đội vương miện nhưng khoác áo tu hành, và công chúa Ngọc Duyên. Cả hai pho tượng đều ở tư thế toạ thiền.

Từ thượng điện, chiếc cầu đá nhỏ 3 nhịp xây vòm dẫn khách đến am Tích Thiện với 3 tầng mái. Trên cầu có 12 bức phù điêu đá chạm chim muông hoa lá. Trong am là cây Cửu Phẩm Liên Hoa, một tháp gỗ 9 tầng, 8 mặt, có thể quay tròn quanh một trục, gắn nhiều tượng Phật nhỏ và chạm những cảnh dân gian hoặc lấy đề tài trong Phật thoại.

Các sư trụ trì nổi tiếng

- Huyền Quang thiền sư (đời vua Trần Tông)
- Lý Đạo Tái thiền sư (1254-1333)
- Chuyết Chuyết hoà thượng (1590-1644)
- Minh Hạnh thiền sư (đời chúa Trịnh Tráng)
- Sa Môn Tính Hài 1739

Di tích lân cận