Xem lẹ

Trang nhà > Nghệ thuật > Kiến trúc > Chùa Dâu (Bắc Ninh)

Pháp Vân Tự

Chùa Dâu (Bắc Ninh)

Chủ Nhật 24, Tháng Sáu 2007

Chùa Dâu còn gọi là chùa Cả, tên chữ: Pháp Vân Tự 法 雲 寺, Diên Ứng Tự 延 應 寺 và Cổ Châu Tự 古州寺. Địa chỉ: đường Lạc Long Quân, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Xếp hạng: di tích quốc gia (1962) sau nâng lên di tích quốc gia đặc biệt. Tọa độ: 21°2’8"N 106°2’37"E, ven quốc lộ QL17, cách Hà Nội khoảng 26km về phía đông. Du khách có thể từ Công viên Thống Nhất lên xe bus số 52a rồi xuống bến cuối (Lệ Chi) và đi tiếp 4km thì đến chùa.

Bản đồ trực tuyến

Lược sử

Chùa Dâu còn được người dân sở tại gọi là chùa Cả. Chùa nằm ở vùng Dâu, thời thuộc Hán gọi là Luy Lâu, trung tâm cổ xưa nhất của Phật giáo Việt Nam. Tại đây có bốn ngôi chùa cổ rất đặc biệt vì ngoài thờ Phật còn thờ các nữ thần Bà Dâu, Bà Đậu, Bà Dàn, Bà Tướng, lập nên “Tứ Pháp” phù hộ nhà nông: Pháp Vân 法 雲 (thần Mây), Pháp Vũ 法 雨 (thần Mưa), Pháp Lôi 法 雷 (thần Sấm) và Pháp Điện 法 電報 (thần Chớp).

Chùa Dâu khởi công xây dựng năm 187 và hoàn thành năm 226. Các vị sư Ấn Độ đầu tiên vào Việt Nam đã từng du giảng ở chùa. Vào cuối thế kỷ 6, nhà sư Tì-ni-đa-lưu-chi từ Trung Quốc cũng đến đây, lập nên một phái Thiền. Chùa gắn liền với sự tích Phật Mẫu Man Nương, bà được thờ tại chùa Tổ ở làng Mèn (Mãn Xá), cách chùa Dâu khoảng 1km.

Chùa được xây dựng lại vào năm 1313 và trùng tu nhiều lần qua các thế kỷ tiếp theo. Vua Trần Anh Tông đã sai trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi về kiến thiết lại chùa Dâu thành “chùa trăm gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp”. Đến nay, ở tòa thượng điện chỉ còn sót lại vài mảng chạm khắc từ thời nhà Trần và nhà Lê. Ngày 28 tháng 4 năm 1962 ngôi chùa cổ nhất nước ta và gắn liền với lịch sử văn hóa Phật giáo Việt Nam đã được Bộ Văn hóa xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia.

Kiến trúc

Chùa Dâu có kiến trúc kiểu "nội công ngoại quốc". Bốn dãy nhà liên thông hình chữ nhật bao quanh ba ngôi nhà chính: tiền đường, thiêu hương và thượng điện. Hậu đường xưa giờ không còn nữa, nhưng khách thăm chùa vẫn còn được chứng kiến bốn mươi gian nhà oản ở hai bên hành lang tả hữu.

Giữa sân chùa rất rộng là tháp Hòa Phong. Tháp xây bằng loại gạch cỡ lớn ngày xưa, được nung thủ công tới độ có màu sẫm già của vại sành. Thời gian đã lấy đi sáu tầng trên của tháp, nay chỉ còn ba tầng dưới, cao khoảng 17 m nhưng trông vẫn vững chãi. Mặt trước tầng 2 có gắn bảng đá khắc chữ "Hòa Phong tháp". Chân tháp vuông, mỗi cạnh dài gần 7m. Tầng dưới có 4 cửa vòm.

Di sản

Pho tượng Bà Dâu tức nữ thần Pháp Vân, màu đồng hun, cao gần 2m, được bày ở gian giữa chùa. Tượng phủ trang phục trông trầm mặc, gương mặt đẹp với nốt son tô đậm giữa trán như thường thấy ở những vũ nữ Ấn Độ. Hai bên là tượng Kim Đồng và Ngọc Nữ rất đẹp và sống động.

Hồi kháng chiến chống Pháp, chùa Đậu (Bắc Ninh) bị phá hủy, nên pho tượng Bà Đậu (Pháp Vũ) được đưa về thờ chung ở chùa Dâu. Tượng Pháp Vũ được tạc với những đường nét thuần Việt. Những pho tượng nói trên đều mang niên đại thế kỷ 18. Phía trái thượng điện có tượng thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi đặt trên một bệ gỗ tạc hình sư tử đội tòa sen, có thể được tạo tác từ thế kỷ 14. Bên cạnh Thập điện Diêm vương còn có pho tượng Mạc Đĩnh Chi ở tư thế ngồi trên bệ gạch.

Trong tháp Hòa Phong. Panorama ©2017 NCCong

Trong tháp Hòa Phong treo một quả chuông đồng đúc năm 1793 và một chiếc khánh đồng đúc năm 1817. Bốn pho tượng Thiên Vương cao 1,6m được đặt ở bốn góc tháp. Trước tháp, bên phải dựng tấm bia vuông khắc năm 1738, bên trái có tượng một con cừu đá dài 1,33m, cao 0,8m (đối xứng với con cừu đá ở đền Sĩ Nhiếp). Tượng này là dấu vết cổ duy nhất còn sót lại từ thời nhà Hán.

Hội chùa Dâu được tổ chức rất long trọng vào dịp Phật Đản; ngày mùng 8 tháng Tư âm lịch có lễ rước kiệu về chùa Tổ (Phúc Nghiêm Tự)— nơi thờ Phật Mẫu Man Nương. Có câu thơ lưu truyền dân gian:
Dù ai đi đâu về đâu
Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về.
Dù ai buôn bán trăm nghề
Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu.

Di tích lân cận

Đông Tỉnh


Xem online : Lăng Sĩ Nhiếp