Trang nhà > Bạn đọc > Kẻ trong cuộc > “Chức danh giáo sư ở ta giống như một thứ huân chương!”

GS.TS Hoàng Xuân Sính:

“Chức danh giáo sư ở ta giống như một thứ huân chương!”

Thứ Sáu 21, Tháng Ba 2008

Theo bà Hoàng Xuân Sính, Phó Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam, cần phải chấm dứt quan niệm phong GS đồng nghĩa với việc được thăng quan, tiến chức. Nếu như bắt các GS phải đi dạy học và nghiên cứu thì chắc chắn sẽ có rất nhiều người từ bỏ “giấc mơ” GS...}

Ngày càng nhiều “quan” GS

PV: Thời gian qua, dư luận và báo chí đã nhiều lần lên tiếng về thực trạng “biến công trình khoa học của người khác thành của mình” để xin phong GS hoặc đạt được học vị TS. Bà nghĩ sao về thực trạng này?

GS.TS Hoàng Xuân Sính: Trong khoa học, không bao giờ được phép thiếu trung thực. Nhất là những vị làm đến TS, GS càng không thể gian dối, bởi họ luôn phải là tấm gương để xã hội cũng như giới khoa học nhìn vào. Nếu anh gian dối, người ta sẽ dễ dàng vạch mặt anh ra thôi! Tuy nhiên, ở nước ta, nói thực là môi trường khoa học mới chỉ ở “buổi ban đầu thô sơ”.

Phải nói thực trạng trên xuất phát từ bệnh hiếu danh. Hiếu danh đều có trong mỗi con người, song đáng buồn là cơ chế của ta lại đang khuyến khích căn bệnh này.

Một phần vì chúng ta đang sống trong một xã hội quá coi trọng bằng cấp, học vị?

- Tôi cho rằng, có thể đó là dòng suy nghĩ bắt đầu từ những người lãnh đạo. Một khi ông lãnh đạo quá đề cao chức danh hay học vị, thì cấp dưới của họ sẽ giơ ngay bằng nọ, bằng kia để được đề bạt, thăng tiến nhanh hơn. Còn nếu người lãnh đạo cũng coi một anh GS và một anh lao động bình thường đều có những năng lực và đóng góp ngang nhau trên mỗi cương vị, thì tôi nghĩ sẽ chẳng ai khoe chức danh GS, TS làm gì!

Điều đáng nói là không ít người vẫn trở thành GS, TS, trong khi những công trình mà họ “nghiên cứu” và công bố thực chất là công trình của người khác. Phải chăng các Hội đồng chức danh GS, Hội đồng chấm luận án TS của chúng ta đang “có vấn đề”?

- Điều này cũng dễ hiểu thôi. Vì ngay những người trong các Hội đồng cũng không có thì giờ đọc nhiều. Còn ở các nước công nghiệp, vì họ toàn tâm toàn ý vào công việc nghiên cứu và giảng dạy nên bất cứ một công trình nào ra đời thì họ đã đọc ngay rồi. Còn mình thì làm gì có thì giờ! Mà nhiều khi có những bài báo được công bố ở nước ngoài mình cũng không được biết tới để mà có ý kiến. Tôi phải nhắc lại là chúng ta đang ở “buổi ban đầu làm khoa học”.

Ở Việt Nam có Hội đồng chức danh GS nhà nước. Khi ai đó được phong GS rồi thì nghiễm nhiên đó là một thứ chức sắc để người ta làm việc, để tôn vinh, để giữ suốt đời. Có cảm tưởng chức danh GS như một thứ gì đó để thưởng công, kiểu như một thứ huân chương. Còn ở nước ngoài, việc phong GS gắn với công việc của một viện, một trường nào đó. Và đến khi về hưu thì hết, không còn GS nữa.

Nói như vậy, phải chăng cách thức, quy trình xét tặng chức danh GS hiện nay đang lộ rõ nhiều bất cập, thậm chí lạc hậu so với thế giới?

- Tôi chỉ muốn nói là việc phong GS của ta là không thực chất. Vì chúng ta chỉ xét chức danh này như một thứ huân chương, có thể giữ được suốt đời dù không dạy học, không nghiên cứu. Ví dụ tôi làm Bộ trưởng chẳng hạn. Cả ngày tôi không lên lớp, cả ngày không vào phòng thí nghiệm mà lúc nào tôi cũng là GS, TS thì điều đó là vô lý!

Như tôi đã nói, vì điều kiện làm việc khó khăn cho nên các thành viên trong Hội đồng 3 cấp không thể cập nhật được về chuyên ngành của mình như ở nước ngoài. Điều đó đã dẫn tới việc xem xét, đánh giá công trình khoa học vẫn có tính hời hợt. Thậm chí, “xét” mà không biết rõ người mình “xét”. Vì thế, nếu người ta có ăn cắp công trình của người khác thì mình cũng đâu có phát hiện được.

Nói thực, nếu buộc tất cả GS đi dạy học, nghiên cứu thì chắc chắn sẽ nhiều người sẽ từ bỏ “giấc mơ” GS, vì họ không có khả năng. Nhưng nếu nói, muốn làm Bộ trưởng phải có học hàm GS thì nhiều người thích chức GS ngay!

Gần đây, có quan điểm cho rằng nên giao chỉ tiêu về số lượng GS về cho các trường, các viện nghiên cứu, thay vì Nhà nước lo chuyện này. Có nghĩa là tùy theo nhu cầu đào tạo, sử dụng, các trường, viện sẽ tự đưa ra số lượng GS?

- Nếu muốn giao chỉ tiêu về cho các trường thì phải có môi trường khoa học thực thụ và các trường, các viện phải có sự cạnh tranh lành mạnh. Xuất phát từ nhu cầu thực tế, mỗi trường, mỗi viện nghiên cứu sẽ xin đăng ký có bao nhiêu biên chế GS. Ai có nhu cầu làm GS thì xin ứng cử vào trường, viện nghiên cứu đó.

Nhưng điều này cũng đặt ra 2 vấn đề: nếu trong một môi trường khoa học thực thụ và có sự cạnh tranh lành mạnh giữa các trường, các viện nghiên cứu thì không vấn đề gì. Nhưng nếu ngược lại sẽ dẫn tới chuyện nể nang, “trao đổi” giữa những người quen thân với nhau, giữa cấp trên với cấp dưới với nhau. Hiện nay, trong các Hội đồng 3 cấp cũng vẫn có những chuyện như thế. Đó chính là mặt trái!

Nên đặt quyết tâm đào tạo TS cho mục đích nghiên cứu và giảng dạy

Bà đánh giá như thế nào về mục tiêu đào tạo 20.000 TS đến năm 2020 của Bộ Giáo dục - Đào tạo?

- Tôi sợ rằng, mục tiêu này rất không khả thi và dễ dẫn đến hình thức. Tôi không biết bây giờ Bộ Giáo dục - Đào tạo có còn giữ ý định là sẽ đào tạo 10.000 TS ở trong nước và 10.000 TS ở nước ngoài nữa hay không. Nhưng theo tôi biết, hiện nay số người được gửi đi đào tạo TS ở nước ngoài vẫn chưa được 2.000. Các nước quen đào tạo chặt chẽ rồi. Bây giờ ta lại “tống” cho họ 10.000 người và bảo đào tạo chặt chẽ thì họ không hình dung ra được. Bởi lẽ, họ chỉ có thể đào tạo được những người thực sự có khả năng nghiên cứu và xác định rõ mục đích của việc trở thành TS.

Tôi sợ rằng, chúng ta đang chạy theo số lượng. Năm 2006, tôi đi họp hội nghị ở Thụy Sĩ, nhiều Việt Kiều “chất vấn” tôi tại sao giới khoa học trong nước không lên tiếng về mục tiêu rất thiếu khả thi đó. Tôi nói: “Khả thi hay không thì phải hỏi Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo của tôi chứ hỏi tôi thì có ích gì”!

Như vậy, theo quan điểm của bà, các GS, TS không nên tham gia vào lĩnh vực quản lý?

- Bằng TS và chức danh GS chỉ cần thiết đối với một số ngành. Chẳng hạn như ngành giáo dục - đào tạo, nếu Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo là một GS - TS rồi thì có nghĩa họ đã dạy học, hướng dẫn nghiên cứu... Điều đó sẽ giúp ích cho họ trong quản lý, ví dụ như trong lĩnh vực đào tạo sau đại học. Nhưng nhìn chung, theo tôi, công tác quản lý không cần thiết phải có sự tham gia của các GS, TS. Chúng ta đang quan niệm sai về vấn đề sử dụng GS, TS nên đã hướng mọi người hùa theo cái đó. Do vậy, Bộ Giáo dục - Đào tạo nên đặt ra quyết tâm đào tạo TS để phục vụ nghiên cứu và giảng dạy hơn là đưa họ vào bộ máy quản lý.

Xin trân trọng cảm ơn bà!

Trần Ngọc Trung thực hiện (ĐĐK)