Xem lẹ

Trang nhà > Văn chương > Cổ học > Cổ Nguyệt Đường và mối tình Hồ Xuân Hương - Nguyễn Du (2)

Cổ Nguyệt Đường và mối tình Hồ Xuân Hương - Nguyễn Du (2)

Chủ Nhật 18, Tháng Mười Hai 2011

II. Những bài thơ tình gửi đáp Hồ Xuân Hương của Nguyễn Du từ Tiên Điền đến Nghi Tàm (1794-1796)

II.1 Nguyễn Du về đến Tiên Điền, Hồng Lĩnh không nhà, anh em lưu lạc. Thật sự thì anh em Nguyễn Du chẳng bao giờ ở tại Tiên Điền cả. Những năm cuối cùng nhà Lê -Trịnh. Nguyễn Khản làm Thượng Thư Bộ Lại, chức vụ ngang với Thủ tướng ngày nay, lại kiêm trấn thủ Hưng Yên, Thái Nguyên và Sơn Tây. Tại Sơn Tây Nguyễn Khản giao quyền cho Nguyễn Điều làm Đốc Trấn, có Nguyễn Nễ phụ tá. Nguyễn Nghi, Nguyễn Trứ nắm giữ binh quyền tại Hưng Yên. Và tại Thái Nguyên, Nguyễn Quýnh giữ chức Trấn Tả Đội, Nguyễn Du làm Chánh thủ Hiệu, quân Hùng hậu hiệu, đội quân mạnh nhất Thái Nguyên, có Cai Gia tức Nguyễn Đại Lang làm Quân sư (nhân vật này có tên trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí, vốn là người Phản Thanh Phục Minh Trung Quốc, là tay ’giặc già’ , được Nguyễn Khản thu nạp làm môn hạ, để dạy võ cho các em. Thái Nguyên là nơi nhiều dân Trung Quốc sang khai mỏ, trộm cướp, trốn thuế. Cai Gia là người trị nổi đám người này). Nguyễn Du kết nghĩa sống chết với Cai Gia (Sinh Tử giao tình tại. Bài Tiễn biệt Nguyễn Đại Lang) nên gọi là anh Cả. Khi nhà Trịnh sụp đổ, Nguyễn Du, Nguyễn Đại Lang và Nguyễn Sĩ Hữu (tức Nguyễn Quýnh) chạy sang Vân Nam. (Tôi bác bỏ việc Nguyễn Du nhận tập ấm cha nuôi họ Hà, giữ một chức quan võ nhỏ như gia phả ghi. Thật sự Nguyễn Du là đại diện binh quyền cho anh Nguyễn Khản tại Thái Nguyên).

Hai anh lớn Nguyễn Khản, Nguyễn Điều đã mất năm 1786, Nguyễn Nễ làm quan ở Phú Xuân, Nguyễn Quýnh bị Tây Sơn giết năm 1790 tại Hà Tĩnh, Nguyễn Nghi, Nguyễn Trứ đại diện binh quyền cho Nguyễn Khản, từ Hưng Yên về ở Chu Kiều, Bắc Ninh làm nghề thuốc. Nguyễn Nghi viết truyện thơ Quân Trung Đối dài 1116 câu, và có con là Nguyễn Toản đỗ Tiến Sĩ đời Minh Mạng làm quan đến chức Viên Ngoại Lang. Nguyễn Trứ làm nghề thuốc, đậu Tam Trường năm 1779 đời Gia Long có ra làm quan Tri phủ Nam Sách, có con là Nguyễn Thích tri phủ Nghĩa Hưng, Nam Định, Nguyễn Trù tri phủ Vĩnh Tường, và Nguyễn Thị Uyên làm thuốc giỏi được mời vào cung chữa bệnh cho các cung nữ đời Gia Long. Trong anh em Nguyễn Du có lẽ chỉ có Nguyễn Nhưng là ở Hà Tĩnh.

Theo GS Hoàng Xuân Hãn, trong danh sách những người ra cộng tác với La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp ở Sùng Chính Viện đời Tây Sơn, có Nguyễn Công con Nguyễn Khản, và Nguyễn Thiện con Nguyễn Điều.

Nguyễn Hành con thứ hai Nguyễn Điều, nhà thơ tài hoa trong năm nhà thơ nhất nước đương thời, lúc này cũng đang ở Hồng Lĩnh, nên có nhiều kỷ niệm về các cuộc đi săn của Hồng Sơn Liệp Hộ Nguyễn Du.

Về Tiên Điền, hai anh em Nguyễn Du, ở trong một căn nhà nhỏ trên bến Quế Giang, đầu sông Long Vĩ, cạnh Giang Đình, để tiện việc chở gạch, ngói, gỗ, đá về xây cất bằng thuyền. Nguyễn Du có lẽ nằm nhà trông coi việc trả lương thợ và tiếp nhận vật liệu. Công việc xây dựng lại làng Tiên Điền khá quy mô. Có đến bốn đền thờ họ Nguyễn Tiên Điền: Đền thờ ông Nguyễn Lĩnh Nam tức cụ Nguyễn Quỳnh, ông nội Nguyễn Du, đền thờ ông Nguyễn Tiên Lĩnh Hầu tức Nguyễn Huệ (1705-1733) chú Nguyễn Du, đền thờ Xuân Quận Công tức Nguyễn Nghiễm (1708-1776) cha Nguyễn Du, đền thờ Nguyễn Lam Khê tức Nguyễn Khản (1734-1786). Đền thờ Điền Nhạc Hầu tức Nguyễn Điều (1745-1786). Ngoài ra còn có chùa Trường Ninh và Cầu Tiên.

Mọi chi phí đều do Nguyễn Nễ cung ứng, cuối năm 1794, Nguyễn Du có vào Phú Xuân nhận món tiền thứ hai.

Về Tiên Điền, Nguyễn Du chỉ còn người bạn hiệu là Thực Đình (ăn ở đình làng) tặng cho chiếc áo vải, người bạn dạy học lây lất không đủ sống. Sách vở họ Nguyễn Tiên Điền, không kém gì Phúc Giang thư viện họ Nguyễn Trường Lưu, hàng vạn quyển sách, được triều đình sắc phong, bị cháy mười phần còn một hai, chất quanh vách nhà, ngoài cửa một khóm cúc vàng, bếp vắng lặng vì thiếu người đàn bà bếp núc. Nguyễn Du hớp rượu cho hồng sắc diện. Về đây sau cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quýnh, Nguyễn Du phải Khóc cười thời loạn theo trần thế, bệnh yếu lặng câm mà giữ thân.

Về Tiên Điền, bệnh cũ mười năm trước ở Vân Nam tái phát, Nguyễn Du: Nằm bệnh mười tuần bến Quế Giang. Ngày xưa tuần là tuần trăng, nửa tháng, từ trăng tròn đến trăng khuyết, và từ không trăng đến tròn trăng.

Thuý Kiều - Kim Trọng

II.2 Nhân có một người quen về Hồng Lĩnh, Hồ Xuân Hương gửi Nguyễn Du bài Nhân tặng, bài này chép trong Lưu Hương ký: Chàng đã về quê quán, nơi từ đường của danh gia vọng tộc, cách xa bao non núi. Xuân Hương chẳng có dịp may nào để xông pha về thăm chàng. Mấy hàng chữ viết thăm chàng, nước mắt rơi lai láng, một bài thơ, một mảnh giấy lòng em đợi tin chàng. Muốn thả lá đề thơ nhưng e ngại ngọn nước triều không đưa đến, muốn gửi quà nhiều hơn nhưng e ngại mỏi cánh chim hồng. Ước gì có người tiên hiện xuống nơi trần thế giúp tình ta, có vầng trăng soi tỏ tấm lòng.

Nhân tặng

Nghiêm thẳm hầu môn biết mấy trùng,
May chăng khôn lẽ dám pha xông.
Mấy hàng chữ mực châu lai láng,
Một mảnh tờ mây ý mộng mong.
Buông thả luống e khơi ngọn nước.
Gửi trao còn ngại mỏi vai hồng.
Người tiên ví chẳng soi trần thế,
Cậy có vầng xanh tỏ tấm lòng.

II.3 Nguyễn Du đã trả lời bài Nhân tặng của Xuân Hương bằng bài Ký hữu (Gửi bạn), bài số 33 trong Thanh Hiên thi tập. Xuân Hương viết: Cậy có vầng xanh tỏ tấm lòng, Nguyễn Du đáp lại: Một vầng trăng sáng tình ta đó.

Mờ mịt không trung cát bụi đầy trời, tình hình chính trị mờ mịt, nay Quang Trung mất, triều đình rối loạn, các đại tướng đem quân đánh nhau. Nguyễn Ánh đang nổi lên ở phương Nam ngày một mạnh, đã chiếm Gia Định, chưa biết tình hình ra sao. Từ ngày về Tiên Điền, đóng cửa nằm khàn trong nhà, một vầng trăng sáng tình ta đó, non Hồng dài trăm dậm, đôi ta chung chính khí tổ tiên hun đúc. Việc đời trước mắt như đám mây nổi, sớm hiện rồi tan, thanh trường kiếm dắt ngang lưng chưa dùng vào việc gì phất phơ trong gió thu. Một mình không nói nhìn khóm trúc trước sân. Sương tuyết tan đi, trúc sẽ hoá rồng, tài năng kẻ sĩ sẽ được trọng dụng.

Gửi bạn

Mờ mịt không trung gió bụi trần,
Cửa gài, kê gối mãi nằm không.
Một vầng trăng sáng tình ta đó,
Trăm dậm Hồng sơn chính khí cùng.
Trước mắt phù vân, ôi thế sự,
Bên lưng trường kiếm nổi thu phong.
Đầu sân ngóng trúc lòng không nói,
Sương tuyết tiêu tan sẽ hoá rồng.

(Thơ chữ Hán Nguyễn Du. Thanh Hiên thi tập. Nhất Uyên dịch)

II.4 Bài Thu dạ hữu hoài trong Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập, Xuân Hương gửi Nguyễn Du: Câu Bóng nhạn về đâu, mây ở lại, Nhạn là Nguyễn Du đã bay xa, mây là Xuân Hương còn ở lại. Bài thơ viết khoảng năm 1794. Đêm tàn, Xuân Hương còn thức, ngơ ngẩn thương nhớ chàng đi xa, nơi lầu mây, rượu rót nhưng không tri âm, không uống để lạnh, nửa vầng trăng tà chiếu lóng lánh bạc. Nước chảy, gió thổi mãi, giọt nước trong hồ đồng rơi đều. Hoa hay trăng tự lòng Xuân Hương, lòng Xuân vắng vẻ, Xuân hứng không nhiều ư ? Bóng chàng như bóng chim nhạn bay về đâu ? Chỉ còn nghe tiếng dế trùng than khóc, dòng nước trôi mãi, đêm tàn thêm lo.

Đêm thu cảm hoài

Đêm tàn người thức lòng ngơ ngẩn,
Rượu lạnh lầu mây bạc ánh tà.
Nước chảy gió đùa trơ mặt ngọc,
Hoa hoa, nguyệt nguyệt nỗi lòng ta.
Xuân vắng vẻ,
Xuân hứng chẳng nhiều ư ?
Bóng nhạn về đâu mây ở lại,
Dế trùng than khóc nước trôi hờ,
Đêm tàn nên lo.

(Nhất Uyên dịch thơ. Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương)

II.5 Nguyễn Du phúc đáp bài Thu da hữu hoài của Hồ Xuân Hương bằng bài Thu dạ I trong Thanh Hiên thi tập: Anh đã nghe tiếng dế trùng than khóc nơi tường đông, vì mây ở lại Thăng Long với em nên Hồng Lĩnh trời lạnh ngắt không một vầng mây.

Trời đầy sao sáng, sương móc trắng như bạc, tường đông dế gặp lạnh kêu buồn thảm, chua xót.(tiếp ý dế khóc bài Thu dạ hữu hoài) Bầu trời một màu lạnh ngắt không một làn mây. Mây ở hết bên em rồi, anh chỉ là cánh chim đơn côi trong trời lạnh giá. Thấm thoát thời gian qua nhanh, tuổi càng cao, tóc bạc vì nhiều suy nghĩ trông rất thảm thương. Ở mãi nơi đây, núi xanh chưa chán người, người đi chơi xa bên trời lòng mỏi mệt, Suốt năm nằm bệnh bến Quế Giang (Sông Quế là một tên khác của sông Lam, dưới chân núi Hồng Lĩnh).

Đêm thu I

Đầy trời sao sáng bạc sương dâng,
Dế lạnh tường đông thảm thiết buồn.
Vạn dậm tiếng thu rung lá rụng,
Một trời khí lạnh vắng mây vương.
Già rồi tóc bạc lòng thêm xót,
Ở mãi non xanh chẳng chán chường.
Ngán nỗi bên trời lòng khách mệt,
Suốt năm nằm bệnh Quế giang tân.

(Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập, Nhất Uyên dịch thơ)

II.6. Xuân Hương đã phúc đáp bài Thu Dạ I của Nguyễn Du bằng bài Thu Vũ. Mưa Thu. Nàng đã khóc khi nghe Nguyễn Du bệnh gần cả năm, tóc đã nhuốm bạc. Trời ảm đạm mây mù dăng mờ mịt, lòng em như mây (tiếp ý mây bài Thu dạ hữu hoài và Thu Dạ I), nhưng mây đầy trời ảm đạm và mù mịt, tí tách mưa thu rơi trên sân vắng. Đầu cành cây khô giọt lệ dài ngắn, trên lá chuối vàng, tiếng thưa mau. Ngâm đọc xong bài Thu Dạ (I), đê mê như mơ, thương nhớ chàng cách xa ngàn dậm, sầu vấn vương dăng mắc mối tình năm canh. Nơi khuê phòng, người nhan sắc, mặt hoa đau khổ vô cùng, một mảnh lòng sầu vẽ mãi không thành.

Mưa thu

Trời thảm mây dăng tối mịt mùng,
Mưa thu tí tách nhỏ ngoài sân.
Cây khô dài ngắn
rơi hàng lệ.
Tàu chuối vàng tơi tiếng chậm nhanh.
Ngâm dứt đê mê sầu vạn dặm,
Buồn dâng quạnh quẽ nỗi năm canh.
Khuê phòng riêng khổ người nhan sắc,
Một phiến sầu vương vẽ chẳng thành.

(Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương, Nhất Uyên dịch thơ)

II. 7. Nguyễn Du trả lời bài Thu Vũ của Hồ Xuân Hương bằng bài Thu Dạ II. Tiết bạch lộ tháng tám âm lịch, hơi thu đã già, qua tháng chín là tiết sương dâng, không phải chỉ lòng em đầy mây mù đâu, lòng anh cũng lạnh lẽo sương dâng mờ mịt cây cỏ quanh bến giang thành đìu hiu. Bên đèn khuya quạnh quẽ ngóng đợi. Vắt tóc như Chu Công bận lo việc nước, vừa gội đầu vừa tiếp sĩ phu, phải vắt ba lần mới gội đầu xong. Lo cái chí nguyện tàn phai theo ngày tháng, non sông nghìn dậm càng nghĩ càng nhớ càng lo lắng trong ngày dài. Phong cảnh bốn mùa thay đổi riêng mình ngậm ngùi buồn, trời chớm lạnh, mới hay không áo là khổ, nghe tiếng chày người khuê phụ đập vải trong chiều, lòng nhớ đến em nơi khuê phòng trông ngóng.

Đêm thu II

Móc trắng sương thu dăng mịt mùng,
Đìu hiu cây cỏ bến giang thành.
Đèn khuya quạnh quẽ đêm dài ngóng,
Vắt tóc lo hoài chí nhạt tan.
Vạn dặm giang sơn dài nỗi nhớ,
Bốn mùa mây nước ngậm ngùi trông.
Chớm lạnh mới hay không áo khổ,
Tiếng chày khuê phụ, bóng chiều phong.

(Thơ chữ Hán Nguyễn Du Thanh Hiên Thi tập. Nhất Uyên dịch thơ)

Chú thích:

Bạch lộ: sương móc trắng, tiết bạch lộ là tháng 8 âm lịch.
Ác phát: Chu Công bận lo việc nước có khách lại, ông vắt tóc lên ra tiếp, phải vắt ba lần mới gội đầu xong.

II.8 Rồi mùa thu sau, Xuân Hương lại gửi đến Nguyễn Du bài thơ chữ Hán Cố kinh thu nhật, trong Hương Đình Cổ nguyệt thi tập: Thấm thoát đã bao mùa thu qua, bóng trăng xế bóng, tuổi càng cao ngày một quá thì, nơi chốn cũ phồn hoa nhớ xưa cùng mời rượu chàng. Dòng sông Tô nước chảy về hướng Tây không ngừng nghỉ, trời quang đãng trông rõ bóng núi Tam Đảo phía Bắc xa xa. Dưới đèn nơi Cổ Nguyệt Đường thương chăn xanh, vật cũ di sản nho học dòng dõi cha ông. Sương móc xuống rơi đọng quanh nhà, sương móc trắng không chỉ rơi nơi anh (bài Thu Dạ II), mà nơi em cũng rơi đọng quanh nhà. Ước gì đôi ta thử gặp lại nhau cho đỡ mong nhớ? Năm hết, tết sắp đến, anh mãi xa thế mãi a ?

Ngày thu kinh đô cũ

Thấm thoát đường thu ánh nguyệt tà
Chốn xưa rượu chuốc chén phồn hoa.
Dòng Tô nước cuốn về Tây mãi,
Tam Đảo trời quang vọng Bắc xa.
Đèn nguyệt chăn xanh thương vật cũ,
Sương buông móc trắng đọng bên nhà.
Ước gì gặp lại vơi mong nhớ
Khách cũ, năm tàn mãi thế ai ?

(Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương, Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập. Nhất Uyên dịch thơ)

Chú thích:

Thanh chiên: chăn xanh lót bằng tơ tằm thô, hay bông vải, làm mền đắp cho khỏi lạnh. Vương Hiến Chi đời Tấn, đêm thấy kẻ trộm vào nhà lấy nhiều đồ vật. Ông ung dung bảo với tên trộm rằng: Lấy gì thì lấy nhưng cái chăn xanh là vật cũ của nhà ta, nên bỏ trả lại ta. Về sau người ta dùng chữ thanh chiên để chỉ những nhà dòng dõi nho học.

II.9. Nguyễn Du phúc đáp bài Cố kinh thu nhật của Hồ Xuân Hương bằng bài Khai song, dùng lại điển tích thanh chiên và cũng ý mùa thu. Nguyễn Du vẫn giữ mãi cái chăn xanh, như tấm lòng yêu thương nàng, và cho biết đang chữa bệnh nên chậm thư phúc đáp.

Cảnh vật trước nhà nay ra sao, thong thả mở cửa sổ, thấy cảnh vật tươi vui, anh nằm đóng cửa, bệnh chẳng biết trời trăng gì. Sáu tháng qua có gió lớn đưa cánh chim bằng bay mãi không nghỉ. Phải chăng chim bằng là Bằng quận công, gặp thời nhứ gió bay cao. Nguyễn Hữu Chỉnh thuộc hạ Hoàng Đình Bảo, khi Bảo bị kiêu binh giết, Chỉnh trốn vào Nam phò Tây Sơn, đem quân ra Bắc diệt Trịnh, thao túng quyền hành Bắc Hà rồi bị tướng Tây Sơn là Vũ Văn Nhậm giết. Tuy nhiên khi Nguyễn Du làm bài này, tình hình là Gia Long liên tiếp thắng nhiều trận lớn từ Gia Định đang đánh tới Bình Thuận, Diên Khánh, Nha Trang. Một sân mưa đọng kiến bò cao, xã hội đầy những kẻ thấp kém bất tài thừa cơ nước lụt bò lên cao. Nguyễn Du ám chỉ quân Tây Sơn thời mạt vận chăng ? Khác với anh Nguyễn Nễ phò nhà Tây Sơn, được vua Quang Trung trọng dụng, ưu đãi, hai lần được đi sứ, được giao cho trấn đóng Thành Bình Định, quê hương nhà vua, được dâng sách, dạy vua đọc hàng ngày và thảo chiếu biểu cho vua Cảnh Thịnh, Nguyễn Du theo Gia Long và khinh miệt Tây Sơn, khi cho Tây Sơn là kiến, khi là sâu trùng (Cóc nhái quần bếp vắng, Sâu trùng bò mé ngoài, bài Bất Mị). Dòng dõi nho gia, chiếc chăn xanh vật cũ, anh vẫn giữ mãi, giấy rách giữ lấy lề, giữ thanh danh ông cha mình. Tóc bạc rồi, tài năng chí khí mình như thế mà chưa làm nên được việc gì thật quái lạ. Bệnh tái phái, anh đang lo chạy chữa nên chậm thơ phúc đáp thơ em.

Mở cửa sổ

Trước nhà cảnh vật đã ra sao,
Mở cửa ngày nhàn sinh ý nhiều.
Sáu tháng gió tung bằng lượn mãi;
Một sân mưa đọng kiến bò cao.
Chăn xanh vật cũ khư khư giữ.
Tóc bạc hùng tâm luống nghẹn ngào.
Trở bệnh hãy còn lo chạy chữa,
Biết chi thu tứ đến nhà nao ?

(Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập, Nhất Uyên dịch thơ)

Chú thích:

Lục nguyệt bồi phong bằng tỉ địa: Sách Trang Tử, thiên Tiêu dao du: Loài chim ấy thấy biển động bèn bay sang biển Nam. Chim bằng bay qua biển Nam, làm sóng nước nổi lên ba ngàn dậm, nương gió bay lên chín vạn dậm, bay sáu tháng mới nghỉ. Bởi vậy khi chim bằng bay lên cao, cưỡi lên lớp gió dưới nó.

II.10. Xuân Hương lại gửi cho Nguyễn Du một bài thơ khác, bài Thu nhật tức sư: Ngọn gió Tây đêm qua mang lạnh về, giậu cúc ìu hiu dù không có tuyết. Mưa rơi nặng mặt nước sông mờ mịt, mưa dứt, trơ trọi một đám mây núi như có ai vẽ đường nét mi. Sen tàn cuối hạ còn lưu lại một chút hương mùa xuân cũ. Chim hót có thấu chăng cõi lòng mình, mỗi lời còn đọng mối tình thương nhớ quê. Trong thơ Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, gió Tây không chỉ là gió Lào từ hướng Tây, mà là quân Tây Sơn ra Bắc, do đó ta có thể đọc một cách khác những ẩn ý trong bài thơ tả cảnh để nói lên tình hình chính trị đương thời. Quân Tây Sơn ra Bắc làm cho tình hình đìu hiu. Cuộc chiến đang diễn ra trong Nam với quân Chúa Nguyễn, tình hình vẫn còn mờ mịt. Nay chỉ còn một mình Vua Tây Sơn nơi đất Bắc, triều đại nhà Lê suy tàn nhưng lòng người cũng còn nhớ đến. Có ai thấu chăng lòng mình còn nhớ đến quê hương.

Ngày thu tức cảnh

Đêm qua lành lạnh gió Tây về,
Giậu cúc đìu hiu tuyết chửa đi.
Mưa nặng sông chia mờ mặt nước,
Mây trơ núi biếc vẽ đường mi.
Sen tàn cuối hạ làn xuân rớt,
Liễu rũ hương thừa áo biếc che.
Chim hót nỗi mình ai có thấu,
Lời lời còn đọng mối tình quê.

(Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương. Hương Đình Cổ Nguyệt Thi tập. Nhất Uyên dịch thơ)

II.11 Nguyễn Du lại viết một bài thơ Thu nhật ký hứng, mở đầu bằng chữ Tây Phong đáp lại bài thơ Thu nhật tức sự của Hồ Xuân Hương. Gió Tây mới đến, anh vẫn chưa về mà đã thấy khí trời lạnh lắm. Non sông nước cũ ngắm trông buổi chiều tà. Dù có xa em thân thế mặc như đám mây trôi nổi. Giật mình sợ cái cảnh già đến, đêm qua tiếng gió thu ở đâu nổi lên. Cười mình đầu bạc mà còn vụng thu xếp, lá vàng rơi đầy sân. Ta đọc lại bài thơ bằng hậu ý, Nguyễn Du tâm sự: Vì Tây Sơn ra Bắc nên chàng chưa về Thăng Long, không khí chính trị làm cho lòng dạ tái tê. Nhìn non nước cũ nhà Lê thời vận đã tàn, ở quê mình mà cũng như quê người, thân phận tha hương vẫn như đám mây trôi nổi (khóc cười theo thời thế, im lặng giữ thân). Sợ rằng tuổi ngày một cao mà chưa làm nên việc gì. Đêm trước có nghe gió thu, từ phương Nam (Lạy trời cho có gió Nồm, để thuyền chúa Nguyễn dong buồm thẳng ra) mọi người đều hay biết. Tự trách mình bạc đầu còn vụng tính, nhìn lá vàng rơi rụng đầu hè.

Ngày thu cảm hứng

Gió Tây mới đến khách chưa về,
Khí lạnh mười phần dạ tái tê.
Nước cũ non sông trời lặng ngắm,
Quê người thân thế gửi mây che.
Cái già chợt sợ nay đà đến,
Thu đến nơi nơi đêm trước nghe.
Tự trách bạc đầu ta vụng tính,
Lá vàng rơi rụng, rụng đầu hè.

(Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập. Nhất Uyên dịch thơ)

Chú thích:

Bạch đầu. Nguyễn Du thường tả mình đầu bạc, có lẽ ông bị bệnh bạc tóc sớm. Thế kỷ 18, 19, tuổi thọ trung bình người Việt Nam chỉ trên năm mươi. Đặc biệt làng Tiên Điền có tục ăn lão năm 53 tuổi, trên tuổi này được xếp vào hạng trưởng lão, ăn trên ngồi trước trong làng. Anh em Nguyễn Du chỉ sống trên dưới 55 tuổi.
Tha hương: Nguyễn Du còn ở Hà Tĩnh, đang nghĩ chuyện tha hương, vào Nam theo chúa Nguyễn Ánh.

II.12 Thời gian xa cách thấm thoát đã hai năm. Nguyễn Du vẫn biền biệt nơi Hồng Lĩnh. Mẹ Xuân Hương thúc ép nàng lấy chồng. Có anh thầy lang xóm Tây làng Nghi Tàm, con cụ Lang, cậy người mai mối. Nhân có người về Hà Tĩnh, Hồ Xuân Hương gửi thơ cấp báo:

Vài hàng viết thư gửi chàng mà chạnh lòng nước mắt rơi, tưởng rằng thức suốt năm canh ánh trăng vẫn còn đó, tưởng rằng em (nguyệt) có thể chờ đợi anh lâu hơn, nhìn lá nhuộm sương mai buổi sớm mà lòng thẹn (vì đã hẹn với chàng), màu sương khói chỉ làm rộn ràng nỗi buồn, bước ra ngoài nhà thẩn thơ trước gió, xa xa tiếng địch ai thổi chói tai (lời anh lang xóm Tây theo ve vãn nàng), muốn hỏi trăng già sao khe khắt với tình duyên đôi ta, trêu nhau làm chi mà xe mối tơ không trọn vẹn để đôi ta xa nhau. Phạm Đình Hổ đã chứng kiến việc mẹ gả Xuân Hương cho anh thầy lang, có lẽ cũng là học trò cụ Đồ Diễn, thư sinh ngày xưa không thi cử làm quan thì cũng hành nghề: Y, Lý, Bốc, Số, anh Lang không thi cử, trở về tiếp tục nghề nghiệp của cha. Bài Hoài Cổ (Nhớ xưa) Phạm Đình Hổ viết về Xuân Hương, tôi dịch như sau: Năm xưa hoa đào nở, Em tôi học cài trâm. Năm nay
hoa đào nở. Mẹ gả xóm Tây gần. Năm nay hoa đào nở, Gió xuân sao lạnh lùng. Em nhìn hoa mà khóc. Sầu vương nét mi cong. Năm nay hoa đào nở, Cỏ xuân mượt trời mơ. Bên hoa em cười nụ, Ngâm thành tự đề thơ.
Phạm Đình Hổ là người ham học hỏi, thấy người tài là đến chơi, thấy nhà ai có nhiều sách hay thì đến đọc, thấy việc gì cũng ghi chép. Trong thơ văn ông, tôi khám phá, ông chứng kiến mối tình Xuân Hương với Nguyễn Du, với anh Thầy Lang, với Mai Sơn Phủ, và cho Xuân Hương mượn tiền để mở quán sách Phố Nam thành Thăng Long, cạnh đền Lý Quốc Sư và trường ông Nghè Phạm Quý Thích, sau khi Xuân Hương dứt tình với Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà. Xuân Hương không tự đề thơ, mà viết bài thơ cuối cùng cho Nguyễn Du.

Hoạ nhân

Vài hàng chữ gấm chạnh niềm châu;
Nghĩ tưởng năm canh nguyệt hé lâu.
Lá nhuộm thức lam thêm vẻ thẹn,
Sương pha khói biếc rộn thêm sầu.
Thẩn thơ trước viện, nhà khoe gió,
Đồng vọng bên tai, địch thét đâu,
Ướm hỏi trăng già khe khắt bấy,
Trêu nhau chi những sợi cơ cầu.

(Thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương. Lưu Hương ký)

II.13 Nguyễn Du phúc đáp bằng bài thơ Ký Mộng, mơ thấy Xuân Hương bỏ mẹ, bỏ lớp dạy trẻ, vượt đèo Tam Điệp đầy hổ báo, vượt Sông Lam lắm cá sấu, đường đi thật hiểm trở, vào Hồng Lĩnh thăm mình. Tỉnh dậy viết bài Ký mộng gửi Xuân Hương, nên năm 1813 khi tình duyên tan vỡ, đò đã qua mấy chuyến, trong bài Cảm Cựu Khiêm Trình Cần Chánh Học sĩ Nguyễn Hầu, mừng chàng làm Chánh Sứ, Xuân Hương nhắc lại: Giấc mộng rồi ra nửa khắc không. đáp lại các câu thơ: Mộng đến ngọn đèn sáng, mộng đi gió lạnh lùng, giai nhân nào thấy nữa, lòng ta rối tơ vương.

Bài Ký mộng, Nguyễn Du viết: Thời gian như nước chảy suốt ngày đêm, người đi xa mãi chưa về, bao năm rồi không gặp mặt nhau, biết làm sao vơi hết nỗi nhớ thương. Nay trong mộng thấy rõ ràng, nàng đến tìm ta nơi bến sông (Giang Đình). Vẻ mặt vẫn như xưa, nhưng áo quần nàng không buồn chăm sóc. Thoạt tiên nàng kể nỗi đau ốm, rồi than thở nỗi chờ mong những ngày xa cách. Sụt sùi không nói hết lời, phảng phất như cách nhau một bức màn sa. Bình sinh vốn không biết đường. Mộng hồn chẳng rõ thực hay hư. Núi Tam Điệp (Ba Dội) nhiều hổ báo, sông Lam có lắm cá sấu. Đường đi hiểm trở khó khăn, thân gái biết nhờ cậy ai ? Mộng đến ngọn đèn cô đơn giọi sáng, Mộng tàn gió thổi lạnh lùng, Mỹ nhân không thấy nữa, Lòng ta rối như tơ vương, Nhà trống ánh trăng nghiêng soi vào, chiếu xuống tấm áo cô đơn của ta. Ngày trước ông Đào Duy Anh, trong cuốn Khào luận Truyện Kiều căn cứ vào câu Du tử hành vị quy, cho rằng Nguyễn Du nhớ vua Lê Chiêu Thống. Các ông Lê Thước, Trương Chính trong thơ Chữ Hán Nguyễn Du cho rằng nhớ một người bạn cũ, sau đó lại cho rằng nhớ người vợ trước là em Đoàn Nguyễn Tuấn. Riêng tôi cho Nguyễn Du không gọi là hiền thê, vợ hay bạn hay vua mà gọi là mỹ nhân thì mỹ nhân đó chính là Xuân Hương Hồ Phi Mai, lúc này Nguyễn Du còn cô đơn chưa vợ. Ba mươi tuổi, Nguyễn Du mới về Quỳnh Hài cưới vợ, lúc ở Hồng Lĩnh chỉ ở một mình bếp lạnh hoang vắng.

Ghi lại giấc mộng

Dòng nước ngày đêm chảy,
Người biệt chốn cố hương.
Bao năm không gặp mặt,
Làm sao hết nhớ thương.
Trong mộng rành rành thấy,
Tìm ta nơi bến sông,
Dung nhan vẫn như trước,
Y trang buồn biếng chăm.
Trước kể nỗi đau ốm,
Rồi than những ngày xa.
Nghẹn ngào không nói hết,
Dường cách bức màn sa.
Bình sinh không thuộc lối,
Mộng hồn biết thật chăng ?
Núi Điệp đầy hổ báo,
Sông Lam lắm thuồng luồng,
Đường đi thật hiểm trở,
Phận gái nhờ ai không ?
Mộng đến đèn côi sáng,
Mộng tan gió lạnh lùng,
Người đẹp nào thấy nữa,
Lòng ta rối tơ vương.
Nhà trống vầng trăng xế,
Soi manh áo cô đơn.

(Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch)

Chú thích:

Cách duy: cách bức màn. Hoàng hậu vua Hán Vũ Đế là Lý phu nhân, sắc đẹp, múa giỏi, chết sớm. Vũ Đế rất thương tiếc. Có người phương sĩ nói có thể chiêu hồn Lý phu nhân về, vua bằng lòng. Ban đêm, người ấy bèn giương màn, đốt nến, để vua ngồi trong màn, nhìn sang một bức màn khác, thấy bóng một người giống Lý phu nhân.
Nhược chất: tư chất phụ nữ yếu đuối.
Nhu tình: mối tình vương vấn thắm thiết.

II.14 Sau khi nhận được bài thơ này năm 1795 Hồ Xuân Hương hiểu mối tình của mình chỉ là giấc mộng. Nguyễn Du thôi làm Hồng Sơn Liệp Hộ mà làm Nam Hải Điếu Đồ, đi câu cá biển Nam Hải. Tâm sự Nguyễn Du lúc này trong bài Tạp thi I viết: Bạc đầu tráng sĩ ngửng trời than, Dựng nghiệp mưu sinh thảy lỡ làng, Thu Cúc, Xuân Lan thành mộng ảo. Hạ nồng, đông lạnh cướp ngày xanh. Nguyễn Du cho rằng chuyện tình của mình với cô Cúc làng Trường Lưu hay với Xuân Hương làng Nghi Tàm đều đã thành mộng ảo.Về Hồng Lĩnh, Nguyễn Du tâm sự với người bạn cũ Thực Đình (bút hiệu có nghĩa là người ăn ở đình làng) Họp bạn khó tìm người mắt biếc. Sau vụ khởi nghĩa Nguyễn Quýnh, làng Tiên Điền bị làm cỏ, người sống sót chẳng ai dám tỏ một thái độ gì. Do đó Nguyễn Du không thể ở lại dạy học, cũng không thể tìm ra thủ hạ, do đó, tôi bác bỏ đoạn gia phả Nguyễn Tiên Điền chép: Nguyễn Du từ Hà Tĩnh dẫn thủ hạ mang quân lương ra tiếp rước Vua Gia Long. Và được đưa ra Bắc phong tri huyện Phù Dung trấn Sơn Nam. Trên bước đường tìm mánh mung vượt biên vào Nam theo chúa Nguyễn Ánh, có lẽ Nguyễn Du đã rơi vào bẫy của công an biên phòng của Hiệp Trấn Hà Tĩnh Nguyễn Văn Thận, nên thay vì vào Khánh Hoà, Nguyễn Du bị chở thẳng vào tù. Nguyễn Văn Thận nể tình bạn thân với Nguyễn Nễ, và tài thơ văn Nguyễn Du nên chỉ cho học tập cải tạo sơ sơ mười tuần (ba tháng) trong bài Cảm Hứng trong tù Nguyễn Du cho rằng nỗi lòng mình không ai biết: Tâm sự chút lòng, ai biết tỏ, Như sông Quế sâu dưới non Hồng. Nguyễn Văn Thận giữ vững Hà Tĩnh cho đến năm 1802, vua Gia Long tiến đánh, Thận thua trận chạy ra Thanh Hoá và bị giết ở đó.

Tin tức Nguyễn Du bị tù đã ra tới Thăng Long. Hồ Phi Mai lên đường về nhà chồng là thầy lang xóm Tây làng Nghi Tàm.

Sau khi ra tù, ban đêm Nguyễn Du đã đi bộ trốn ra Thăng Long; bài Dạ hành: Trăng xế biển Nam ngàn dậm chiếu, Đường xa gió lộng một người trông. Đêm đen mờ mịt bao giờ sáng, Đầu bạc mà còn vụng dấu thân. Trên đường đi Nguyễn Du phải đi ăn xin: Bài Khuất Thực viết: Chống gươm ngạo nghễ thét trời xanh, Ba chục năm trong bùn hôi tanh, Chữ nghĩa ích gì cho cuộc sống, nào ngờ đói rách người thương tâm.

Đến Thăng Long Nguyễn Du đến một quán khách quen biết bên bờ Hồ Tây, chủ quán cho hay Xuân Hương Hồ Phi Mai đã đi lấy chồng là thầy lang xóm Tây làng Nghi Tàm. Chủ quán mời một bình trà, Nguyễn Du uống bao nhiêu lần, không tiền nên chỉ xin nước sôi uống trà lạt, ngồi viết hai bài thơ ký tên Chí Hiên. Bài thơ oán trách Hồ Xuân Hương thậm tệ, nhưng nàng vẫn trân trọng lưu trong tập thơ Lưu Hương ký. Đã giao du với nhau mấy năm tròn, thề thốt tình thâm giao xe, nón mãi mãi còn. Xe nón do chữ Xạ lạp theo sách Phong thổ ký, phong tục nước Việt thuần phác. Trong buổi sơ giao, hai bên làm lễ kết nghĩa thường có lời thề: Anh cưỡi xe, tôi đội nón, khi gặp nhau sẽ xuống xe vái chào tôi, anh cầm ô tôi cỡi ngựa, khi gặp nhau tôi sẽ xuống ngựa chào anh. Thơ Khổng Bình Trọng: Việc đời biến đổi khôn lường, chớ vì cưỡi xe mà khinh kẻ đội nón. Vì thế tình thân là xạ lạp chi giao, mối giao tình xe nón. Không biết tại lòng nàng tham giàu sang mà thay dạ đổi lòng, lòng đen tựa mực đi lấy chồng thầy thuốc, còn tôi học tập cải tạo mới ra, tình tôi vẫn thắm như son, một lòng yêu nàng. Tai tôi chưa quên lời vàng ngọc của nàng, nàng có mắt hãy xem tôi làm nên sự nghiệp với nước non. Chớ trách chúa xuân, vì sợ chờ đợi tôi mà mỏi mệt sợ lỡ thì. Tình nàng sớm mận tối đào như thế có xứng đáng dòng dõi con nhà quyền quí chăng ? Còn có bài thơ trách móc nào đau đớn hơn.

Chí Hiên tặng I

Chữ giao nguyền với mấy năm tròn,
Xe nón tình kia mãi mãi còn.
Chẳng biết dạ người đen tựa mực,
Sao hay lòng khách thắm như son.
Còn tai chửa lãng lời vàng ngọc,
Có mắt mà xem mặt nước non.
Chớ trách chúa Xuân lòng mỏi mệt;
Mận đào được thế tiếng công môn.

(Thơ chữ Nôm Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương lưu trong Lưu Hương ký)

II.15. Bài Chí Hiên tặng II Nguyễn Du không trách móc nữa mà bày tỏ lòng mình. Rủi may nào xá gì, nghĩ rằng cùng tắc thông, thông tắc biến, biến tắc hoá theo Kinh Dịch. Ra Bắc phen này (1796) mong làm nổi việc, Nghĩ lại việc vào Nam (1794) cũng hoài công, Hà Tĩnh chẳng ai theo, chẳng thể lập cứ địa chống Tây Sơn, cũng chẳng thể vượt biển vào Nam theo chúa Nguyễn Ánh. Bạn thơ cũ nay đâu, ngồi uống trà một mình, uống bao nhiêu bình nước rồi, ấm trà đã nhạt. Quán trọ đêm qua năm canh không ngủ được vì manh áo quá mong manh, trời đã vào lập đông. Trông ra sông hồ mù mịt sương khói từ biển thổi vào. Người xưa Cổ Nguyệt đường lòng như tấm gương trong nào thấy đâu?

Chí Hiên tặng II

Rủi may nào sá nghĩ cùng thông,
Chưa dễ tri âm tỏ nỗi lòng.
Ra Bắc phen này mong nổi việc.
Vào Nam ngẫm trước cũng hoài công.
Bạn tao năm hết mâm trà lạt.
Quán khách canh chày mảnh áo mong.
Gớm nhẽ trông ra mù khói bể
Nguyệt đường bao ngả thấy gương trong

Nguyễn Du tìm đến nhà Đoàn Nguyễn Tuấn, bên bờ sông Nhị, Đoàn đang làm quan Tây Sơn, nhà cao cửa rộng: Trên bờ sông Nhị nhà chen gần, Đã chiếm cả thành hết cảnh xuân, Cầu gác Đông Tây cao ngất dựng. Chẳng kém gì các biệt thự các vị quan ngày nay. Nguyễn Du được Đoàn Nguyễn Tuấn gả em gái út, và giao cho gia trang tại Quỳnh Hải năm 1797. Từ đây Mùa Xuân Quỳnh Hải, sau khi góc biển chân trời, ba chục tuổi Nguyễn Du mới biết đến hạnh phúc: Trăng sáng đầu xuân toả ngập tràn, Bao giờ trăng chẳng nhạt thuyền quyên, Một trời xuân hứng nhà ai lạc. Muôn dậm Quỳnh Châu nguyệt sáng ngần.
Ở đây Nguyễn Du chấm dứt cuộc đời 10 năm gió bụi, được có vợ con, dạy học, dạy văn và võ, hoàn tất Truyện Kiều. 5 năm ở Quỳnh Hải (1797-1802) Nguyễn Du đã giàu có, nên khi Vua Gia Long kéo quân ra đất Bắc đánh bắt vua Tây Sơn Cảnh Thịnh. Nguyễn Du từ Quỳnh Hải dẫn thủ hạ, học trò và tráng đinh Quỳnh Hải, đem theo lương thực, ngựa, bò, heo dâng sớ đón rước nhà vua. Đến Phù Dung trấn Sơn Nam thì gặp Vua Gia Long, vua phong ngay cho làm tri huyện Phù Dung. Sự kiện này tương tự như Phi Tử thời Chiến Quốc, người đất Phù Ngưu dâng ngựa lên Vua Chu Hiếu Vương được phong chức Phụ Dung nước phụ chư hầu. Từ đó Nguyễn Du có tên Phi Tử, Nguyễn Hành trong Minh Quyên thi tập bài Đi săn có nhắc đến bút hiệu này.

Phạm Trọng Chánh
Tiến Sĩ Khoa Học Giáo Dục. Viện Đại Học Paris V, Sorbonne
tác giả: Hồ Xuân Hương, nàng là ai ? Khuê Văn Paris xb. 2000
Nguyễn Du mười năm gió bụi và mối tình Hồ Xuân Hương. Khuê Văn Paris xb. 2011
Liên lạc: phamtrongchanh@free.fr


Xem online : Kỳ sau