Trang nhà > Xã hội > Kinh tế > Con đường đổi mới gập ghềnh

Con đường đổi mới gập ghềnh

Chủ Nhật 20, Tháng Giêng 2008

Những cải tổ kinh tế được thực hiện trên nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam từ 1986 đã giúp Việt Nam trở thành một quốc gia ưa chuộng đối với các trung tâm cho vay đa phương và các cơ quan phát triển. Những hoạt động chuyển đổi từ nền kinh tế nhà nước kế hoạch đã đem đến một quốc gia nghèo đói vì chiến tranh của ngày nào một sự phát triển kinh tế ngang hàng với Trung Quốc. Đồng thời, nhà nước đã thực hiện những chính sách giảm nghèo đã đạt được những tiến bộ trong lãnh vực thu hẹp sự khác biệt giữa người mới giàu và người nghèo.

Hai mươi năm trước, Hà Nội là một thành phố đổ nát từ thuộc địa Pháp, với vài dẫy nhà chung cư ven thành phố. Từ nơi cao nhất của khu khách sạn sang trọng ở trung tâm Hà Nội, người ta có thể nhìn thấy những mái ngói đỏ của thành phố củ, đến Sông Hồng và những gì sau đó, nơi mà những phát triển xây dựng cho tần lớp trung lưu đang mọc lên trên những mẩu ruộng ngoài ô, gần những xí nghiệp đầu tư của Nhật. Thành Phố Hồ Chí Minh, một thời là Sài Gòn và bây giờ thường được gọi là Thành Phố, đã quay lại với sự sôi nổi và hỗn loạn của nó. Những con đường bị nghẽn bởi xe máy đã làm một số nhân viên qui hoạch đô thị nghĩ tới việc cấm các xe máy, nhưng hình như không ai có thiện ý mạo hiểm một chính sách tự do và phản quần chúng như thế.

Như Trung Quốc, những thay đổi chính trị và trí thức đã tụt hậu với những biến đổi kinh tế. Sự thật là vì giao tiếp với thế giới bên ngoài nhiều hơn, hệ thống mạng Internet và sự tự tin của nhà nước đã phần nào mang lại một quan điểm cởi mở đối với một số tác giả và văn hóa phương Tây, một thời là điều cấm, nhất là âm nhạc và trang phục. Người ngoại quốc có thể du lịch tự do phần nhiều các nơi trong nước. Tuy nhiên, vẫn còn sự phân biệt rõ ràng hai loại đổi mới. Đổi mới kinh tế đã ảnh hưởng đến đa số và bây giờ không thể đi ngược được. Sự tiến bộ có thể được đo lường bằng số liệu, và nó đang mang lợi đến cho toàn dân, từ đảng viên đến người bán rong. Đổi mới chính trị, ngược lại, vẫn còn mơ hồ và khó ước lượng, vì không có ranh giới rõ ràng và đảm bảo những quyền lợi cá nhân.

Nói về dân chủ hóa thường ám chỉ đến sự mở rộng cấu trúc Đảng Cộng Sản. Mặc dù Quốc Hội bây giờ có một vai trò rõ ràng trong việc thảo luận pháp luật, những thành viên được bầu thường được kỹ lưỡng chọn trước, phần đông là đảng viên. Những quyền đảm bảo bởi Hiến Pháp 1992 phù hợp với những quy định dân chủ hiện thời, nhưng nó có thể bị bác bỏ nếu việc làm của các cá nhân được xem như phá hoại đến Đảng. Những nhà trí thức Việt Nam nói rằng trường hợp này dẫn đến một tình trạng thụ động trong đó ý kiến lập dị và mới bị dập tắt bởi sự ép buộc tuân thủ hiện trạng. Như quốc gia này nhìn tới tương lai sau Đại Hội Đảng X vào tháng 6-2006, có một điều không xác thực về hướng đi kế tiếp sẽ như thế nào.

Trước Khi Đổi Mới

Người ta nghĩ rằng biểu thị lịch sử đổi mới là đơn giản, với sự liệt kê những nghị định và chính sách. Nhưng có vài sự phức tạp. Lịch sử của đổi mới chính trị từ cuối thập niên 1970 đến bây giờ không phải là điều mà các nhà lãnh đạo Việt Nam nhất quán đồng ý. Hiện tại, có một sự thiếu hứng thú quá rõ trong nội bộ Đảng Cộng Sản để làm sáng tỏ vấn đề lịch sử — nó thường được diễn tả như một quá trình diễn biến không tránh được. Nhận định phi chính trị này giới thiệu đến Đảng như là một quá trình tiến triển để sữa đổi những sai lầm dưới sức ép của quần chúng - một nhận định mà các học giả có thể mô tả như là mô hình "chính trị hàng ngày". Quyết định táo bạo để thay đổi hướng đi của quốc gia không nằm trong công việc của bất cứ cá nhân nào - Gorbachev, Yeltsin, hay Đặng - mà nằm trong sự đồng thuận của tập thể ứng phó với cơn khủng hoảng.

Tuy nhiên, nếu nhìn lại những năm tháng khó khăn nhất sau chiến tranh, khi nền kinh tế Việt Nam bị sụp đổ giữa những năm 1978 và 1982, người ta có thể thấy rằng giải pháp cho nổi thống khổ kinh tế là một đề tài tranh luận ác liệt cho tới năm 1985. Và nếu quay trở lại xa hơn về những năm 1960, người ta khám phá rằng cũng có một cuộc tranh luận như thế trong nội bộ Đảng Lao Động (tiền thân của Đảng Cộng Sản cho tới năm 1976) về giá trị tương đối giữa nền kinh tế hỗn hợp hay nền kinh tế thuần cộng sản. Sự khác biệt căn bản là tốc độ quốc gia sẽ phát triển đến trạng thái cộng sản.

Những người trung lập với những vấn đề xã hội, trong đó có Hồ Chí Minh, Lê Duẫn, và Võ Nguyên Giáp, ủng hộ một cách tiếp xúc chậm hơn để thay đổi kinh tế, miễn rằng chiến tranh để thống nhất đất nước được tiếp tục. Họ cũng tán thành một quan điểm cởi mở về vấn đề đấu tranh giai cấp, nghĩa rằng họ không thấy sự cần thiết thanh lọc trí thức và giới trung lưu trong hàng ngũ cán bộ và lãnh đạo nhà nước. Quan điểm của họ có thể được tóm gọn là thực dụng để thống nhất mọi người trong xã hội và nền kinh tế hỗn hợp. Đây là quan điểm cuối cùng đã chiến thắng năm 1986.

Ở miền Bắc vào những năm sau khi Nam-Bắc thống nhất, chính sách kinh tế từ những năm 1950 đến 1980 đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi hướng đi của khối xã hội chủ nghĩa, nhất là bị ảnh hưởng bởi Trung Quốc và Liên Bang Xô Viết. Sự kiện như Đại Hội Đảng 1956 ở Liên Bang Xô Viết, Đại Dược Tiến (Bước Nhảy Vọt) và Cách Mạng Văn Hóa của Trung Quốc, việc Liên Bang Xô Viết quay lại với tính chất chính thống thời Stalin trong những năm dưới sự lãnh đạo của Leonid Brezhnev đều hình như có sự ảnh hưởng tới hướng đi của nền kinh tế Việt Nam, cũng giống như vận mệnh chính trị quốc gia.

Một thực tiển, sau Đại Dược Tiến (Bước Nhảy Vọt), một thảm họa cho nông nghiệp, dường như đã ảnh hưởng đến những chính sách nông nghiệp của Bắc Việt trong những năm 1960. Từ 1960 đến 1962, "hệ thống trách nhiệm gia đình" [1] đã được dùng để phục chế tăng trưởng nông nghiệp ở tỉnh An Huy, một vùng bị ảnh hưởng nặng nề bởi chính sách Cải Cách Ruộng Đất. Hệ thống này cho phép các hộ gia đình ký hợp đồng sản xuất số lượng tối thiểu trên thửa ruộng giao cho, và phần thừa được bán ra ngoài. Gần với Việt Nam là tỉnh Quảng Tây, hệ thống này cũng được áp dụng. Chính sách này cho phép những hộ gia đình phục hồi sản lượng nông nghiệp trong vòng vài mùa, nhưng nó cũng là điểm mà Lãnh Tụ Mao bị chỉ trích ở Đại Hội năm 1962, và sau đó bị dập tắt.

Ở Việt Nam, hệ thống này đã được thí điểm trong vài tỉnh khoảng năm 1963, nhưng nó cũng là chủ đề của các cuộc phê bình ý tưởng. Vào cuối năm 1960, Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam (tiền thân của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam) đã phụ thuộc vào viện trợ thực phẩm từ những đồng minh xã hội chủ nghĩa, vì thế Việt Nam có đủ khả năng thi hành phương châm sản xuất theo chủ nghĩa thuần túy. Cuối năm 1968, Trường Chinh, nhà lý thuyết hàng đầu và cũng là Tổng Bí Thư Đảng giai đoạn 1941-1956, đọc một bài diễn văn phản đối kịch liệt các thí nghiệm hợp đồng với các hộ gia đình như là một sự trệch hướng từ công cuộc hợp tác xã của đảng. Trong một bài diễn văn khác năm 1968, ông đã tuyên bố rằng mục tiêu của đảng là loại trừ thương mại tư nhân.

Benedic Kerkvliet và những học giả khác nghiên cứu nông nghiệp Bắc Việt đã chỉ ra rằng đó là điều không thể cho đảng thi hành ngăn cấm hợp đồng với các hộ gia đình và thương mại cá nhân. Nông dân đã làm những gì phải làm để sống còn, và đó là thường tham gia vào việc tham nhũng cán bộ cấp dưới và để dành thời gian làm miếng vườn nhỏ của gia đình. Mặc dù vậy, quan điểm chính thống đưa xuống năm 1968, ảnh hưởng bởi việc Liên Bang Xô Viết đàn áp cuộc cải tổ Tiệp Khắc và hệ tư tưởng chống tư bản của Cách Mạng Văn Hóa Trung Quốc, đã để lại các dấu tích ở Việt Nam. Có nghĩa là chính sách hậu chiến sẽ bị ảnh hưởng nặng nề bởi những hệ lý tưởng.

Những Sai Lầm Sau Chiến Tranh

Sau ngày 30-4-1975, chiến thắng Bắc Việt ở miền Nam, cách mạng của người Việt Nam tiến thêm một giai thoại. Một cuộc họp chính trị vào tháng 11-1975 thông cáo rằng toàn nước sẽ thống nhất năm 1976. Như là cuối năm 1973, lãnh đạo đã hứa sẽ có một cuộc chuyển tiếp lâu dài cho miền nam, trước khi hai miền có thể hòa nhập. Thay vào đó, chính sách "xã hội chủ nghĩa hóa" miền Nam đi nhanh hơn dự định, xong hành với sự chuyển đổi ngành nông nghiệp miền Bắc bằng sự xây dựng hợp tác xã to hơn và cơ khí hóa.

Năm 1978 nhà nước đã bắt đầu chiến dịch đánh tư sản. Mục tiêu là cưỡng ép thương gia tư nhân tham gia lao động sản xuất, nếu cần mang đi vào "Vùng Kinh Tế Mới" ở ngoại ô. Chính sách hợp tác xã ở miền Nam bắt đầu bằng sự khuyến cáo bà con hùn vốn, công cụ và sức lao động. Những biện pháp này mang tính phản quần chúng, và kết quả là sản lượng đã giảm vào một thời điểm Việt Nam không có điều kiện hứng chịu. Những biện pháp này đã kích động một làn sóng tị nạn, gọi là "thuyền nhân", phần đông là người Hoa ở đô thị và thành viên của giai cấp trung lưu.

Chấm dứt chiến sự vào năm 1975 đã dẫn đến tình trạng cắt giảm viện trợ từ LB Xô Viết và Trung Quốc. Việt Nam hy vọng cao độ rằng họ sẽ được viện trợ bởi các nước Châu Âu và các trung tâm cho vay đa phương, nhưng đến cuối năm 1978, những hy vọng này đã bị vò nát khi Việt Nam có chiến tranh với Cam-pu-chia. Tình thế địa lý chính trị lúc đó có vẽ như đe dọa Việt Nam. Họ đã quá lạc quan và tính sai trong việc kiên trì cho một lời hứa viện trợ trước khi bình thường hóa quan hệ với Mỹ. Khi Việt Nam thấy được sự cần thiết để đối trọng với những chính sách nặng tay của Trung Quốc ở trong vùng, Mỹ đã không còn hứng thú để bình thường hóa.

Chính thể Khờ-me được thành hình ở Cam-pu-chia đã chứng minh họ là một người láng giềng gai nhọn, quyết định vẽ lại biên giới đường biển bằng vũ lực tháng 4-1975, rồi bỏ cuộc trong việc thương lượng biên giới năm 1976. Một loạt những xâm phạm biên giới tiêu cực, trong đó quân Khờ-me đã giết hàng trăm người dân Việt, đã thuyết phục Việt Nam can thiệp vào Cam-pu-chia bằng cách thiết lập chính thể đối lập. Quân đội Việt Nam xâm lược Cam-pu-chia tháng 1-1978, và vào tháng 1-1979 đã đuổi quân Khờ-me đến phần tây biên giới và tới Thái Lan.

Sự chiêm đóng này, tới năm 1979, đã làm phí tổn Việt Nam nặng nề. Việc đó làm xấu thêm các căng thẳng tồn tại với Trung Quốc, ông chủ bảo trợ chính cho Khờ-me, dẫn đến cắt viện trợ và tháng 2-1979, quân đội Trung Quốc đã phá hủy nặng nề các thị xã gần biên giới. Người Việt gốc Hoa, trong đó có những thợ mỏ và ngư phủ, đã tháo chạy hàng ngàn. Vai trò của Việt Nam ở Cam-pu-chia đã gây ra một cuộc tẩy chay viện trợ từ các nước phương Tây, ngoại trừ Pháp và Thụy Sĩ. Việt Nam bị đẩy vào hoàn cảnh chấp nhận thành viên của COMECON )Khối tương trợ và giúp đỡ kinh tế xã hội chủ nghĩa).

Thất Bại và Bắt Đầu

Tới năm 1979, nền kinh tế Việt Nam bị kiệt quệ. Những chính sách kinh tế được cố vấn sai, chiến tranh ở hai đầu biên giới, và sự chấm dứt viện trợ sau chiến tranh đã hợp sức để kiến sự thiếu thốn mọi thứ, kể cả thực phẩm, hạt giống, và dụng cụ kỹ nghệ. Nhưng sự khó khăn tột cùng đã có những kết quả tích cực: nó đã bắt buộc nhà lãnh đạo chấp nhận những chính sách thực dụng về nông nghiệp và xây dựng lâu dài.

Sự thay đổi bắt đầu từ Hội Nghị Trung Ương VI vào tháng 8-1979, nghị quyết được thông qua ra tín hiệu xanh cho khuyến kích sản lượng và tăng quyền tự do quản lý địa phương. Sự thay đổi đã có những ảnh hưởng lớn nhất là chấp nhận hợp đồng với các hộ trong hợp tác xã, và trở lại với chương trình thí điểm của những năm 1960. Đại Hội Đảng lần 5 đã phê chuẩn những thay đổi trong cách thức quản lý năm 1982, khi những tham vọng xã hội chủ nghĩa hóa của Đảng đã bị chỉ trích. Một nhà phê bình đã lăng mạ tinh thần Đại Dược Tiến của các nhà lãnh đạo. Chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm của năm 1976 đã bị hủy - từ 1981 đến 1985 chỉ tiêu được đưa ra từng năm một. Cuối năm 1982, Đảng có thể thông cáo vượt mức 70% của các mục tiêu, và có cái đạt trội 40 đến 50%.

Tới năm 1985, tuy nhiên, Đảng vần còn bị phân chia bởi một bên sợ sự trưởng thành của chủ nghĩa tư bản, với những "tai họa kinh khủng" và bên thực dụng đã nhận ra rằng "có thực mới vực được đạo". Sự phân quyền giao thương và khích lệ sản xuất cộng lại đã khuyến khích những phê bình từ những người lý tưởng, họ sợ rằng những phương sách này làm yếu đi chủ nghĩa xã hội và đặt quá nặng vấn đề thương mại vào tay người dân. Sự thật là vào năm 1983, việc thương gia tư nhân điều khiển hơn 50% thị trường thực phẩm, nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp được coi là báo động.

Trong một thời gian ngắn để chống đối lại những thay đổi, Hà Nội đã đóng cửa các công ty xuất nhập khẩu quốc doanh ở Thành Phố Hồ Chí Minh, mà từ 1980 đã được phép hoạt động để thu hút sự đầu tư của thương gia ngoại quốc. Bất chấp những lợi ích đã được hình thành, những công ty này được xem như những ảnh hưởng tham nhũng bởi những người cực đoan trong Bộ Chính Trị. Thành Phố Hồ Chí Minh đã đại diện sự xấu xa của chủ nghĩa tư bản, mà đại diện cho những người cộng sản lý tưởng là Trường Chinh.

Mãi tới năm 1985-1986 những thay đổi chính sách kinh tế bắt đầu an toàn và những quan điểm trừng phạt của Đảng cũng đã thay đổi. Sự nắm quyền của Mikhail Gorbachev ở Liên Bang Xô Viết và sự tấn công của ông vào sự hẹp hòi kinh tế của lý thuyết chính thống có sự liên quan tới cởi mở. (Sự thành công của đổi mới kinh tế ở Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình cũng đã cho phép Bộ Chính Trị Việt Nam suy nghĩ, và cám ơn sự xa cách chính trị từ Bắc Kinh những năm qua, họ đã không cần cảm ơn tầm quan trọng của mô hình mới theo kinh tế Trung Quốc). Bắt đầu năm 1985, Việt Nam đã tấn công vào hệ thống trợ cấp, theo nó là con đường cộng sản chủ nghĩa. Vào tháng sáu, Đảng đã ra thông cáo sự chấm dứt của trợ cấp về thực phẩm cho công nhân nhà nước và sự mở đầu của tiền lương hàng tháng, tăng theo chỉ số lạm phát.

Những thay đổi đầu mùa này không hoàn toàn thành công - nó đã dẫn đến một màn lạm phát khủng khiếp, tới 350% một năm. Sự cần thiết của nhà nước là tiền trả lương cao hơn, trong khi đó công nghệ vẫn bị đình trệ và sự chiếm đóng ở Cam-pu-chia đã tiếp tục làm mòn tài nguyên, và tất cả là công thức cho cơn bệnh. Mặc dù Việt Nam đã cố gắng loại trừ trợ cấp, nhưng vẫn phải nương nhờ trợ cấp của nước ngoài, và lúc này được chi viện toàn bộ bởi Liên Bang Xô Viết, phần nhiều là những món nợ có thể phải hoàn lại.

Những thay đổi đầu mùa này cần phải được nới rộng để loại trừ những thiếu cân bằng hiện hữu trong hệ thống lai căng, trong đó kinh tế tập chung vẫn được dùng để phân phối nguồn tài nguyên và đặt giá. Đại Hội Đảng VI vào năm 1986 xui khiến sự đột phá tri thức cho phép sự đổi mới tiếp tục.

Nới Lỏng Sự Giam Hãm

Trước khi đại hội bắt đầu, Trường Chinh trở thành lãnh đạo của Đảng lần hai, sau ngày mất vào tháng 7 của Lê Duẩn. Cuối cùng (có người nói rằng theo lời cố vấn của con trai, người đã du học tại Nga), ông đã cho phép đổi mới kinh tế. Ông công bố rằng Việt Nam đã vội vã từ bỏ chủ nghĩa tư bản một cách sai lầm. Ông công nhận rằng sự cả tin của lãnh đạo nhà nước để phát triển công nghiệp nặng đã đưa ra những đề án ngoài khả năng thực hiện. Ông trực tiếp cự tuyệt thành phần cấp tiến của mình và công nhận rằng Việt Nam đã quá vội vã trong việc cố gắng "thực hiện thay đổi vào thời kỳ quá sớm, đã loại bỏ quá nhanh thành phần kinh tế phi-xã-hội chủ nghĩa".

Những câu nói này đã dẫn đến quá trình thay đổi, mà khó khăn lắm mới được đăng đầu trang, một dấu hiệu chấp nhận rõ ràng và chuyển đổi Việt Nam vào hàng ngũ những quốc gia xã hội chủ nghĩa "đang thay đổi". Sau Đại Hội Đảng tháng 12, một quá trình được biết đến là "Đổi Mới" (được hiểu rằng đổi để thành mới) bắt đầu với sự lãnh đạo của Tổng Bí Thư mới, Nguyễn Văn Linh, người Bắc nhưng làm việc và sống trong Nam gần hết cuộc đời, và người được tin rằng là phe của Lê Duẩn.

Đại Hội Đảng VI đã thay đổi cơ cấu đầu tư để ưu tiên cho việc phát triển thực phẩm và nông nghiệp, những vật gia dụng, và xuất khẩu. Nó kêu gọi sự cải tổ hệ thống ngân hàng nhà nước và công ty quốc doanh được thay đổi để tự chủ tài chánh. Quốc hội cũng đã loại bỏ nhà nước độc quyền mua bán với hầu như các mặt hàng, và đã rút đi những giới hạn về kích thước công ty tư nhân. Sau đó, vào năm 1988, nghị định được đưa ra để phân phát đất hợp tác xã, vì thế nâng cao quyền lực kinh tế tư nhân ở vùng nông thôn. Năm 1989, nhà nước đã thực hiện biện pháp tài chánh để cải thiện chức năng của hệ thống tài chánh, bao gồm tự do hóa giá cả, giảm giá tiền tệ, và giới thiệu khái niệm lãi thật.

Quan trọng hơn, trong những ngày đầu của đổi mới, chương trình thay đổi của ông Linh bao gồm sự xóa bỏ những kiểm tra trí thức. Thời gian này được gọi là "cởi trói" (một từ có thể được hiểu như nới lỏng ra), đó là chính sách Việt Nam có gần nhất với chính sách "glasnost" hay Phóng Khoáng của Liên Bang Xô-Viết. Những tác giả chỉ trích những chính sách quá khứ của Đảng như Dương Thu Hương và Bảo Ninh, được phép in và xuất bản tác phẩm được tôn thờ trong những năm đó. "Nỗi Buồn Chiến Tranh" của Bảo Ninh là mốc lịch sử quan trọng, với sự diễn tả bộc trực về vết thương chiến tranh của một cậu bé tình nguyện viên đã cống hiến những năm tốt nhất của cuộc đời chống Mỹ. Đồng thời, ông Linh kêu gọi đối xử tốt với bên Công-Giáo (Catholics), tăng cường quan hệ với cộng đồng người Hoa, và chấm dứt kỳ thị những học giả miền Nam đã làm việc dưới thời Nguyễn Văn Thiệu.

Dấu hiệu đầu tiên của hòa giải với miền Nam Việt Nam là những năm đó, với sự trở lại của nông học gia Võ Tòng Xuân và kinh tế gia Nguyễn Xuân Oánh. Vào năm 1988, nhà nước đã thả gần hết các sĩ quan quân đội và công chức của chế độ Thiệu từ những trại học tập cải tạo. Sự nới rộng này vẫn không chấm dứt sự kỳ thị với người miền Nam đã có quan hệ với chế độ cũ và thuộc tầng lớp không đúng, nhưng nó đã làm mọi người dễ thở với cuộc sống - và cho phép họ tái định cư một cách hợp pháp. Nhiều người đã ra đi hợp pháp.

Thay Đổi Theo Kiểu Trung Quốc

Thời kỳ kế tiếp bắt đầu chính thức với Đại Hội VII vào năm 1991. Nhưng nhiều thay đổi đã kết thúc sự cởi mở được bắt đầu từ 1986, khởi xướng với sự kiện đàn áp sinh viên tại Quảng Trường Thiên An Môn bên Trung Quốc năm 1989 và sự sụp đổ của khối cộng sản. Sự rung chuyển tới gốc của khối xã hội chủ nghĩa đã khiến Cộng Sản Việt Nam dừng đột ngột tự do trí thức và những chỉ trích Đảng. Từ năm 1989, kinh tế và chính sách chính trị của Việt Nam đi gần với Trung Quốc.

Năm 1995 là năm Việt Nam hoàn toàn rút quân ra khỏi Cam-pu-chia, và đánh dấu một mối quan hệ hữu nghị Việt-Trung. Sự mạnh dạn trong quan hệ này là sự quyết tâm về nguyên tắc Đảng Cộng Sản lãnh đạo được thừa nhận. Bình thường hóa các quan hệ được thiết lập cuối năm 1991 sau khi ký hiệp ước với Liên Hiệp Quốc về vấn đề Cam-pu-chia, theo đó cho phép Liên Hiệp Quốc quyền tạm thời tổ chức bầu cử. Trong những năm sau đó, Việt Nam đã được cộng đồng thế giới công nhận, và nó có nghĩa rằng tiến gần đến viện trợ đa phương từ Ngân Hàng Thế Giới và Ngân Hàng Phát Triển Á Châu. Với sự đổi mới kinh tế là mục tiêu quốc gia, Việt Nam chống chọi được sự thiếu hụt viện trợ từ Liên Bang Xô Viết khi Nga sụp đổ năm 1991.

Sự chấm dứt liên minh Việt Nam với Liên Bang Xô Viết trùng hợp với sự phục hồi quyền lực của Đỗ Mười như là Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam. Là cựu quân nhân trước năm 1945 thời kỳ Đảng Cộng Sản Đông Dương, và là thành viên của giới Hà Nội cốt lõi, hai thành quả đáng chú ý trước năm 1991 là, ông giám sát một chiến dịch kiềm chế chủ nghĩa tư bản ở Hà Nội vào năm 1954, và rồi vai trò của ông trong việc xã hội chủ nghĩa hóa miền Nam Việt Nam trong những năm 1970. Bây giờ, ông nắm quyền tối cao trong thời kỳ sôi nổi nhằm khôi phục Việt Nam với thế giới tư bản.

Bề ngoài, Đỗ Mười là nhà lãnh đạo ôn hòa, nhưng danh tiếng của ông trong đảng mãi tới năm 2000 vẫn được nhắc đến như là bố già của chính trị Hà Nội. Không có nhiều bài viết về sự cống hiến của ông trong công cuộc đổi mới, có lẽ vì nghiên cứu quan điểm chính trị của nhà lãnh đạo là không hợp thời trong lãnh vực chính trị học ở Việt Nam, cũng có lẽ vì các nguồn tin tức nói rất ít. Nhưng trước mắt, có thể nói rằng thời kỳ dưới sự lãnh đạo của ông từ 1991 đến 1996 đã đánh dấu sự nhắc lại tính ưu việt của Đảng Cộng Sản và những vị anh hùng đảng trong quá khứ. Bắt đầu từ năm 1991, "Tư Tưởng Hồ Chí Minh" - những khái niệm được triết ra từ tác phẩm của Hồ Chí Minh - đã trở thành hệ tư tưởng chính thống cho quốc gia, song song với chủ nghĩa Mác-Lênin. Lý lịch của những người cộng sản đầu tiên như Nguyễn Sơn và Nguyễn Bình, những người đã thiên về khuynh hướng của Mao từ những năm 1970, được phát hành trong tạp chí lịch sử với các chứng thư tình cảm của quần chúng.

Trong thời gian đó, bàn luận về hệ thống đa nguyên hay là chấm dứt vai trò đứng đầu của Đảng Cộng Sản đều bị dập tắt. Là Thủ Tướng trong thời kỳ Nguyễn Văn Linh làm Tổng Bí Thư, Đỗ Mười đã biểu lộ quan điểm rằng báo chí phải đại diện chính kiến của Đảng. Sau năm 1991, không có sự bàn luận công cộng về thay đổi chính trị. May mắn thay cho đảng, sự tăng trưởng kinh tế và tiêu chuẩn cuộc sống đã hướng sự chú ý của quần chúng ra khỏi chính trị. Những tiếng nói của các cá nhân kêu gọi thay đổi không khí chính trị đều bị đàn áp, nhiều người bị nhốt tù hoặc giam tại gia. Nhưng phần đông dân chúng dường như chấp nhận chờ đợi sự giải phóng chính trị, miễn sao họ có thể hưởng thụ những khoái lạc tiêu dùng đã từ lâu không có.

Trong những năm 1990, vài thay đổi chính trị khiêm tốn đã được thi hành, điển hình là tách rời chức năng của đảng và nhà nước. Trên lý thuyết, đảng giảm bớt vai trò của mình trong nền kinh tế và công việc điều hành quốc gia hàng ngày. Nhưng gỡ rối mối quan hệ chuyên quyền của đảng với những gì đảng đang làm không phải là một công tác dễ dàng. Như nhà chính trị học Martin Gainsborough đã chứng minh, chính trị gia tiếp tục ảnh hưởng đến những vấn đề như ai được nhận tín dụng từ ngân hàng. Nói chung, khu vực quốc doanh bắt đầu hình thành lớn hơn trong những năm 1990, với người đầu tư nước ngoài bỏ vốn vào hợp tác với công ty quốc doanh. Hơn nữa, rất nhiều đoàn thể quốc doanh đã thoát hiểm và tự biến tính để chấp nhận những vai trò mới trong nền kinh tế thị trường.

Bước đi này đến thị trường, mặc dù với sự giám sát của một quốc gia trên danh nghĩa là xã hội chủ nghĩa, đã chấm dứt những điều khoản trợ cấp mà Việt Nam đã đảm bảo trong những ngày còn dưới chế độ cộng sản. Học vấn và y tế bây giờ phải tự trả, và giáo dục thường đòi hỏi phải đóng nhiều hơn những kinh phí căn bản. Giáo viên thường yêu cầu học sinh phải học thêm, vì tiền, nếu như muốn được chuẩn bị cho các bài kiểm.

Những phụ phí khác trong đời sống hàng ngày là gánh nặng với người nghèo Việt Nam, nhất là nông dân. Một trong những lý do có tình trạng náo động ở tỉnh Thái Bình năm 1998 là thuế và thu phí tùy tiện, bao gồm phí sử dụng đất và phí cho giáo viên, được nhân viên thuế địa phương thâu trên những gì được phép từ chính quyền trung ương. Giao thiệp đôi khi rất là tốn kém - tỷ như dự một tiệc cưới có thể là quá nhiều cho những gia đình bình thường, khi người ta muốn hào phóng cho cô dâu và chú rể.

Sự Khủng Hoảng Của Đảng

Việt Nam đã bỏ ra một năm để chuẩn bị cho Đại Hội Đảng, thâu lượm những ý kiến đổi mới. Vài tháng trước khi nhóm họp Đại Hội Đảng, tin tức trên mạng và diễn đàn thảo luận cương lĩnh của Đảng với sự chỉ trích và đề nghị thay đổi đều hăng hái, vì vậy một nhà tư tưởng hàng đầu, Nguyễn Đức Bình, đã kêu gọi nên giới hạn các cuộc tranh luận trong nội bộ. Nhưng nỗ lực đó đã đến quá trễ - gần như có sự đồng thuận ở Việt Nam rằng thiếu minh bạch ở các vị trí cao trong hệ thống là nguyên do của căn bệnh làm cho tham nhũng phát tán.

Tầm vóc của tham nhũng đã tiết lộ đầu năm 2006 khi công chúng biết được rằng lãnh đạo một cơ quan quản lý đầu tư ngoại quốc vào các công trình xây dựng đã dùng quỹ để đánh cược các trận đá banh. Những viên chức liên quan đã có lúc đánh cao tới độ tổng số tiền cuộc là 1 triệu đô-la cho một trận.

Sự khủng hoảng Đảng Cộng Sản là có thật. Đảng không thể tiếp tục là lực lượng lãnh đạo xã hội Việt Nam khi đảng được xem là thành phần bảo vệ những công chức tham ô, một lời buộc tội của vị tướng lừng danh Võ Nguyên Giáp trong thời gian đại hội. Có vài tín hiệu, tuy nhiên, những người mới trong Ủy Viên Bộ Chính Trị sẽ tiếp tục cho phép tranh luận công khai về tương lai của tham nhũng. Nông Đức Mạnh, một nhà lãnh đạo nhu nhược vì không có cơ sở quyền lực, tiếp tục đi con đường của cựu Tổng Bí Thư, trong khi thủ tướng và vị chủ tịch mới thì không được biết đến vì những khuynh hướng cởi mở.

Sự thay đổi phía trước cho Việt Nam sẽ chắc chắn đòi hỏi sự lãnh đạo khôn khéo và tinh xảo. Quan hệ với Trung Quốc đòi hỏi một mối bang giao thận trọng, như Việt Nam dần dần đang hướng tới sự giao thiệp thân mật với Hoa Kỳ, đánh dấu bởi sự viếng thăm của Bộ Trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfield. Tuy nhiên, Bộ ngoại giao đã không đoạt được chiếc ghế nào trong Bộ Chính Trị, và có một Bộ Trưởng mới vốn đào tạo từ ngành luyện kim. Mùa thu 2005 Việt Nam được tham gia vào WTO, đem đến đầu tư nước ngoài và sự cạnh tranh cho các công nghiệp địa phương. Để cạnh tranh trên thị trường thế giới, Việt Nam cần phải chấm dứt trợ cấp đến những tổ chức kinh doanh không có lời, một bước đòi hỏi nhiều hơn sự lãnh đạo kiên quyết.

Rõ ràng, cần phải chú ý thêm đến chất lượng của những đổi mới trong những năm sau này. Đảng Cộng Sản vẫn còn đeo đuổi những mục tiêu tham vọng như tăng năng lượng phát điện và có thể trở thành những quốc gia phát triển vào năm 2020, khi những thủy điện được xây trên vùng cao nguyên và những khu công nghiệp lan tỏa. Tuy nhiên, Việt Nam sẽ không còn có khả năng phớt lờ đi những vấn nạn xã hội. Nó bao gồm phúc lợi của người thiểu số mà đất đai của họ bị lụt vì xây thủy điện và những sự chuyển đổi vì phát triển. Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) tin rằng những thành quả vĩ đại gần đây về sự giảm nghèo có che dấu vô số người không có thu nhập và không có nhà cố định. (ND thêm: nhà không số, phố không tên).

Còn một sự lo lắng phổ biến khác trong số các nhà chuyên môn ngành phát triển rằng sự ảnh hưởng của phát triển đến phụ nữ. Những gia đình nông dân thường đầu tư học vấn cho con gái ít hơn con trai, và nhiều phụ nữ trẻ chỉ có con đường giải thoát bằng cách lấy người ngoại quốc, thường là Đài Loan. Số khác làm vợ lẽ.

Đảng Cộng Sản thật sự không còn là nguồn cho lý tưởng hay đạo đức (ND: xã hội), người Việt bây giờ hướng về Phật Giáo như là kim chỉ nam. Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã khởi công về thăm Việt Nam năm 2005, sau 38 năm vắng mặt. Ông giảng đạo đến các nhóm Phật Giáo khắp nơi trong nước. Tín đồ theo ông nói rằng ông thụ phong thầy tu ở Việt Nam qua hệ thống mạng Internet.

Nhà nước hình như nắm lấy thời cơ này để tìm kiếm một hệ thống đạo đức mới - cụ thể dự định sẽ xây dựng một trung tâm Phật giáo lớn nhất Đông Nam Á ở tỉnh Ninh Bình, phía nam Hà Nội, nơi có di tích của nền độc lập và thủ đô Việt Nam đầu tiên được tìm thấy. Với đặc tính tổng hợp của người Việt, ngay cả đảng viên cũng có thể cúng lễ tại chùa. Đây có thể là hướng mở rộng chân trời lý tưởng của đảng để đạt tới đa nguyên, thay vì một thể chế dân chủ đa đảng.

PDF - 103.8 kb
Tải về "Vietnam Road to Reform"

Vietnam Road to Reform (TQ dịch)

* Tác giả Sophie Quinn-Judge là giáo sư lịch sử và là đồng giám đốc của Viện Nghiên Cứu về Triết Học, Văn Hóa và Xã Hội Việt Nam ở Đại Học Temple. Bà là tác giả của cuốn Hồ Chí Minh: Những Năm Mất Tích, Đại Học California xuất bản năm 2002 (ảnh trên cùng)


[1family responsibility