Trang nhà > Sử­ sách > Thời mới > Cùng làm nên đại thắng 30-04

Vietnam War:

Cùng làm nên đại thắng 30-04

Thứ Tư 30, Tháng Tư 2008

TTCN - Một hệ thống tổ chức tuyệt mật xuyên suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, làm nhiệm vụ đặc biệt tiếp nhận nguồn tài chính từ trung ương, “chế biến” thành tiền Sài Gòn, xóa sạch dấu vết, nguồn gốc. Nguồn tiền này là huyết mạch nuôi quân của chiến trường B2 ngay trong lòng địch, trước mũi quân thù.

Ban tài chính Xứ ủy Nam bộ được thành lập năm 1955 do ông Tư Lầu (Phạm Hữu Lầu) trực tiếp phụ trách. Một số cán bộ dày dạn về công tác tài chính được bố trí ở lại làm nòng cốt như các ông Tư Võ (Võ Phát), Mười Phi (Nguyễn Văn Phi), Dân Sanh (Nguyễn Thanh Quang)… Giai đoạn đầu còn im ắng, một số cán bộ ra hoạt động công khai, kinh doanh hợp pháp ngay tại Sài Gòn như mở xưởng cưa, mua xe vận tải và tàu buôn vận chuyển hàng…
Năm 1957 một số cơ sở bị đánh bật dạt sang Campuchia tiếp tục gầy dựng công cuộc làm ăn để bảo tồn vốn và sinh lợi. Anh em ta đã làm đủ thứ ngành nghề, từ làm nhà thầu xây cất, mở garage sửa xe, mở Nhà in Wat Phuom, mở Công ty xuất nhập cảng Tân Á… Các anh Năm Tấn (Phạm Thanh Quang), Tư Cam (Nguyễn Gia Đằng) do có mác Việt kiều hợp pháp nên tự do mở rộng quan hệ mua bán và nối liên lạc với miền Bắc nước ta, tạo được bình phong và vỏ bọc khá chắc chắn.
Từ năm 1959 trở đi ta bắt đầu mở đường Trường Sơn cùng lúc khai thông đường trên biển đưa lực lượng chi viện vào Nam. Nhiều vùng căn cứ đã hình thành, nhiều tổ chức quần chúng được thành lập, lực lượng vũ trang ngày càng đông… Đến đây vấn đề cung ứng hậu cần trở nên cấp bách. Miền Nam do chính quyền Sài Gòn kiểm soát vốn là thị trường tự do, hàng hóa dồi dào, chỉ cần có tiền là có thể thu mua và cung cấp tại chỗ. Tiền bạc đã trở thành vấn đề nóng bỏng. Trong bối cảnh đó, tổ chức đặc biệt B29 được thành lập để đảm nhận vai trò này.
Phương thức AM
Bút tích của đồng chí Phạm Hùng, cố bí thư Trung ương cục miền Nam. X4 là bí số của đồng chí
Qui ước chuyển tiền mặt qua nhiều công đoạn đa dạng thiên biến vạn hóa. Có thể tóm tắt những nét chính: ta cắm người ở Bắc Kinh (Lê Văn Châu), Paris (Nguyễn Hữu Hai), Hong Kong. Đôla viện trợ được chuyển đến tài khoản bí mật ở Hong Kong, từ đây ta rút ra mua gom tiền Sài Gòn, riel, kíp, baht.
Do tỉ giá hối đoái áp đặt giữa tiền Sài Gòn và đồng đôla chênh lệch với tỉ giá thị trường tự do, nên các nhà buôn lớn và nhiều nhân vật có thế lực ở miền Nam đã nhào qua Hong Kong buôn bán tiền với ta. Chi phí “chế biến” này làm ta thiệt mất khoảng 3% trị giá tiền cần mua. Tiền mặt các loại sau đó được tập trung về BOC (Bank of China) tại Quảng Châu. Từ đây cán bộ biệt phái hải ngoại thông báo về cho B29 ở Hà Nội. B29 cử người sang Quảng Châu nhận đưa về.
Đến giai đoạn đưa tiền vào Nam qua đơn vị C100 thuộc Đoàn 559 theo đường Trường Sơn cũng hết sức gian nan. Thường đôla và các loại biệt tệ được đóng thùng đặc chủng chở bằng xe vận tải quân sự hoặc đi theo đường biển bằng những chuyến tàu không số. Theo qui định của trung ương, tiền đến giao cho địa chỉ nào thì nơi đó có đơn vị đặc biệt làm nhiệm vụ tiếp nhận và cất giữ. Ta không có chủ trương cất giữ tiền Sài Gòn nhiều vì sợ đồng tiền này mất giá. Đồng đôla vô Nam lại được “chế biến” tại chỗ theo cách phân tán, nhỏ lẻ để khỏi bị lộ. Cách làm này bộc lộ nhược điểm là thời gian kéo dài, thất thoát nhiều do bị địch chặn đường đánh phá. Khối lượng tiền cũng không đáp ứng kịp thời nhu cầu chiến trường ngày càng bức bách. Đứng trước thực tế khắc nghiệt, đòi hỏi phải tìm những giải pháp khác.
Phương thức FM
FM có nghĩa là phương pháp mới, áp dụng các nguyên tắc chuyển khoản, lợi dụng hệ thống ngân hàng của thế giới và của chế độ Sài Gòn chuyển tiền cho ta. Sáng kiến này do hai ông Mười Phi và Dân Sanh nghĩ ra, đề xuất và được trung ương chấp thuận. Phương pháp FM có nhiều ưu điểm như rút ngắn thời gian, chuyển tiền số lượng lớn chỉ trong một ngày. Tránh được thiệt thòi do chênh lệch tỉ giá, vừa an toàn, kín đáo và sinh lợi nhờ hưởng lãi suất phát sinh tại các ngân hàng. Để thực hiện tác nghiệp này trong lòng đối phương mà không bị phát hiện, cần phải có một hệ thống tổ chức tinh vi, độc đáo.
Tiền Sài Gòn gọi là tiền Z sẽ do các nhà buôn lớn chuyên về vàng, hạt xoàn, hoặc các nhà xuất nhập khẩu có tầm cỡ tham gia vào mạng lưới kinh doanh tiền tệ mang mật danh C130 do Dân Sanh đảm trách. Họ có tài khoản tại các ngân hàng thương mại ở Sài Gòn và nước ngoài như Hong Kong, Pháp, Thụy Sĩ… Khi ta cần lượng lớn tiền Z, các đại gia sẽ rút tiền từ ngân hàng với lý do để sản xuất kinh doanh, sau đó cung cấp thẳng cho ta. Có những thương gia xuất hàng đi từ Sài Gòn, bên nhập hàng ở nước ngoài mở L/C thanh toán, họ mới rút tiền giao cho C130. Cách làm này nhằm hợp pháp hóa hoạt động tài chính, đề phòng khi bị nghi ngờ, kiểm tra. Một đại gia cỡ bự như ông Tư Trần An là một Hoa kiều chuyên nhập vàng từ Hong Kong về bán sỉ cho các chủ tiệm vàng ở Sài Gòn, ông ta thu tiền bán hàng trực tiếp và chuyển luôn khi ta có yêu cầu…
Như vậy là N.2683 luôn nhận tiền mặt Z trước với số lượng bao nhiêu cũng có. Từ đây N.2683 dùng điện đài mã hóa đề nghị chi trả gửi B29. Tại Hà Nội, trưởng phòng thanh toán gửi lệnh chi trả đến tài khoản VCB ở nước ngoài. Lúc này đôla sẽ được chuyển vào tài khoản nước ngoài của các nhà kinh doanh tại Sài Gòn. Cũng có khi chúng ta chuyển ngân qua một tài khoản bí mật tại Paris, từ đây thực hiện lệnh chi trả cho khách hàng.
Đường đi lòng vòng này không ngoài mục đích tạo khoảng cách an toàn. Trả tiền theo cách này gọi là điện hối. Ngoài ra còn có cách trả tiền theo sec cầm tay. N.2683 chính là bên ký phát sec, bên hưởng sec chính là người cung cấp hàng hóa cho vùng giải phóng. Sec là một tờ lịch cũ được mã hóa về số tiền chi trả, loại tiền, địa điểm trả tiền. Nếu người cầm sec lỡ bị địch bắt giữ thì nhìn tờ lịch cũ vô nghĩa không nói lên điều gì.
Chuyển tiền ra vùng căn cứ

JPEG - 7.3 kb
N.2683 gặp mặt

Ngày 14-4-1996, tại phòng khách Bảo tàng Phụ nữ, cuộc gặp mặt của N.2683 kỷ niệm ngày ra khỏi Phnom Penh 14-4-1970. Từ phải sang: Ngồi: Ba Thái, Hai Xô, Tư Cam. Đứng: Mười Thăng Long, Ba Công, Chín Hòa, Ba Châu
Mọi nguồn tiền từ các nơi đổ về C32. Tiền theo đường mòn Trường Sơn vô, theo đường thủy từ Campuchia đưa về, từ Sài Gòn đưa lên… Bình quân một tháng các đường dây đưa về Trung ương Cục 300-400 triệu đồng tiền Sài Gòn. Tùy theo tình hình và địa bàn, vận dụng nhiều cách chuyển tiền khác nhau. Trong đường dây Dân Sanh đã xây dựng được đường vận chuyển kết hợp chở hàng, chở khách và chở tiền.
Ở vùng Suối Sâu (Trảng Bàng) người của ta có dựng lên nhà máy xay đậu. Xe tải công khai chở đậu về Sài Gòn bán, rồi chở phân lên bán lại cho nông dân, trong xe trộn lẫn nhiều bao tiền. Tiền về đến đây lại phải móc liên lạc với cơ sở ra nhận, đem về căn cứ. Có cách dựa vào sự đi lại của dân để chuyển tiền. Tại Tây Ninh, mỗi buổi sáng có dòng người túa ra đi vô núi Bà Đen làm rẫy. Cơ sở của ta ở xã Long Hoa móc nối cho mỗi người nhận 1-2 triệu đồng, khi họ mang vô đi qua một điểm có vườn chuối hoặc vườn mít um tùm, người của ta đón thu lại. Thấy lơi lỏng vậy mà không bao giờ mất một đồng…
Đồng tiền phát huy tác dụng
Ban kinh tài tham mưu cho Trung ương Cục và thường vụ quyết định phân phối cho cơ quan, đơn vị. Tiền được giao cho hậu cần Miền, các khu, các tỉnh và cả Đoàn 17 hậu cần nằm bên Campuchia… Những nơi nhiều khó khăn như khu 5, khu 6 phải tổ chức giao tiền ra tận nơi. Các cơ quan thuộc T4 (đặc khu Sài Gòn - Gia Định) thì giao trực tiếp tại vùng ven. Riêng các đơn vị bộ đội có thể nhận tiền từ C32 hoặc nhận trực tiếp từ N.2683.
Có tiền, có ngoại tệ mạnh, ta “mua” các cấp chỉ huy đối phương, cùng lúc có thể huy động 50 xe GMC chở lương thực, thuốc men, hàng hóa cung cấp cho ta. Có đoàn xe chở hàng vô vùng Mỏ Vẹt (Mộc Hóa), tới vùng giáp ranh họ cắm cờ giải phóng lên xe chạy thẳng vô cứ giao hàng. Trên đường sông, nhiều đơn vị địch còn cho tàu vận tải chở hàng bán cho ta, giao hàng bên đất Campuchia. Mỗi tháng, ông Tư Võ - chủ nhiệm hậu cần - có thể gọi các nhà buôn cung cấp khoảng 3.000 tấn hàng. Tướng Hoàng Cầm, nguyên tư lệnh Quân đoàn 4, quả đấm thép của miền Đông Nam bộ, có lần thổ lộ: “Ở mặt trận, chúng tôi đánh nhau với các tướng lĩnh địch, ở phía sau các bà vợ của họ tha hồ buôn bán với ta kiếm lời”.
Đôla còn để mua đường vận chuyển vũ khí. Cảng Sihanoukville của Campuchia được chọn làm điểm tiếp nhận hàng viện trợ Liên Xô tiếp vận theo đường biển. Hàng được quân đội Campuchia bốc dỡ và đưa về những kho cất giữ dọc biên giới, rồi bộ phận của ta đến nhận và chuyển về căn cứ ở Xa Mát. Người đứng ra lo việc vận chuyển và lót đường này chính là ông Tư Cam, ủy viên Ban cán sự Việt kiều Campuchia. Mức giá lót đường thường rất cao, được tính theo giá 2 đôla cho 1kg vũ khí, 1 đôla/kg cho các loại hàng hóa khác. Trong ba năm (1966-1969), ta đã trả cho các quan chức Campuchia hơn 36 triệu đôla. Nhiều khi còn phải dùng tiền để “thuê” những cánh rừng già sát biên giới nước ta làm căn cứ tạm, tránh những trận càn quét và những trận mưa bom…
Những người còn lại hôm nay
30 năm đã trôi qua kể từ ngày đất nước thống nhất. Đội ngũ những người làm công tác tình báo tài chính - ngân hàng còn lại không nhiều. Phần đông đều bước vào độ tuổi “cổ lai hi”. Trong những ngày tháng tư lịch sử này, mười mấy người đã về họp mặt tại nhà ông Ba Châu. Họ vừa ôn lại kỷ niệm của những năm tháng hào hùng, vừa góp ý cho việc biên soạn “Lịch sử Ban tài chính đặc biệt giai đoạn 1954-1975”. Ông Ba Châu, 75 tuổi, vừa bị tai nạn phải ngồi trên chiếc xe lăn, kể cho chúng tôi nghe phần kết câu chuyện: “Trong chiến tranh, sống công khai giữa Sài Gòn hoa lệ, nắm giữ trong tay số đôla vô cùng lớn nhưng đầu óc của con người cách mạng vô cùng trong sáng. Không ai bị cám dỗ, không ai tơ hào một đồng xu”.

B29 - mật danh của quĩ ngoại tệ đặc biệt
Ra đời năm 1965, B29 chịu sự chỉ đạo đơn tuyến để giữ bí mật, đặt văn phòng ở Ngân hàng Trung ương. Với nhiệm vụ tập trung các nguồn vốn ngoại tệ dành riêng cho chiến trường miền Nam nên được hoạt động độc lập, nằm ngoài ngân sách nhà nước. Phó cục trưởng Cục Ngoại hối đồng thời là ủy viên Ban chi viện miền Nam, ông Mai Hữu Ích, là người điều hành trực tiếp quĩ dưới sự chỉ đạo của ông Phạm Hùng và sau này là ông Lê Thanh Nghị. B29 có các loại tiền: đôla Mỹ, tiền Sài Gòn, riel Campuchia, kíp Lào và baht Thái Lan.
N.2683 - ban công tác đặc biệt của Trung ương Cục
Tiền thân là một bộ phận của Ban kinh tài, chuyên lo cung cấp tiền. Do nguồn tiền từ miền Bắc đưa vào ngày càng nhiều, đã tách ra để làm nhiệm vụ chuyển tiền theo hệ thống ngân hàng. Để che giấu tung tích, ban đầu được mang bí danh là B6, sau đổi thành D270, gần giải phóng biến thành N.2683. Ban đầu do ông Hai Xô (Phạm Văn Xô) trưởng Ban kinh tài trực tiếp chỉ huy. Sau khi tách ra thành Ban công tác đặc biệt, ông Mười Phi làm trưởng ban, ông Ba Châu (Lữ Minh Châu) làm phó ban, các thành viên có Năm Tấn, Hai Thanh, Ba Công…
Đơn vị N.2683 có những đóng góp to lớn và xứng đáng được phong tặng anh hùng, và ông Chín Cần, nguyên phó Ban tổ chức Trung ương Cục, làm văn bản gửi Nhà nước đề nghị xét thưởng. Thường trực hội đồng thi đua lúc ấy nêu ý kiến rằng Ban tài chính đặc biệt không có cơ quan chủ quản (Trung ương Cục đã giải thể) nên không có cơ sở để xem xét?!
C32 - đơn vị kho quĩ trực thuộc Ban kinh tài
Là bộ phận trong vùng giải phóng, làm đầu mối tổng quĩ tiếp nhận các nguồn tiền mặt, nhập kho, lưu kho và bảo quản. Ngoài ra còn có nhiệm vụ vận chuyển tiền giao cho các cơ quan mấu chốt. Bộ phận này do ông Trần Quang Dũng phụ trách.
Ông Lữ Minh Châu, nguyên thống đốc Ngân hàng Nhà nước, phó ban N.2683, cho biết: “Đó là ba bộ phận không tách rời, quyết định đường đi và nơi đến cuối cùng của đồng đôla chi viện miền Nam”. Qui trình chuyển đổi tiền này vừa vận dụng các nghiệp vụ ngoại hối cổ điển của ngành ngân hàng, vừa kết hợp những kỹ thuật quân sự và tình báo, có khâu đơn giản, có khâu tinh vi, phức tạp. Các kênh liên lạc này hết sức bí mật, xuyên qua nhiều nước, nhiều vùng, tạo nên một mặt trận đặc biệt không có tiếng súng nhưng đầy nguy hiểm, cam go.
PHÁC THÀNH (Tuổi trẻ)


Tham khảo báo Thanh Niên: Từ năm 1965 trở về trước, đô la Mỹ được đưa vào chiến trường theo một phương thức thô sơ nhất: Mang đô la mặt giao trực tiếp cho Ban Tài chính đặc biệt, từ đó tổ chức đổi ra tiền Sài Gòn hoặc tiền riel (Campuchia), tiền baht (Thái Lan) rồi giao cho các chiến trường. Theo lời một trợ lý của ông Phạm Hùng: "Trong một số năm sau 1960, cách chi viện tiền cho chiến trường B2 (Nam Bộ và Khu 6) là đưa đô la Mỹ (tiền mặt) cho một tổ chức tài chính đặc biệt do anh Thăng Long phụ trách ở trong Nam. Tại Cục Ngoại hối của Ngân hàng Trung ương ở Hà Nội có giữ một quỹ mật đô la Mỹ do các nước bạn viện trợ, dành cho miền Nam. Anh Hai Hùng (tức Phạm Hùng) là người quyết định sử dụng quỹ này. Phải làm sao đưa một khối lượng đô la tiền mặt lớn, mỗi lần vài ba triệu đến chiến trường vừa nhanh vừa an toàn? Và không phải chỉ một vài lần mà nhiều lần như vậy trong một năm. Công việc này được thực hiện như sau: Khi cần đưa tiền đi, anh Hai Hùng điện gọi anh Thùy Vũ (người phụ trách cơ quan đại diện Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Phnom Penh) từ Campuchia về Hà Nội làm việc. Tôi cầm lệnh xuất tiền của anh Hai đến Cục Ngoại hối gặp anh Doãn - Cục trưởng hoặc anh Bảy Ích - Cục phó. Nhận tiền xong, dùng xe anh Hai Hùng chở tiền về phòng làm việc của tôi tại nhà anh Hai Hùng. Ở đây, tiền được gói ghém dưới dạng hàng mẫu để giao cho anh Thùy Vũ mang vào Phnom Penh bằng máy bay. Lúc đó Hà Nội đã có cơ quan đại diện thương mại tại Phnom Penh rồi. Mỗi lần gửi tiền, tôi phải nghĩ cách nghi trang khác nhau. Mấy triệu đô la là một khối lớn, không thể xách tay mà phải gửi theo hàng, cho nên phải nghi trang khéo léo. Việc này tôi phải tự làm lấy. Trường hợp nào cần sử dụng kỹ thuật thì người tham gia công việc phải được chọn cẩn thận và chỉ được biết một phần nhỏ công việc mà thôi. Tiền đến Phnom Penh, anh Thùy Vũ giao lại cho người của anh Thăng Long. Và thường là một hai tuần sau đó, tôi nhận được điện từ Trung ương Cục miền Nam xác nhận tiền đã nhận đủ" (trích từ Thời báo kinh tế Sài Gòn, 28.8.1997, trang 21-22). Đó là một cách, đi theo đường ngoại giao. Nhưng cách đó không phải bao giờ cũng làm được. Cho nên tùy theo điều kiện cho phép, đô la còn được chuyển qua đường Trường Sơn hoặc đường biển, mang trực tiếp đến căn cứ của Trung ương Cục. Phương thức chuyển trực tiếp đô la mặt này gọi tắt là phương thức AM. Phương thức AM đã góp phần rất đắc dụng trong giai đoạn đầu đánh Mỹ, khi nhu cầu về tiền chưa nhiều. Tuy nhiên nhược điểm của nó là chậm, không chuyển được nhiều và rất nguy hiểm. Đồng đô la đã phải vượt qua bao nhiêu gian truân bất trắc, luôn luôn phải đối chọi với bom đạn và đã tổn thất không ít xương máu. Tiền đem đến cho kháng chiến không sợ tham nhũng, chỉ sợ địch họa thôi. Đến năm 1965, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết liệt, chiến trường mở rộng, nhu cầu ngày càng cao, phương thức AM không còn phù hợp nữa. Một phương thức mới, gọi tắt là FM, được thay thế. FM là cách vận dụng các nghiệp vụ mua bán và thanh toán quốc tế qua hệ thống ngân hàng trong và ngoài nước để chuyển đồng đô la thành tiền Sài Gòn. Theo AM, đồng đô la được mang trực tiếp vào miền Nam, thực hiện việc chuyển đổi tại biên giới hoặc trong nội thành thì theo FM, việc trao đổi và nhận tiền Sài Gòn mặt ngay giữa Sài Gòn, còn việc chuyển đô la thì thực hiện ở nước ngoài thông qua hệ thống ngân hàng. Đây là sáng kiến vô cùng độc đáo, được áp dụng thành công một cách hoàn hảo. Đến thời điểm này, theo ông Mười Phi: "Sau một thời gian hoạt động hăng say, năng nổ (chủ yếu dựa vào nhiệt tình cách mạng và kinh nghiệm trong thực tiễn), đã đến lúc Ban Tài chính đặc biệt phải đặt vấn đề tăng cường tổ chức kế toán để bảo đảm cho hoạt động của Ban về nguyên tắc". Ban này cần "một cốt cán tài chính ngân hàng được đào tạo chính quy". Ông Phạm Hùng đồng ý và cử ông Ba Châu "là người vừa học xong tài chính ngân hàng ở Liên Xô trở về Hà Nội" đưa thẳng về Ban Tài chính đặc biệt Trung ương Cục (các đoạn nghiêng được trích từ sách: Đồng đô la trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - NXB Công an nhân dân 2003, trang 40). Và ông Ba Châu đã từ Hà Nội vượt Trường Sơn đi thẳng đến Campuchia. H.H.Vân