Trang nhà > Quan niệm > Thiền tông > Daisetzu Teitarō Suzuki (1870-1966)

Daisetzu Teitarō Suzuki (1870-1966)

Thứ Bảy 9, Tháng Bảy 2011


Daisetzu Teitarō Suzuki chào đời ngày 18 tháng 10 năm 1870 tại thành phố Kanazawa 金澤 (Kim Trạch), huyện Ishikawa 石川 (Thạch Xuyên); tạ thế ngày 12 tháng 7 năm 1966. Thân phụ ông là Ryojun Suzuki, một y sĩ, và thân mẫu họ là Masu (không rõ tên là gì). Song thân ông có cả thảy 5 người con, và ông là con út.

Ông nội và ông cố của Suzuki cũng theo nghiệp y sĩ. Lúc Suzuki 鈴木(Linh Mộc) lên 6 tuổi, ông nội và ông cố của ông lần lượt qua đời. Ngay năm kế đó, ông chứng kiến một người anh của mình lìa trần. Những sinh ly tử biệt não nề này đã chấn động lớn đến tâm hồn thơ ấu của ông, và đó có lẽ là động cơ dẫn ông bước vào lĩnh vực nghiên cứu tôn giáo và triết học về sau này.

Mười mấy tuổi đầu, ông đã lai vãng viếng thăm nhiều thiền viện, cả nhà thờ Thiên Chúa giáo nữa, và ông rất say mê bàn luận về những đề tài đầy tính triết học. Khi Suzuki là một học sinh trung học, một giáo viên dạy toán của ông rất quan tâm đến Thiền và đã là đệ tử của thiền sư Kōsen Imagita, một trong những đại thiền sư lừng lẫy bấy giờ. Chính vị giáo viên dạy toán này đã hướng những băn khoăn triết lý và tôn giáo của Suzuki đến Thiền, và đưa cho Suzuki mượn nhiều sách vở viết về Thiền.

Tốt nghiệp trung học xong, do cảnh nhà túng quẫn, Suzuki đi dạy kèm Anh ngữ, nhưng ông vẫn còn quan tâm đến Thiền. Năm 1891, thân mẫu ông tạ thế. Năm kế đó, một người anh của ông đang hành nghề luật sư đã gởi ông đến Tōkyō (Đông Kinh) học ở trường mà hiện nay trở thành Đại học Waseda rồi học ở trường Đại học Hoàng gia Tōkyō (Tōkyō Imperial University).

Chân ướt chân ráo đến Tōkyō, ông mò mẫm đến thành phố Kamakura (Liêm Thương), huyện Kanagawa 神奈川 (Thần Nại Xuyên), để học Thiền nơi thiền sư Kōsen Imagita, trụ trì Engakuji 圓覺寺 (Viên Giác tự). Engakuji là một thiền viện danh tiếng, thuộc dòng thiền Lâm Tế 臨濟 (Rinzai). Người sáng lập thiền viện này là thiền sư Mugaku Sogen 無學祖元 (Vô Học Tổ Nguyên, 1226-1286). Ngài thuộc dòng Lâm Tế đời Nam Tống, đến Nhật Bản năm 1280, và lập Viên Giác tự vào năm 1282. Trong hệ phái Lâm Tế tại Nhật Bản, nhánh thiền của ngài có tên là Mugaku 無學 (Vô Học). Thiền sư Kōsen tạ thế đầu năm 1892, và Suzuki vẫn tiếp tục tu học nơi đây với người kế vị của ngài Kōsen, tức là thiền sư Sōen Shaku.

Năm 1893, Suzuki phiên dịch sang Anh ngữ bài diễn văn của thiền sư Sōen, bài này được đọc trong Hội Nghị Tôn Giáo Thế Giới (World Parliament of Religions: 世界宗教會 Thế Giới Tôn Giáo Hội) tổ chức cùng năm này tại Chicago. Hội Nghị Tôn Giáo Thế Giới là một phần của sự kiện World’s Columbian Exposition (Chicago, 1893) là cột mốc đầu tiên đánh dấu việc du nhập Phật giáo vào nước Mỹ. Trong Hội nghị, thiền sư Sōen đã gặp gỡ Paul Carus, một tác giả kiêm chủ bút, quan tâm rất nhiều đến tôn giáo Đông phương. Carus là chủ bút của tạp chí Open Court, một chuyên san về các vấn đề tôn giáo và luân lý. Ông cũng là chủ nhà xuất bản Open Court, chủ yếu xuất bản sách về triết giáo Đông phương. Sau khi Hội Nghị kết thúc, Sōen viếng thăm tư thất của Carus một tuần, tại LaSalle (Illinois). Kết quả của cuộc gặp gỡ này là Carus viết quyển The Gospel of Buddha (Chân lý của Phật tổ). Quyển này được Suzuki dịch ra Nhật ngữ, lúc ông đang là đệ tử tại gia của thiền viện Engakuji (Viên Giác tự).

Suốt 4 năm tại Engakuji (Viên Giác tự), Suzuki hết sức vất vả với một công án mà thiền sư Sōen đã đưa cho ông. Mãi đến năm 1897, lúc ông chuẩn bị sang Mỹ để phụ tá cho Carus phiên dịch Lão Tử Đạo Đức Kinh sang Anh ngữ, thì ông mới lý hội được công án đó. Mùa đông năm ấy, trước lúc lên đường sang Mỹ, Suzuki hoát nhiên đại ngộ và giải đáp được công án này. Thiền sư Sōen ấn chứng cho ông và ban pháp danh Daisetsu 大拙 (Đại Chuyết, nghĩa là «rất vụng về và chất phác»). Tại Nhật, ông được gọi là Suzuki Daisetsu 鈴木大拙 (Linh Mộc Đại Chuyết). Pháp danh Daisetsu 大拙 (Đại Chuyết) thường được viết bằng Anh ngữ là Daisetz.

Sau khi phụ giúp Carus phiên dịch Lão Tử Đạo Đức Kinh, Suzuki vẫn lưu trú ở Open Court, học Hán ngữ và Phạn ngữ (Sanskrit), đồng thời tiến hành một số đề án, trong đó bao gồm việc phiên dịch một số kinh Phật quan trọng. Năm 1905, Suzuki làm thông dịch viên cho thiền sư Sōen trong chuyến chu du nước Mỹ. Khi làm việc cho Carus, Suzuki đã phiên dịch nhiều kinh điển Đông phương sang Anh ngữ, chẳng hạn như quyển Awakening of Faith in the Mahayana (Đại thừa khởi tín luận). Càng ngày Suzuki càng nhận thấy rằng người Tây phương có nhu cầu tìm hiểu Phật giáo, do đó năm 1907 ông xuất bản quyển sách đầu tiên của ông viết bằng Anh ngữ, nhan đề: Outlines of Mahayana Buddhism (Toát yếu Phật giáo Đại thừa).

Năm 1908, ông rời LaSalle để đi New York, rồi chu du Âu Châu trước khi trở về Nhật Bản (tháng 4-1909). Tại Paris, ông miệt mài nơi Thư Viện Quốc Gia (Bibliothèque Nationale) mà sao chụp và nghiên cứu các kinh Phật bằng Hán ngữ cổ đại. Tại London, ông phiên dịch quyển Heaven and Hell (Thiên đàng và Địa ngục) của Emanuel Swedenborg sang Nhật ngữ, giúp cho Hiệp hội Swedenborg (Swedenborg Society). (Về sau, năm 1920, Hiệp hội Swedenborg đã mời ông trở lại London tiếp tục giúp họ phiên dịch các tác phẩm của Swedenborg.)

Tháng 4-1909, Suzuki hồi quốc và trở thành giảng viên Anh ngữ tại trường Peer’s School (nay là Đại học Gakushūin: 學習院 Học Tập Viện); rồi ông dạy tại Đại học Hoàng Gia Đông Kinh (Tōkyō Imperial University). Năm 1910 ông trở thành giáo sư thực thụ tại Đại học Gakushūin. Năm 1911, tại Nhật Bản, ông kết hôn với Beatrice Lane, một nhà thần học đã tốt nghiệp Đại học Radcliffe. Ông và bà không có con.

Ông bà Suzuki tá túc ở thiền viện Engakuji cho đến khi thiền sư Sōen tạ thế (năm 1919). Sau đó ông bà dọn đến Kyōto (Kinh Đô). Nơi đây Suzuki trở thành giảng viên rồi sau đó thành giáo sư thực thụ của Đại học Ôtani. Theo sự hối thúc của một người bạn – triết gia Nishida Kitaro – Suzuki dọn đến ở tại Kyōto và rồi trở thành giáo sư năm 1921.

Cũng trong năm 1921, hai ông bà sáng lập tờ The Eastern Buddhist (Phật tử Đông phương), một quý san bằng Anh ngữ, truyền bá Phật pháp cho người Tây phương. Loạt bài đầu tiên của ông là Essays in Zen Buddhism (Thiền Luận) sau đó được in tại London năm 1927. Hai loạt bài kế tiếp cùng tên in vào năm 1933 và 1934. Từ năm này, ông bắt đầu xuất bản nhiều sách về Phật giáo bằng Anh ngữ, ngoài bộ Essays in Zen Buddhism (Thiền Luận, 1927-1934) còn có: Studies in the Lankāvatāra Sūtra (nghiên cứu kinh Lăng Già, 1933); Zen Buddhism and Its Influence on Japanese Culture (Thiền và ảnh hưởng của Thiền đến văn hoá Nhật Bản, 1938). Quyển này về sau được hiệu đính và xuất bản dưới nhan đề Zen and Japanese Culture (Thiền và văn hoá Nhật Bản).

Những trứ tác của ông, nhất là bộ Thiền Luận ba tập, khiến tên tuổi D.T. Suzuki lừng lẫy tại Anh Quốc. Tháng 4-1936, ông được mời thuyết trình tại Hội Nghị Đức Tin Thế Giới (the World Congress of Faiths). Ở đây ông gặp gỡ Alan Watts (bấy giờ Alan mới 21 tuổi), và kết quả cuộc hội ngộ này là quyển sách đầu tay Alan Watts, nhan đề The Spirit of Zen (Tinh thần của Thiền), xuất bản cuối năm 1936.

Năm 1939, bà Suzuki qua đời, sau 28 năm gắn bó và tận tuỵ cộng tác với ông. Từ đó, ông trở về Kamakura và ẩn dật nơi này suốt thời gian Thế Chiến II xảy ra. Khi Thế Chiến II đang kết thúc, Suzuki viết quyển Nihonteki Reisei (Nhật Bản linh tánh, 1944), nó đã được dịch sang Anh ngữ và xuất bản năm 1972 với nhan đề Japanese Spirituality (Linh tánh Nhật Bản). Tác phẩm này hiện nay là sách thuộc loại kinh điển tìm hiểu tư tưởng tôn giáo Nhật Bản. Suzuki cũng viết rất nhiều về Tịnh Độ Tông 淨土宗 (Jōdoshū), nhất là về Tịnh Độ Chân Tông 淨土真宗 (Jōdo Shinshū). Ông đã phiên dịch tác phẩm chủ yếu của Shinran (Thân Loan, 1173-1262) – vị sáng lập hệ phái này – tức là bộ Kyōgyōshinshō: Collection of Passages Expounding the True Teaching, Living, Faith, and Realizing of the Pure Land (教行信證 Giáo Hạnh Tín Chứng: Tinh tuyển những áng kinh văn tường giải về chân giáo, lai sinh, đức tin, và hiện thực hoá Tịnh Độ). Về sau, năm 1973, Shinshū Ōtaniha 真宗大谷派 (Chân Tông Đại Cốc Phái) – một trong 10 chi phái của Tịnh Độ Chân Tông (Jōdo Shinshū) – đã xuất bản dịch phẩm này để tưởng niệm 800 năm ngày sinh của tổ sư Thân Loan 親鸞 (Shinran, 1173-1262).

Năm 1949, Suzuki trở thành thành viên của Japan Academy (Nhật Bản Học Viện). Sau đó, ông dành nhiều thời giờ để thuyết giảng về Phật giáo Đại thừa tại Hoa Kỳ. Ông cũng vinh dự là giáo sư thỉnh giảng của Đại học Columbia. Cũng trong năm 1949, ông đi Honolulu tham dự Hội Nghị Các Triết Gia Đông Tây (the East-West Philosopher’s Conference) tổ chức lần II, rồi năm sau (1950) ông giảng dạy tại Đại học Hawaii. Năm 1951, ông đi New York và thuyết giảng một loạt bài trong những hội thảo về Thiền tại Đại học Columbia. Tham dự các hội thảo này có hai nhà phân tâm học Erich Fromm và Karen Horney, nhà soạn nhạc John Cage, v.v... Cage đã nghe Suzuki giảng thuyết suốt hai năm tại đây và rất lấy làm tâm đắc với loạt bài giảng của ông. Năm 1952, Suzuki tổ chức một chuyến thuyết giảng luân phiên tại một số thiền viện ở Nhật Bản với sự cộng tác của Karen Horney. Không lâu sau đó bà Karen Horney qua đời. Còn Fromm vào năm 1957 đã tổ chức một toạ đàm về Thiền ở tư gia ông tại Cuernavaca (Mexico) với sự tham gia của Suzuki. Dần dần Suzuki kết giao được rất nhiều nghệ sĩ và học giả Tây phương, chẳng hạn như Carl Jung, Thomas Merton, Gary Snyder, Allen Ginsberg, Bernard Leach, v.v...

Năm 1953, một nữ sinh viên Mỹ gốc Nhật tên là Mihoko Okamura – học trò của ông ở Đại học Columbia – đã trở thành thư ký riêng và biên tập cho các trứ tác của Suzuki. Lúc này Suzuki tạm trú tại nhà của Okamura ở Manhattan. Bố mẹ và chị của Okamura cũng sống chung tại đây. Những khi không phải đi đây đi đó, Suzuki về tạm trú tại đây, và cứ thế cho đến cuối đời; còn Okamura thì vẫn là thư ký riêng của ông.

Sau khi về hưu, thôi giảng dạy ở Đại học Columbia (tháng 6-1957), ông đi Cambridge (Massachusetts)
và giúp thành lập Cambridge Buddhist Society (Hội Phật Giáo Cambridge). Tuy về hưu nhưng ông rất hoạt động: đi đây đi đó nhiều để thuyết giảng về Zen và tham dự hội nghị, v.v... mãi cho đến khi tạ thế vào năm 95 tuổi tại Tōkyō.

Ngoài vai trò then chốt trong việc phổ truyền Phật giáo tại Tây phương, ông có đóng góp đáng kể trong việc nghiên cứu kinh Phật, như Gandavyūha (Nhập Pháp Giới Phẩm = Nyūhokkai-bon 入法界品) và Lankāvatāra-sūtra (Lăng Già Kinh = Ryōga-kyō 楞伽經). Ngoài ra, các trứ tác của ông đã tác động ngược trở lại tại Nhật Bản, khiến đại chúng quan tâm nhiều hơn về Phật giáo sau một thời kỳ dài mà việc nghiên cứu Thần Đạo chiếm vị thế lấn át trong việc nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản.

Những trứ tác của ông bằng Nhật ngữ đã in thành một bộ 32 tập, nhan đề Suzuki Daisetzu Zensho 鈴木大拙全書 (Linh Mộc Đại Chuyết Toàn Thư), nhà xuất bản Iwanami Shoten. Các tác phẩm bằng Anh ngữ có trên 30 nhan đề, chẳng hạn An Introduction to Zen Buddhism (Nhập môn Thiền, in lần nhất năm 1934) và Zen and Japanese Culture (Thiền và Văn Hoá Nhật Bản, 1959), v.v...

Phút lâm chung, D.T. Suzuki dặn dò những người xung quanh đừng lo lắng, rồi ông nói lời cám ơn mọi người và thanh thản ra đi.

Lê Anh Minh

TƯ LIỆU THAM KHẢO

1- My encounter with D.T. Suzuki - Kemmyo Taira Sato:

http://www.threewheels.org.uk/arcsub/dtsuz.htm

2- D. T. Suzuki - Dawn Lawson:

http://www.todaysquote.com/dtsuzuki/dtsuzuki.htm

3- Daisetz Teitaro Suzuki: http://web.otani.ac.jp/EBS/dts.html

4- Japanese-English Buddhist Dictionary 日英佛教辭典 (Nhật Anh Phật Giáo Từ Điển), Daitō Shuppansha 大東出版社 (Đại Đông xuất bản xã), Japan, 1965.