LOGO CỦA WEBSITE NÀY

Xem lẹ

Trang nhà > Văn chương > Nước ngoài > Diệp Tử (1912-1939)

Văn học Trung Quốc

Diệp Tử (1912-1939)

Nhà văn Trung Quốc

Thứ Ba 8, Tháng Bảy 2014

Tiểu sử

Diệp Tử 叶 紫 (1912-1939) tên khai sinh là Dư Chiêu Minh 余 昭 明, lại có tên là Dư Hạc Lâm 余 鹤 林. Ông là nhà văn Trung Quốc, quê ở Ích Dương, Hồ Nam. Là Đảng viên Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Ông mất vì bệnh lao.

Tác phẩm:
— Được mùa (truyện ngắn, 1935)
— Ánh sao (truyện vừa, 1936)
— Một đêm trong bản núi (truyện ngắn, 1937)
— Tuyển tập Diệp Tử (1959)
— Tản văn Diệp Tử (1983)

Tác phẩm dịch ra tiếng Việt:
— Được mùa (Diệp Tử), Lê Sơn Hinh dịch, NXB Văn hóa, 1962

Trích tuyển tác phẩm

Bến cũ

Mặt trời dần khuất sau rừng cây. Ráng chiều bừng lên những tia sáng không đều, hắt xuống mặt hồ xanh nhợt, mênh mang, ánh lên đủ màu sắc. Gió thoảng gợn sóng như những vết nhăn, nhẹ hôn lên bờ cát.

Con thuyền cũ nát, cắm sào nằm ngang dưới gốc cây dương khô cằn. Cụ lái đội nón nhọn chóp, đang cúi khom người cọ rửa chiếc mui thuyền đã gẫy.

Tôi nhẹ bước lên thuyền. Ông cụ ngẩng đầu nhìn tôi bằng cặp mắt ngầu đỏ, hoa mờ, bực tức nói lớn:

— Anh định sang đò hử?

Tôi đặt chiếc ba lô xuống:

— Vâng ạ!

— Vậy phải chờ trời sáng đã.

Rồi ông cụ lại cúi xuống làm.

Tôi bàng hoàng:

— Dạ, sao vậy?

— Sao à, cái anh này, đã đi đây đi đó nhiều mà chẳng hiểu luật lệ gì cả

— Tôi sẽ gửi thêm cụ ít tiền, được chứ ạ?

— Tiền? Nhà anh có được là bao? — Tiếng nói càng sang sảng, vẻ như khuyên dạy. Ông cụ lại đứng lên, nhấc bỏ chiếc mui thuyền, hạ nón cầm trên tay để lộ ra mớ tóc trắng bạc như tuyết — Bọn trẻ các anh cứ mở miệng là nhắc đến tiền, có tiền thì không cần đến tính mạng chắc?

Tôi không nén nổi, thầm kinh ngạc.

Ông cụ lấy chiếc tẩu thuốc trong khoang thuyền, đưa những ngón tay thô to, chằng chịt gân xanh lên quẹt diêm. Đôi mắt cụ càng nhỏ đi, mờ đục:

— Lão nói để anh rõ, đã ra ngoài thì phải học lấy đôi điều khôn ngoan. Thời buổi này, còn ít tuổi như anh... — Ông cụ rít một hơi thuốc dài, nói tiếp — Dáng chừng anh cũng ít đi đây đi đó. Anh ở đâu vậy?

— Ở quân đội về đấy ạ.

— Quân đội à?... — Ông cụ dừng lời — Đi lính ư, thế sao lại bỏ quân ngũ tới đây?

— Dạ, được nghỉ phép vì mẹ tôi ốm.

— À!...

Cả hai đều im lặng giây lâu. Ông cụ gõ tẩu thuốc vào mũi thuyền, rít thêm hai hơi thuốc.

Màn đêm mờ xám mông lung, buông xuống quanh tôi. Tiếng sóng nhẹ vỗ bì bọp, nhịp nhàng. Tuy chúng tôi ngồi đối diện, mà hầu như nhìn không rõ mặt. Lòng thầm nôn nóng, không rõ ông cụ định sao đây, tôi nói:

— Cụ ơi! Nếu không chèo thuyền thì cho tôi trở lại bờ tìm quán trọ!

Ông cụ khẩy mũi:

— Quán trọ? Bọn trẻ các anh rốt cuộc vẫn chưa rõ gì cả. Trở lại bờ không nguy hiểm như qua hồ sao? Trở về thị trấn Liên Đầu cũng phải tới bảy dặm. Hừ! Bọn trẻ các anh... thôi, ngủ qua đêm nay ở thuyền lão vậy.

Ông cụ quẹt que diêm, đưa tôi xuống phía đuôi thuyền, và xếp cho một chỗ rộng hơn hai thước. Cũng may tiết trời ấm áp, nên không bị lạnh lắm.

Lúc quẹt diêm châm mồi thuốc thứ ba, giọng ông cụ đã dịu xuống nhiều. Tôi nằm nghỉ, lắng nghe cánh nhạn lẻ loi bay trên vòm trời cô quạnh, lắng nghe những câu chuyện đường đời và bí quyết của kẻ ra đời mà ông cụ kể với tôi.

—... Ừ thì có tiền, anh cũng không nên nói ra miệng. Mặt hồ này là lắm kẻ xấu lắm đấy. Ờ, có hiếu... thế anh có mấy anh em?

— Chỉ một mình thôi ạ.

— Một mình, chà!

Bất giác ông cụ thở dài

Tôi hỏi:

— Cụ được mấy người con, thưa cụ?

— Con à, hừ... — giọng ông cụ nghẹn lại — lão có một đứa cháu...

— Một cháu, vậy phúc đức quá.

Ông cụ bỗng nổi giận:

— Phúc đức? Anh này, anh định giễu lão đấy ư?

Tôi hơi bàng hoàng:

— Giễu?

Cụ lái bực tức:

— Nói để anh rõ, còn trẻ người không nên giễu cợt kẻ đã có tuổi. Anh có biết thằng con trai lão đi không về không? Hừ!

Dừng lời, và không hiểu sao ông cụ thở dài luôn mấy tiếng, hạ thấp giọng:

— Ờ, vì là người xa lạ, có lẽ anh chưa rõ...

Ông cụ từ từ nhoai đến phía trước tôi, và quẹt que diêm thứ tư thì đã hết thuốc, trên trán, từng đường gân tia tía đang gồ lên, động đậy. Ông cụ quẳng tẩu thuốc và bao diêm vào khoang thuyền. Đó đây, trời đã tối sẫm...

— Ầy! Bọn trẻ!

Nghe qua giọng nói, xem chừng ông cụ đã quá thương cảm:

— Lão nói để anh rõ, nếu anh không hiếu thảo thì, hừ... lão rất mến những người hiếu thảo như anh. Thật vậy, mẹ anh hẳn còn mến anh hơn lão, khi được gặp anh từ nơi xa xôi về thăm trong cơn bệnh hoạn. Riêng lão, hừ,... lão, lão có một thằng con trai là Quế... Anh biết không? Thằng Quế của lão nó hơn tuổi anh nhiều!... Thật vậy, hơn tuổi anh nhiều. Hẳn anh chưa biết nó. Ở, anh là người xa lạ mà... Lão nuôi nó khôn lớn bằng anh, phải, bằng anh đấy. Lão sống nhờ sống dựa vào nó...!

Không nén nổi lòng, tôi hỏi:

— Thế anh nhà hiện ở đâu ạ?

— Hiện giờ à, ờ, anh cứ nghe hẵng...! Hồi ấy, hai bố con lão cũng vẫn chèo con thuyền này. Rồi lão, lão cưới vợ cho nó... Anh à, dáng là anh vẫn chưa có vợ nhỉ. Ờ, chúng nó vui sướng lắm! Lão, ờ, lão vui sướng lắm!...

— Thế họ đâu ạ?

— Họ à? Anh cứ nghe hẵng!... Năm ấy, ờ, cái năm ấy, bọn giặc phương Bắc đến, anh biết rồi chứ? Bọn chúng bị bại trận, nên đóng quân ở đây, thằng Quế nhà lão,... anh à, có lẽ anh cũng từng đi bắt phu rồi nhỉ. Thằng Quế nhà lão bị chúng nó bắt đi phu. Thằng Quế, nó không chịu đi, bị chúng đấm vào mặt! Lão, lão không chịu nghe, cũng bị chúng đấm vào mặt!... Anh, anh đã làm những việc trái lương tâm ấy chưa?... Phải, lão còn có đứa con dâu. Nhưng anh, anh cũng biết đấy, nàng dâu thì không thể ở chung với bố chồng được. Nó chờ một ngày, thằng Quế không về, chờ mười ngày thằng Quế không về, chờ đến một tháng, thằng Quế vẫn không về... Thế là nàng dâu của lão bị nhà mẹ đẻ gọi về. Lão mất thằng Quế, lão mất nàng dâu... anh ơi, anh biết không? Đấy, anh cũng có bố, có mẹ đấy!... Lão chờ tám tháng ròng, con dâu của lão sinh được một đứa cháu, lão muốn xin nó về, nhưng nàng dâu nó không nghe. Nó bảo chờ cho con trai lão về, nó mới về. Anh à, anh thấy không, lão chờ một năm, rồi hai năm, ba năm... Nàng dâu của lão đã đi lấy anh chàng bán thịt tên là Chu Hồ Tử, đứa cháu của lão nay lớn rồi. Thế mà, lão vẫn không thấy thằng Quế nó về, chúng nó không chịu trả đứa cháu cho lão... Chúng nó bảo khi nào lão có tiền, chúng sẽ trả lại đứa cháu. Anh ơi, lão phải có tiền...! Thật thế, tính đến nay đã sáu năm trời, nào lão có làm điều gì trái với lương tâm! Đấy cứ như bữa tối nay, lão không nỡ chở anh qua hồ... Nhưng nào ông trời có thấu cho lão, lão, lão phải kiếm tiền... Dù băng giá, tuyết rơi, dù mưa to gió nổi, lão cũng phải chở anh qua hồ... Mùa màng thất bát, sưu thuế nặng nề, mặt hồ trộm cướp như rươi, người qua đò lại ít, nhưng lão vẫn phải cố kiếm tiền... Anh, anh còn bố, còn mẹ, và rồi anh cũng sẽ là ông bố, lúc về già, anh cũng cần con trai nó phụng dưỡng... thế mà, người ta cũng chẳng chịu trả cháu cho lão... Lão rất mến anh. Ờ, anh, nếu anh thật lòng hiếu thảo, anh sẽ gặp điều may. Còn lão, hẳn là rồi sẽ chết ở chiếc hồ này. Lão không có tiền, lão không tìm được thằng Quế của lão, đứa cháu nó không nhận ra lão nữa. Rồi đây, ai người chôn cất, ai người đốt vàng hương cho lão...; lão đã bảo lão không làm điều gì trái với lương tâm, nhưng ông trời đâu có mở mắt cho lão...

Giọng dần dần buồn rượi, cuối cùng ông cụ đã khóc. Ông cụ luôn tay cào soàn soạt trên mui thuyền, và đôi bàn chân giậm mạnh bên khoang. Mà tôi vẫn nghĩ không ra lời an ủi, lòng như có vật gì chẹn chặt lại.

— Anh ơi, thế đấy! Anh xem, lão còn có gì may mắn?

Ngoài trời, sóng gió ngày một to, và lòng tôi cũng ngày một nghẹn tắc lại. Biết nói gì đây để an ủi ông cụ, một cụ già bất hạnh.

Tôi trằn trọc không sao ngủ được. Ông cụ trằn trọc không sao ngủ được. Tôi muốn nói chuyện mà không nói. Ông cụ muốn nói chuyện, nhưng đã không nói nên lời.

Ngoài trời càng tối, sóng gió càng to, dễ sợ.

Im lặng hồi lâu, rất lâu. Bỗng ông cụ nặng nề buông tiếng thở dài:

— Ờ! Cứ nổi to lên nữa đi, cứ lật nhào con thuyền này đi, để đỡ phải sống dai trên cõi đời mà chịu dày vò khổ cực.

Sau đó, không còn nghe tiếng ông cụ nói nữa.

Nhưng hôm sau, vẫn như mọi ngày, mưa phùn,gió nhẹ. Mặt trời còn chưa lên, ông cụ đã gọi tôi dậy.

Vẫn như hôm qua, lúc tôi bước chân lên thuyền, nét mặt ông cụ không tỏ vẻ gì khác, hầu như đã quên hẳn câu chuyện đêm qua.

Tôi nhìn ông cụ không chớp mắt.

— Có gì đáng nhìn đâu anh? Qua đò, anh còn phải tiếp tục cuộc hành trình!

— Có phải chờ khách không cụ?

— Còn chờ ai nữa, có ma nó đến!

Con thuyền rời bến. Trời thuận gió, ông cụ dựng cột, căng lên mảnh buồm rách nát. Một mình ngồi dưới thuyền, ông lái lạnh lùng vuốt chòm râu bạc trắng như tuyết, rất tự nhiên, cất cao tiếng hát:

Lão đã sống sáu chục năm ròng nơi bến cũ
Mặc trời, mặc đất
Lão kiếm ăn bằng lương tâm
Lão kiếm tiền bằng hơi sức
Lão chẳng ưa kẻ giàu
Cũng không thương người khó!

(Lê Sơn Hinh dịch)

Nguồn: Được mùa (Diệp Tử), Lê Sơn Hinh dịch, NXB Văn hóa, 1962