Trang nhà > Sử­ sách > Khảo cổ > “Giải ảo” vũ khí tiền sử…

“Giải ảo” vũ khí tiền sử…

Cập nhật: Đông Tỉnh

Thứ Hai 22, Tháng Ba 2010

Trong những ngày đầu năm 2010, tại Hà Nội, nhiều người say mê văn hoá cổ và lịch sử quân sự Việt Nam đã rất sửng sốt khi một chiếc nỏ liên châu bỗng xuất hiện và bắn nhiều mũi tên cùng lúc như ... trong truyền thuyết “nỏ thần” An Dương Vương 2.000 năm trước, rồi “công trình” ấy lại được trao Giải nhì Hội thi Sáng tạo kỹ thuật toàn quốc 2008-2009.

Một trong 2 tác giả chính của công trình, là TS Nguyễn Văn Việt, Giám đốc Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á.

“Chế tạo” nỏ thần Cao Lỗ, “phục dựng” máy ném đá của Lý Thường Kiệt khi đánh giặc Tống; nghiên cứu chiếc máy ném lửa từng xuất hiện khi Cốt Đãi Ngột Lang thua đau tại trận Đông Bộ Đầu; “tái hiện” hổ hoả - thứ súng phun lửa khá thần diệu mà Vua Quang Trung đã bách chiến bách thắng quân Thanh; “tìm” chiếc khố thời Chử Đồng Tử và cha đã mặc chung trong thời kỳ chàng gặp Công chúa Tiên Dung; phán đoán về chiếc bình rượu mà Triệu Đà đã sử dụng, các thanh kiếm An Dương Vương và đầu lĩnh đã tung hoành; tái hiện lại gương mặt hơn 2.000 năm tuổi của tổ tông người Việt ta từ thời Đông Sơn; khai quật, xây dựng bảo tàng duy nhất ở Đông Nam Á về một mái đá nguyên sơ mà 9.000 năm trước người nguyên thuỷ đã sống tại tỉnh Hoà Bình... - đó chỉ là một phần của thế giới những công việc giải mã (giải ảo) cho các vấn đề nghìn năm tiền sử do ông Việt và các cộng sự đã và đang say mê thực hiện.

Thưa TS Nguyễn Văn Việt, ông có thấy, việc ông đổ công đổ sức đi giải mã cái mong manh của các câu chuyện dường như chỉ là huyền thoại đó, quả là quá “mạo hiểm”?

- Mạo hiểm, có nhiều người cũng nói như vậy. Nhưng, sự thật là, chúng tôi đã làm ra cái “Liên Châu Nỗ” hẳn hoi, đã công bố, đã bắn thử và nhận được giải thưởng. Năm 2010 này, chúng tôi sẽ làm cái nỏ lớn hơn, bắn được khoảng 50 mũi tên một lúc. Tiến tới cũng sẽ làm cả máy ném đá, làm “hoả hổ” (súng phun lửa) của vua Quang Trung, tôi cũng hy vọng là bên phía Bảo tàng Lịch sử Quân sự tiếp tục hợp tác nghiên cứu và chế tạo để làm sao cho truyền thống sáng tạo vũ khí, vệ quốc của chúng ta không bị đứt đoạn (trong nghiên cứu).

Nếu không có họ, công trình của tôi chỉ nằm trong… nhà tôi hoặc các nhà trưng bày của cơ quan tôi thôi. Vũ khí cổ hàm chứa trong nó cả kho tàng truyền thống của các công nghệ thời xưa. Gần đây ta cãi nhau mãi về bộ phim tương lai làm về đức Lý Công Uẩn, rằng thời ấy các nhân vật cưỡi ngựa gì, sử dụng vũ khí như thế nào. Chúng ta không thể chỉ trách móc cái anh làm phim được, vì đạo diễn, biên kịch, diễn viên không có trách nhiệm nghiên cứu chuyện xa xôi gần một nghìn năm trước. Đó phải là nhiệm vụ của các nhà khoa học.

Khi ông và các nhà khoa học khai quật, nghiên cứu và phục dựng lại “ngôi nhà” từ cả chục nghìn năm trước của người tiền sử tại hang Xóm Trại, Hoà Bình - ông có sợ khu “di tích” được đầu tư khá nhiều tiền đó sẽ khiến nhiều người không thể hiểu, không thể tin vào những “nhận định” căn cứ vào các dấu tích mong manh và xa xôi?

- Tính đến nay, đó là cái hang duy nhất ở Đông Nam Á được đầu tư quy mô để nghiên cứu và phục vụ “hành hương” tham quan, học tập như vậy. Qua nghiên cứu chúng tôi kết luận: đó là cái mái đá đầu tiên, người cổ đã cư trú từ 20 nghìn năm trước, sau này, người trồng lúa ở phía Ninh Bình, Thanh Hoá lên Hoà Bình, người ta lập xóm ở trên đồi và trồng lúa, cái hang đó cứ được duy trì mãi đến khi người nguyên thuỷ đã bước sang một thời kỳ tự tạo thức ăn gần nơi mình cư trú, thông qua việc trồng cây, chăn nuôi.

Từ những năm 1970-1980, vùng Đông Nam Á đã gây một chấn động với thế giới bằng các kết quả nghiên cứu khảo cổ về lịch sử nông nghiệp lâu đời. Viện Khảo cổ Việt Nam đã “đào” ở hang Xóm Trại với sự tham gia của nhiều nhà khoa học nước ngoài. Khi chúng tôi tiến hành khai quật, tính đến nay, con số này là khoảng 7.000 công cụ trên diện tích gần 100m2.

Thung lũng đó, mái đá đó đạt mọi yếu tố cực kỳ thuận lợi với người nguyên thuỷ sinh sống: có mái đá nằm giữa thung lũng, các loại hình sinh thái có tỉ lệ hợp lý, ít núi đá, có rừng, núi đất (rừng cho gỗ, cho hạt), diện tích mặt nước cũng cao, đây là điều kiện tối ưu để người tiền sử đến cư trú. Lúc đó, giả sử chưa có người nguyên thuỷ sinh sống, mà bỗng dưng có đoàn săn bắn hái lượm đi qua, họ sẽ “chiếm” ngay miền “đất lành đất ấm” đó để làm “nhà”.

Hang Xóm Trại là một trong những điểm mà một số nhà nghiên cứu trên thế giới chú ý, là cái nôi cho ra đời các công trình khoa học nghiên cứu về động vật, thức ăn, thẩm mỹ, các loài cây, con thời tiền sử…

Thật sự là rất nhiều người thắc mắc, làm sao ông và đồng nghiệp lại có thể nảy ra cái ý tưởng đáng “choáng váng” đến mức tìm… lẫy của nỏ thần An Dương Vương, phục dựng “Liên Châu Nỗ” tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự rồi đi dự giải sáng tạo cấp quốc gia!

Khi nghiên cứu các mũi tên đồng kỳ lạ khai quật được ở thành Cổ Loa, chúng tôi thắc mắc: Nỏ thần, nó đưa cả một giàn tên bao nhiêu mũi, bắn lên như thế nào, nó là sáng tạo của ông Cao Lỗ hay ông nào đó nhỉ?

- Theo tài liệu hiện nay, thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, cũng đã có nỏ, có cả mũi tên đồng ba cạnh. Trước thời An Dương Vương những 300 năm. Các nhà khoa học đào được trong phạm vi của nước Sở (Trung Quốc) xưa kia những mũi tên đồng, thậm chí còn có cả cán trên đó ghi tên chính người chế tạo (như khắc “thương hiệu” ngày nay). Như thế là to tát lắm, vì lúc bấy giờ vua chúa mới chỉ được ghi tên hiệu thôi! Câu hỏi rất thú vị được đặt ra là: ai bảo anh làm tên và nỏ đó, họ cần nhiều nỏ để làm gì?

Thường thì, vì các cuộc chiến tranh hay các thể chế cao cấp (triều đình, nhà nước…) họ đặt hàng, điều đó là đơn đặt hàng cho ra đời rất nhiều sáng tạo nào, họ kích thích sự sáng tạo của người làm vũ khí (nỏ). Điều đó giải thích tại sao các vũ khí lại rất phát triển ở những vùng có chiến tranh rất nhiều. Cho nên, khi người ta đào cả vạn mũi tên đồng ở Cổ Loa, thì đó phải là xưởng của nhà nước đặt hàng, chứ bất kể người dân nào cũng không có được “kho tàng vũ khí” lớn đến như vậy.

Câu hỏi nữa đặt ra, thế thì tại sao lại là một cái móng rùa có thể giúp An Dương Vương có vũ khí kỳ lạ gây được sát thương lớn như thế? Thì nó là từ cái máy nỏ ấy. Đúng là vào thời kỳ này, trên thế giới Đông Á này xuất hiện chữ Cơ Nỗ thật, sách cổ của Trung Quốc có ghi, có thể nó xuất hiện cái lẫy nỏ bằng đồng thật.

Song, cái lẫy nỏ này cũng chả thấm thía gì với nỏ An Dương Vương. Từ huyền thoại cũng như việc đào được những chiếc nỏ còn tương đối nguyên vẹn cả thân và lẫy nỏ, các nhà khoa học đã tiến hành phục dựng “nỏ thần”. Chúng tôi đã tìm hiểu, đã mời những chuyên gia chế tác nỏ từ tỉnh Hoà Bình về nghiên cứu, phục dựng rất kỳ công.

Không chỉ tiến hành khai quật khảo cổ, giải mã các vấn đề hiện tượng thú vị của nhiều nghìn năm trước của các tộc người, các vùng đất khác nhau, dường như Trung tâm Nghiên cứu Tiền sử Đông Nam Á đang hướng dần sang phía “làm công trình” về vũ khí cổ của người Việt Nam?

- Cuộc trình diễn tại Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam vừa rồi, “nỏ thần” An Dương Vương của chúng tôi mới chỉ bắn được 5 mũi tên một lúc. Tới đây, chúng tôi còn làm thêm nhiều kiểu khác nữa, với hàng chục mũi tên được bắn ra một lúc. Chúng tôi còn dùng cả công thức tăng cần cánh nỏ của đời nhà Tống.

Cái đó thì những người am tường về nỏ nhất, cũng phải thán phục tài liệu chúng tôi đưa ra (theo sách), rằng: để căng cánh nỏ ra thì ta làm thêm cánh ngược lại so với cánh thông thường nữa, để rồi, cánh xuôi cánh ngược nó gông nhau, tăng lực đàn hồi cho nỏ. Riêng việc gông hai cánh để tăng lực là đã giỏi, liên kết thêm cánh phụ, thậm chí cả 3 cánh “gông” nữa, lực bắn sẽ rất mạnh, bắn mũi tên đồng đi được hơn 1km là dễ hiểu.

Chuyện cũ ghi lại, mấy ông họ Hà ở vùng Phú Thọ, khi truy đuổi đội quân của Thoát Hoan (xâm lược nước ta thời Trần) đã cắm mũi tên to bằng cái cây tre để doạ quân của Thoát Hoan là có thật. Loại nhỏ nhất phải 7 người mới kéo được cánh nỏ.

Các câu chuyện hồi xưa có ít nhiều hư cấu, nhưng thường thì vẫn có nguyên tắc “có lửa thì mới có khói” của nó. Muốn lần ra sự thật của những huyền thoại đó, thì cần phải có phương pháp, khi tiến hành tìm hiểu đôi lúc tôi tìm ra những cái thú vị. Có cái tưởng như thuần tuý chỉ là huyền thoại thì nó lại là sự thật.

Ông cũng là nhà khoa học đầu tiên ở Việt Nam tiến hành đi thực địa, nghiên cứu rồi tổ chức hội thảo quốc tế, đi quốc tế trình bày về “tục” ăn đất ở nhiều cộng đồng trên đất nước ta. Đó là một câu chuyện khó tin nhưng có thật. Công việc đó hiện giờ ra sao?

- Ở Nhật Bản năm vừa xong có hội nghị về sản xuất muối, theo đó, nhiều cộng đồng đã ăn muối cách đây 6.000 năm, đa số là 4.000 năm, thử hỏi: thế trước đây, suốt hơn 2 triệu năm, người ta ăn gì? Mọi người đều thấy: hoá ra, khi con người chuyển hoá từ vượn thành người, chả cần gì đến muối. Khi tôi ăn xong một con vật, nó đã có vị mằn mặn rồi, bởi trong máu đã có lượng khoáng nhất định. Loài người bắt đầu ăn muối từ khi anh bắt đầu tự tách đời sống khỏi thiên nhiên hoang dã, tức là anh chuyển sang trồng trọt và chăn nuôi.

Những thứ khoáng tổng hợp trong thiên nhiên bị lệch đi, họ buộc phải tăng lượng khoáng thiếu trong tự nhiên lên, thông qua việc sản xuất muối. Giữa bối cảnh đó, ăn đất chính là của thời kỳ người ta không có muối, và người ta có thể bị thiếu, bị mất cân bằng ở điều kiện nào đó mà thức ăn thiên nhiên không làm ra đủ. Tại Nhật Bản, khi tôi trình bày tham luận của mình, nhiều đại biểu không chỉ đồng tình, mà họ còn coi là có tính khai phá nữa…

====

Tiến sĩ Nguyễn Văn Việt, sinh năm 1951, tại Hà Nội. Tốt nghiệp đại học, chuyên ngành khảo cổ năm 1972, tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nay là Đại học Quốc gia Hà Nội.

Bảo vệ luận án tiến sĩ năm 1989, tại Cộng hoà Dân chủ Đức, ông có 20 năm công tác tại Viện Khảo cổ học Việt Nam, từ năm 1970 đến năm 1990. Năm 1999, TS Nguyễn Văn Việt, xin phép thành lập và là giám đốc Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á từ
đó đến nay.

Ông là chủ biên và đồng tác giả của nhiều cuốn sách, như: “Quân thuỷ trong lịch sử chống ngoại xâm” (NXB Quân đội Nhân dân, năm 1983); “Nghiên cứu về tiền sử Việt Nam” (đồng tác giả) do Viện Hàn lâm Khoa học Cộng hoà Dân chủ Đức, xuất bản năm 1989); “Hà Nội thời kỳ tiền Thăng Long” (đang in tại Hà Nội)...

L.Q. thực hiện (LĐCT)