Trang nhà > Bạn đọc > Hải ngoại > Gửi ông Khổng tử

Bùi Trọng Liễu

Gửi ông Khổng tử

Thứ Bảy 24, Tháng Hai 2007

Trong một số tác phẩm văn học xưa và nay, đôi khi xuất hiện những nhân vật ảo xen lẫn với nhân vật thực, thí dụ như trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (thế kỉ 16). Có lẽ cũng là một hình thức hữu hiệu để tác giả phát biểu được ý kiến của mình trên một số vấn đề nóng hổi nhưng tế nhị, của thời đại.

Mặt khác, ở chính trong một con người - tác giả - cũng có thể có mặt này và mặt nọ, vv. , làm tôi liên tưởng tới truyện « Dr. Jekyll và Mr. Hyde » (*). Bác sỹ Jekyll, là con người thiện, tình cờ phát minh ra được một liều thuốc, uống vào thì biến thành ông Hyde, một con người ác. Nhưng trong bài viết này, không phải là lúc luận chuyện thiện hay ác, thuần đạo hay nghịch đạo, có chăng chỉ là hình thức phát biểu.

Tôi có một kẻ đối thoại, thực và ảo, gọi là Y, thường cùng tôi trao đổi, luận bàn, trong những buổi thư nhàn hay trong những cơn mộng mị, và tôi đã có dịp giới thiệu tỉ mỉ trong cuốn sách cuốn sách Học gần Học xa của tôi, nxb ĐH Quốc gia Hà Nội, 2005. Y và tôi có qui ước như sau : khi đã trao đổi xong về một vấn đề gì mà y muốn tôi viết ra, tôi mất công ghi chép, thì tôi nhận phần « hơn » : những gì ôn tồn, nghiêm chỉnh, thanh tú, thì tôi nhận phần tôi ; những gì thô bạo ngang ngược, chướng tai thì y phải nhận ; và y đã đồng ý.

Y có bài thơ «gửi ông Khổng tử» trao cho tôi trong giấc mộng. Nay đang thời thượng của tâm linh, cũng không có gì là lạ. Thời nay nước nhà mở cửa, mọi ý kiến được tiếp nhận, tôi xin chép lại dưới đây, và ghi chú thích, còn việc phê bình hay, dở, đúng, sai, xin để phần người đọc:

Gửi ông Khổng tử

Khổng tử, ông người Tàu, sinh ra ở nước Lỗ,

Lũ hủ nho nước tôi vái ông, đặt ông trên cả bố (1).

Họ phục nước ông văn minh,

Họ chê dân tôi mọi rợ, sơn răng đóng khố (2).

Họ học ông những điều hay, điều dở,

Rồi họ chế biến cả những điều vô bổ.

Họ lập Văn miếu (3), họ lập Võ miếu (4),

Họ thờ người nước ông, hơn cả thờ tổ (5).

Họ bày ra thứ chữ Nho,

Làm dân nước tôi, nhiều thể kỉ, học khổ (6).

Mấy thế kỉ độn đần, hiểu biết thô lỗ.

Hậu quả đến tận nay, còn gây ra những điều nhăng nhố.

Chẳng qua vì trọng sự vinh danh, hám ngồi chiếu trên ăn cỗ.

Lũ hủ nho tân thời, hậu sinh khả ố,

Dẫn mấy học thuyết phương Tây,

Nhưng trong đầu họ, tư tưởng tôn ti của ông đâu có đổ !

Người khôn nước mình thì chẳng nghe,

Với người nước ngoài thì vái như búa bổ.

Lời, ý phát ra, sặc mùi lưỡi gỗ.

Đấy cũng là một yếu tố

Gây ra một số chuyện lạ kỳ, lố lăng tổ bố:

Dỡ ngói, ném phao ; học không nổi, thi không đạt, mà vẫn đỗ.

Bằng thật bằng giả cũng là bằng,

Công việc làm thì dành chỗ,

Chèn ép những người năng nổ.

Đâu có phải một vài kẻ, bè cánh cũng cả ổ.

Lợi cho kẻ giàu, thiệt cho kẻ nghèo, bất công trong phân bố.

Tưởng rằng tân, hóa ra vẫn cổ (7).

Vinh danh giáo sư viện sĩ, bộ óc vĩ đại, danh nhân thế giới,…

Để cho bọn kinh doanh tiểu sử quốc tế dụ dỗ (8).

Thật lố,

Mà không biết rằng mình ngố.

Học thế, dạy thế, muốn mua bán giáo dục thế, có mà xuống hố.

Chứng kiến việc họ làm, người ngay muốn độn thổ.

Khổng tử ông ơi, nếu ông linh thiêng, phù phép cho họ tỉnh ngộ.

Nếu không, xin mời tư tưởng ông về Tàu,

Cho Hồng vệ binh (9) họ tố.

Để dân tôi đổi mới tư duy,

Để những việc lố lăng chóng xuống lỗ.

Để danh nước tôi khỏi hoen ố,

Để con cháu chúng tôi khỏi hổ.

Tháng 8/2005


Chú thích :

(*) viết năm 1886 của tác giả người Anh Robert Louis Balfour Stevenson

(1) Quân, sư, phụ.

(2) Câu người xưa « sơn răng, chằng đít, đánh đai đầu », nghĩa là nhuộm răng đen, đóng khố và chít khăn.

(3) Theo Đại việt sử ký, Văn miếu ở Hà Nội, từ lúc thành lập, thờ Khổng tử, Chu công, Tứ phối (Nhan tử, Tăng tử, Tử tư, Mạnh tử) và thất thập nhị hiền (72 người học trò giỏi của Khổng tử) đều là người Trung Hoa. Còn Chu (Văn) An người nước ta (1292-1370, thời nhà Trần) được thờ theo ở Văn miếu.

(4) Theo bài « Võ miếu ở Huế » của Phan Thuận An, trong « Hồn Việt » số 2, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, nxb Văn Học, 2004, tr. 291-309, tôi tóm tắt như sau : Võ miếu ở Huế được bắt đầu xây dựng vào năm 1835, thời vua Minh Mạng, đến 1836 thì xong. Tại Miếu chính thờ 12 danh tướng Trung Hoa sau đây : ở án chính trung, thờ Khương Tử Nha (thời nhà Chu) ; ở án phía đông, thờ 6 nhân vật : Quản Trọng (nước Tề thời Đông Chu liệt quốc), Tôn Võ (nước Ngô thời Đông Chu liệt quốc), Hàn Tín (nhà Hán), Lý Tĩnh (nhà Đường), Lý Thanh (nhà Đường), Từ Đạt (nhà Minh) ; ở án phía tây, thờ 5 nhân vật : Điền Nhương Thư (nước Tề thời Đông Chu liệt quốc), Trương Lương (nhà Hán), Gia Cát Lượng (nhà Hán thời Tam quốc), Quách Tử Nghi (nhà Đường), Nhạc Phi (nhà Tống). Tại 2 Miếu phụ (Tả Vu và Hữu Vu), thờ 6 nhân vật Việt Nam ; ở Tả Vu, thờ 3 vị : Trần Quốc Tuấn (1226-1300, nhà Trần) ; Nguyễn Hữu Tiến (1602-1665, thời các chúa Nguyễn), Tôn Thất Hội (1757-1789, thời Nguyễn Ánh) ; ở Hữu Vu, thờ 3 vị : Lê Khôi (?-1446, nhà Lê), Nguyễn Hữu Dật (1603-1681, thời các chúa Nguyễn) ; Nguyễn Văn Trương (1740-1810, thời Nguyễn Ánh-Gia Long). Với binh lửa và thời gian, hiện nay, chỉ còn 10 bài vị thờ 5 nhân vật Trung Hoa (Quản Trọng, Trương Lương, Gia Cát Lượng, Lý Thanh, Quách Tử Nghi) và 5 nhân vật Việt Nam (Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật, Tôn Thất Hội, Nguyễn Văn Trương). 5 bài vị thờ người Tàu thì được sơn son thếp vàng, trang trí kỹ, đều một cỡ cao khoảng 52,5cm ; 5 bài vị thờ người Việt Nam sơ sài hơn, sơ son nhưng không thếp vàng, cũng không trang trí gì, không cùng một cỡ, nhưng nói chung nhỏ hơn (cao từ 47cm đến 48cm).

(5) Trong bài Nhân đọc 2 lời bình về việc học của người xưa, của tôi đăng trên tạp chí Thời Đại số 4/1999, và có in lại trong cuốn sách Chung quanh việc Học, của tôi, nxb Thanh niên, Hà Nội 2004, tôi có trích lời bình của hai vị sau đây :

a/ Ông Nguyễn Trường Tộ viết trong Tế cấp bát điều, (bản dịch của Trần Lê Hữu trong Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỉ XIX - Đăng Huy Vận, Chương Thâu - nxb Giáo dục 1961):

« Nước ta cũng có tổ tiên mà sự tích còn lưu truyền lại [...]. Các vị danh thần trong các triều đại trước của nước ta còn lưu lại biết bao công lao thành tích [...], cũng có việc đáng nêu lên, sao không truyền tụng những gương tốt đó cho người ta phấn khởi bắt chước vùng lên [...] mà cứ không kể đêm ngày luôn miệng kêu réo Hàn Tín, Tiêu Hà của Trung quốc, là những người đã chết từ mấy ngàn năm nay? Phải chăng hôm nay chúng ta còn mang ơn họ? »

b/ Ông Dương Bá Trạc viết trong Tiếng gọi đàn (Nghiêm Hàm ấn quán, Hà Nội 1925):

Người Tàu thờ ông thánh Quan, bà Thiên-hậu, kỷ niệm ông Khuất Bình, ông Giới Tử-Thôi, người mình cũng bắt chước thờ ông thánh Quan, bà Thiên-hậu, kỷ niệm ông Khuất Bình, ông Giới Tử-Thôi. Trong cái lúc thâu-thái được chút đỉnh luân-lý, học-vấn, văn-chương, kỹ-nghệ [...] thì bao nhiêu cái dại cái dở [...] , mình cũng nhắm mắt theo cho kỳ hết. Nhân thế mà bao nhiêu cái tinh-thần tự-lập, cái năng-lực sáng-tạo mất dần đi cả.

(6) Trong bài báo Thoáng nghĩ về chữ Nho, đăng trên báo Tia Sáng số Xuân, tháng 2/2002, có in lại trong cuốn sách Chung quanh việc Học, đã dẫn trên, tôi có nói ý nghĩ của tôi về cái thứ chữ này : viết thì viết như người Tàu, nhưng đọc ra thì người Tàu cũng không hiểu, người nước ta cũng không hiểu, trừ vua quan và nho sĩ. Chín thế kỉ học hành, thi cử, sách vở, văn bản, pháp lệnh vv. đều dùng thứ chữ Nho như vậy ; đến thời Pháp thuộc, năm 1918 mới bỏ thi Hương, 1919 mới bỏ thi Hội thi Đình.

(7) Phạm Đình Hổ (1768-1839) kể trong cuốn Vũ Trung tuỳ bút của ông (có bản dịch của Nguyễn Hữu Tiến) mấy câu chuyện về thi cử thòi Lê mạt, với sự nghi ngờ là có người đỗ không xứng đáng. Tôi xin tóm tắt một chuyện :

« Thời đó, người ta đồn là ông Nguyễn Hoãn, khi đi thi tiến sĩ, bài văn sách là do bài của sáu văn sĩ làm giúp cho trước. Lời đồn kể rằng vì thuở ấy bố ông Nguyễn Hoãn, là Phong quận công Hiệu đang làm Tham tụng (nghiã là Tể tướng), quyền to, các quan khác đều sợ. Khi ấy có một ông quan bị khiển trách, phải bãi chức. Một hôm, ông này được triệu vào tướng phủ, nhưng ngồi đợi lâu ở nhà trong mà không được yết kiến. Ngồi mãi, không có gì làm, ông ta chợt thấy trên kỷ có một đầu đề văn sách, mở ra xem đọc đi đọc lại thuộc hết cả. Suốt ngày được kẻ hầu người hạ khoản đãi rất tử tế, đến chiều ra về mà vẫn không thấy quan Tham tụng hỏi đến, không hiểu ra sao. Đến khi phủ chúa (chúa Trịnh) triệu tập các quan văn thần vào soạn đề thi, thì ông quan ấy cũng được triệu vào, ông ta liền đề nghị cái đầu đề văn sách đọc được bữa trước trong tướng phủ. Khoa ấy, ông Nguyễn Hoãn đỗ Hội nguyên ».

(8) Trong cuốn Chung quanh việc Học đã dẫn trên, tôi có viết :

« Hiện nay, xem chừng như có sự tiếm xưng, tự tôn vinh hay tôn vinh quá đáng, gây ra một sự lẫn lộn không lành mạnh. Khởi thuỷ là một sự hiểu sai thông tin. Trong một khoảng thời gian mấy chục năm, tổ chức việc học đại học và cơ sở nghiên cứu của ta chịu ảnh hưởng của Liên Xô. Theo cách tổ chức đó, vai trò của Viện Hàn lâm rất lớn, bao gộp hầu hết các viện nghiên cứu, và do một số thành tựu khoa học thuở đó của Liên Xô, danh hiệu viện sĩ được một số người Việt Nam chiêm ngưỡng, nhất là khi danh hiệu này có trọng lượng trong lĩnh vực quản lý khoa học và có kèm theo những ưu đãi vật chất. Gần đây, khi nước nhà đổi mới, mở cửa ra quốc tế, một số nhà khoa học Việt Nam có dịp tiếp xúc với Mỹ và Tây Âu, đã gặp loáng thoáng loại danh từ tương tự, nên đã xảy ra một sự ngộ nhận. Academy (tiếng Mỹ), Académie (tiếng Pháp) bị một số người hiểu lầm là Viện Hàn lâm Quốc gia trong bất cứ trường hợp nào; trong khi đó từ này có thể là tên gọi của một hội khoa học tư, đóng một số tiền thì có thể gia nhập, như New York Academy of Sciences; hoặc có nghĩa là nơi mà người ta hành một thuật, một trò giải trí như Académie Equitation Western (cưỡi ngựa kiểu cao bồi), Académie de billard (trò chơi bi-a), tất nhiên người gia nhập không thể gọi là viện sĩ được. Từ sự ngộ nhận, nghe nói đã có trường hợp tiến tới sự nhập nhằng tiếm xưng và được tôn vinh. Trong một vài bài báo từ năm 1999, cũng như một số người khác, tôi có báo động việc này, nhưng có lẽ không mấy ai chú ý ».

Cũng trong cuốn sách đã dẫn, tôi có in lại bài báo Bán hàm của tôi đăng trên báo Nông Nghiệp Việt Nam, 15/4/2002, tạp chí Tia Sáng nhắc lại 20/8/2005; nay tôi xin trích vài câu như sau :

« Ngày nay, nghe đồn có một vài người hám danh, dùng tiền của cơ quan để : trả niên liễm cho một vài hội khoa học tư ngoại quốc để tiếm xưng « viện sĩ », trả niên liễm cho mấy nhà xuất bản cái mà họ gọi là danh sách « danh nhân thế giới », để được đề cao, v.v. Thay vì để việc này tiếp tục, vừa không đẹp cho hình ảnh nước nhà, vừa phạm vào việc « danh hiệu không đúng tiêu chuẩn » nói trên, có thể nào bắt chước tổ tiên ta trong cách giải quyết không ? Xin nêu hai thí dụ. Nước ta hiện nay chưa có [và chưa cần thiết có] Viện Hàn lâm, có thể nào qui định cho phép những ai muốn, bỏ tiền ra mua một hư hàm « Viện sĩ ». Như vậy, không những thoả mãn được ham muốn của họ, mà còn lấy tiền của họ để làm việc công ích như giúp học bổng cho sinh viên học sinh, tu sửa trường sở, bồi dưỡng cho những cán bộ giảng dạy chân chính, vv. ? […]. Lại có thể nào cho phép mấy nhà xuất bản của một vài cơ quan nhà nước, trước đây đã bỏ của công ra đăng những cuốn sách tôn vinh một vài « danh nhân không đúng tiêu chuẩn », nay được phép « bán chỗ » trong các « danh sách danh nhân » địa phương cho những ai muốn có tên trên các danh sách đó, xen lẫn với vài tên danh nhân thế giới ? Tiền thu được vào công quĩ để làm những việc thực sự có ích cho nền giáo dục đào tạo nước nhà, phải chăng cũng là một việc tốt ? ».

(9) Cuộc Đại cách mạng văn hóa, thời Mao Trạch Đông.

Bùi Trọng Liễu, cựu GS toán, ĐH Paris

© http://vietsciences.free.frhttp://vietsciences.net