Xem lẹ

Trang nhà > Nhân văn > Hồi tưởng > HAI TIẾNG THÂN YÊU (Kỳ I)

HAI TIẾNG THÂN YÊU (Kỳ I)

Trích hồi ký Nguyễn Chí Công*

Thứ Hai 2, Tháng Chín 2013

Nhân kỷ niệm ngày ra đời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, BBT xin trích đăng phần hồi ức của Nguyễn Chí Công về cha mẹ của tác giả, mở đầu loạt bài giới thiệu một thời đáng nhớ của nền giáo dục độc lập với lớp thầy cô đi tiên phong và những con người bình dị nhưng đã để lại tấm gương không thể phai mờ cho hậu thế.

1. MỞ ĐẦU

JPEG - 19.5 kb
Ông giáo Tảo. Hà Nội 1956

Họ Nguyễn làng Đông Tác (Trung Tự) có truyền thống dài hơn 5 thế kỷ ở đất kinh kỳ, từng sinh ra hàng chục bậc khoa bảng văn võ, thiền sư và thầy giáo nổi tiếng, trong đó có cha tôi, nhà giáo Nguyễn Hữu Tảo [1]. Bên ngoài ảnh hưởng của gia tộc và gia đình, bản thân tôi lại may mắn được vào học và trưởng thành trong ngành khoa học máy tính (còn gọi là công nghệ thông tin), một ngành mới ra đời nhưng đã phát triển rất nhanh, tác động lớn đến hầu hết các mặt của xã hội. Mặc dù làm việc tại một viện nghiên cứu, tôi thỉnh thoảng vẫn được mời dạy, tính từ năm 1973 đến nay đã 40 năm, không thể nhớ đã từng soạn và giảng bao nhiêu chuyên đề. Thế mà cả 2 con trai không đứa nào nối nghiệp cha, đều theo học ngành khác mà chúng yêu thích hơn nhưng xem chừng ít có đất dụng võ. Những trải nghiệm cá nhân với nhiều cung bậc như thế đã giúp tôi hiểu rõ tầm quan trọng hàng đầu của giáo dục và đào tạo hướng nghiệp. Đây là việc mà các bậc cha mẹ nên làm bất cứ khi nào, càng tiến hành sớm thì càng dễ đạt hiệu quả cao.

Mươi năm gần đây, sức khoẻ tôi suy giảm nghiêm trọng, trước những lời khuyên nên viết hồi ký của một số đồng nghiệp và người thân, tôi vẫn ngại ngùng, tự cho rằng chưa phải lúc. Bây giờ đã về hưu được rảnh rỗi hơn, tôi bắt đầu ghi lại một số kỷ niệm và bài học, trước hết nhằm cho con cháu có thể rút ra vài điều bổ ích trong cách dạy dỗ thế hệ măng non tiếp theo. Mặt khác, cuộc đời hạnh ngộ đã cho tôi làm chứng nhân của một thời đại lịch sử đầy đảo lộn với những con người đặc biệt và những bước ngoặt bất ngờ mà khi nào được dịp tôi sẽ mô tả lại trong một quyển hồi ký khác.

Cuộc đời ấy nếu xét theo sự tác động mạnh mẽ của môi trường xung quanh thì ít ra đã từng trải qua 3 giai đoạn khác nhau. Thứ nhất đó là tuổi ấu thơ ngắn ngủi nhưng vô cùng quan trọng, vì đã định hình nên nhân cách của tôi. Tiếp theo là tuổi niên thiếu và du học khá lâu. Và 40 năm từ khi đi làm cho tới khi về nghỉ là giai đoạn biến động nhất nhưng đã giúp tôi dần dần giác ngộ và trở nên bình thản.

Tôi vốn quen báo cáo khoa học với cách viết cô đọng, chỉ cần nêu rõ ý chính hoặc trích dẫn nguồn tin, thành ra hồi ký chắc sẽ có vẻ khô khan, không văn hoa bóng bẩy. Lại có khá nhiều tư liệu ghi chép và hiện vật, ảnh chụp làm bằng chứng cho nên không cần viết dài. Hồi ký vừa được chia thành các tiểu mục, vừa cố gắng ghi theo thang thời gian. Bên cạnh những sự kiện không móc nối vào nhau vẫn có những chuyện khó tách bạch và bị gắn với định kiến thời đại hoặc quan hệ xã hội, cho nên cũng phải viết theo lối nhảy cóc hoặc đối chiếu với những hiểu biết muộn hơn. Tôi nghĩ những ấn tượng không được nhìn từ nhiều góc khác nhau thì dễ phiến diện. Những nhận định cần có độ lùi lịch sử và tránh cảm tính bộc phát, không nên công khai chạm đến những tình cảm thiêng liêng.

Dưới đây sẽ chủ yếu trích lại những ký ức trong giai đoạn 1952-1982 có liên quan đến Ba và Mợ, hai người thân yêu nhất của tôi.

JPEG - 9.6 kb
Bà giáo Tảo. Hà Nội 1958

2. TIẾNG MẸ ĐẺ

Khi đặt bút tìm về tuổi thơ, trong lòng tôi bỗng vang lên tiếng ru chậm rãi và sâu lắng:
"Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra"

Với tôi, ý nghĩa câu ca dao trên thật thấm thía, mình được nên người trước hết là nhờ sự nuôi nấng, dạy dỗ và tình yêu bao la của cha mẹ, mà tất cả anh chị tôi đều gọi là Ba, Mợ. Nằm trong bọc hài nhi chắc chắn tôi đã nghe thấy như thế. Và kỷ niệm đầu tiên của tôi rất có thể là hai tiếng "Ba, Mợ", hai tiếng thân thương đã cùng tôi đi suốt cả cuộc đời. Tôi đã từng thử nghiệm thì thấy hai tiếng ấy quả là dễ dạy cho trẻ thơ, đứa nào cũng bập bẹ được ngay.

Nhờ một dịp may, tôi mới hiểu được rốt ráo vì đâu anh em nhà mình lại gọi cha mẹ là Ba Mợ.

Mùa thu năm 1964 chiến tranh lan ra miền Bắc, máy bay Mỹ bắt đầu ném bom Hải Phòng nhưng còn chưa đụng đến Hà Nội, tôi không đi sơ tán mà vẫn ở lại, học trường cấp 3 Trưng Vương. Lúc đó Mợ đang tạm xa nhà để giúp chăm cháu nhỏ cho một chị dâu của tôi, hai anh Hải Bằng và Đại Đồng đã đi bộ đội được mấy năm, anh Bật còn đang dạy học ở Thái Bình như anh Đạm, các anh chị khác ở riêng, tôi sống với Ba mới hưu trí về ở tại xóm Trại Cam Đường, làng Trung Tự. Một hôm, Ba lẳng lặng mua giấy trắng, tự tay khâu vở đóng bìa và bắt đầu ghi hồi ký ở tuổi 65. Sau đó tôi được Ba cho đọc đầu tiên và thắc mắc hỏi ngay vì sao Ba lại dùng từ "cha, mẹ"?

Trán thoáng nhăn ngạc nhiên và như muốn tìm lại điều gì, Ba mở nắp chiếc giành tích, nhấc ấm chè nụ rót ra chén, chậm rãi nâng uống rồi điềm đạm trả lời. Đại ý: từ xưa Ba vẫn gọi Ông Bà nội là "cha, mẹ", kể từ khi sinh anh cả thì Mợ đưa về cách gọi "Ba, Mợ", không phải của bên ngoại. Mợ giải thích rằng xưng hô như thế cho khác cách gọi của quê chồng và do vậy dễ phân biệt trong một đại gia đình còn có các cô, chú, bác, cậu với con cái họ.

Đúng là "tiếng mẹ đẻ" thật, sau này đến lượt vợ tôi sinh con, tôi mới nghiệm ra trời cũng bắt xưng hô là "bố, mẹ" như cách của vợ.

3. SUỐI NGUỒN VIỆT BẮC

Lần ngược lại hơn 60 năm trước, tôi mới thấy hầu như đã quên hết những chi tiết đầu đời. Cũng may còn giữ được vài bức ảnh mờ, sổ sách cũ và một tờ giấy khai sinh ố vàng với nét chữ của Ba tôi là nhà giáo Nguyễn Hữu Tảo. Rồi các anh chị và bạn bè tôi lại cung cấp những tư liệu khác của xa xưa làm cho mối liên hệ giữa các mẩu ký ức thêm rõ ràng.

Tôi mua một máy quét về chụp lại tất cả tư liệu và lưu các bản sao để những người liên quan có thể dùng chung. Một số tấm ảnh được tôi phóng to nếu bản gốc nhỏ quá, rồi chú thích và lồng vào trong hồi ký. Có thể những chú thích này không chính xác được hết, tôi rất mong độc giả phát hiện, sửa chữa cho các sai sót, đặc biệt về tên nhân vật, địa điểm và thời gian.

Tôi ra đời vào gần đầu thời kỳ kháng chiến chống Pháp, giữa một đêm sương lạnh, theo chữ Ba ghi là tại "phố Kéo Coong, phủ Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn". Lúc đó Ba là Giám đốc Sở Giáo dục Liên khu Việt Bắc, sau khi lặn lội mở trường Sư phạm Việt Bắc trong một vùng núi thì nhận chức Tổng Thư ký Hội đồng Tu thư Trung ương.

Ba từng kể lại rằng ngày ấy ở chiến khu Hồ Chủ tịch mới nêu khẩu hiệu chỉnh phong “Cần kiệm liêm chính chí công vô tư”, do đó mà có tên tôi [2]. Cái tên này quả là vận vào đời tôi, làm cho nhiều lúc quên cả gia đình và bản thân, nhưng xét cho cùng tôi vẫn tự hào coi như một kỷ niệm của Bác Hồ. Hiểu ý nghĩa của 8 chữ này sẽ thấy ngay tác phong, đạo đức của nhiều cán bộ bây giờ nói chung đã xuống cấp đến mức không thể so với trước kia được chút nào.

JPEG - 40.5 kb
Hai anh em bên vườn rau. Lạng Sơn 1/5/1951

Anh cả của tôi và chị Hiến Chi (thứ hai) đã thoát ly đi kháng chiến như Ba, anh Hải Hoành (thứ sáu) tự xin nghỉ học cả năm trời để bế tôi và chị Quốc Ân (thứ ba) vừa lớn đã phải cáng đáng việc nhà giúp Mợ. Nhờ thế mà tôi được biết nhiều điều xảy ra ngày ấy với tôi và với các anh chị. Chẳng hạn mọi thanh thiếu niên dù từ xuôi lên hay sinh ra ở vùng Viẹt Bắc đều có thể đi học.

Sau này mỗi lần có dịp suy nghĩ và so sánh, tôi càng thấy rõ nước Việt Nam độc lập ngay từ đầu đã tự xây dựng được một hệ thống trường phổ thông đa cấp, phủ đến tận núi rừng, một kỳ tích khu vực nếu không nói là quốc tế. Tiếc rằng cho đến nay dường như công lao của các bậc mở đường, trong đó có Ba, lớp người đào tạo ra những thầy giáo đầu tiên cho nền giáo dục dân tộc, còn chưa được đánh giá đúng mức và ghi đầy đủ vào sử sách.

Nhiều lần trở lại Việt Bắc, tôi cảm thấy non xanh nước biếc và không khí trong lành vẫn như không thay đổi, nhưng đáng buồn là những chứng tích hoang tàn và tội ác khủng khiếp do quân Trung Quốc gây ra trong cuộc xâm lược năm 1979 thì dường như dần bị lãng quên.

4. TÂM HƯ MỜ ẢO

Theo chị Ân, tôi được săn sóc đặc biệt vì ra đời cuối cùng, khi Mợ đã vắt kiệt sức sau 11 lần sinh nở và nuôi nấng các con. Trải qua quá nhiều cảnh thiếu thốn trong những năm tháng rời Hà Nội đi tản cư loanh quanh các tỉnh Việt Bắc cho nên sức khoẻ của cả nhà tôi đều sút kém. Mợ hầu như không còn sữa, thường phải nhá ngô non để mớm cho đứa con út quặt quẹo khóc ngằn ngặt. Ba liên tục đi công tác trong những vùng hẻo lánh, đôi khi mới tạt về thăm nhà và đưa cho Mợ vài cân gạo. Nghị lực và tài đảm đang của Mợ thật phi thường mới có thể giúp cho đàn con nhỏ đều sống sót qua thời kỳ kháng chiến gian nan.

JPEG - 37.3 kb
Một nửa gia đình của tác giả. Tâm Hư 1952

Rất may rằng từ cuối năm 1951 một số anh chị và tôi đã có các điều kiện tốt hơn hẳn, kể từ khi theo Ba Mợ trong đoàn các trường sư phạm [3] vượt biên giới vừa khai thông sang Trung Quốc. Hồi đó, chiến tranh Triều Tiên đang diễn ra đẫm máu, quân đội Mỹ và quân chí nguyện Trung Quốc nhảy vào đánh nhau ác liệt trong bán đảo vùng đông bắc ấy. Tỉnh Quảng Tây ở phía nam, tuy là một vùng đất khách hoàn toàn xa lạ và vẫn còn thổ phỉ, nhưng ít ra đã hết nội chiến vài năm rồi.

Trước tiên, gia đình chúng tôi sinh hoạt trong một thời gian khoảng hai năm ở Tâm Hư, một ngôi làng nghèo của người Chuang. Theo một nhà sử học, tộc Chuang còn gọi là Tráng hoặc Đồng, một trong các tộc Bách Việt đã bị Hán hoá từ đầu Tây lịch. Ấn tượng về Tâm Hư đọng lại rất ít và mờ ảo vì tôi còn ở tuổi đi vườn trẻ, ít khi rời tay Mợ. Đáng tiếc rằng tôi chưa có dịp nào quay trở lại nơi đây.

Tới khi rời đi Nam Ninh, tôi mới chỉ loáng thoáng biết rằng làng Tâm Hư rất lớn lại nhiều ngõ ngách, ven đường thường thấy lũ lợn thả rông vẫy đuôi nhởn nhơ. Có một cây đa bóng che mát rượi, lác đác qua lại những phụ nữ bó chân bé tý, địu con trên lưng, vài đàn ông tóc tết đuôi sam gánh thùng gỗ đi liêu xiêu. Ao tù xanh rêu, ruồi nhặng bay vù vù. Thế mà lại có một sân bóng rổ, kéo không ít thanh niên đến chơi mỗi buổi chiều. Ô tô rất hiếm thấy, nếu nghe có tiếng chiếc nào chạy qua thì lũ nhóc lại chạy ra vẫy, dù khói bụi tung lên mù mịt.

JPEG - 69.1 kb
Các bà mẹ kiêm cô bảo mẫu. Tâm Hư 1952.

Dân nghèo trong làng đều sống trong những ngôi nhà đất, mái thấp lè tè, có chỗ còn phải dựng lều. Đoàn người Việt được phía Trung Quốc sắp xếp cho tạm thời sống chung tại những căn nhà tịch thu của người giàu và chính quyền cũ. Chẳng hạn gia đình các thầy Hoàng Ngọc Cang (hộ 3 người), Nguỵ Như Kon-Tum (4 người) và Nguyễn Xiển (5 người) mỗi hộ được ở một gian trong một ngôi nhà ngói vốn của địa chủ, bên ngoài có sân gạch.

Vườn trẻ của chúng tôi do chính mấy người có kinh nghiệm nuôi con nhất trong số các bà vợ của giảng viên tự đứng ra quản lý, kiêm luôn việc bảo mẫu. Trước vườn trẻ là một cái ao, hàng ngày các “mẹ” dắt chúng tôi đến đó men theo bờ ruộng khúc khuỷu, đầy bụi cây dại với chuồn chuồn.

Các lớp Sư phạm được tạm đặt tại một khu nhà to, lúc đầu chỉ có hơn trăm giáo sinh. Mỗi giáo sinh khi đi học tự mang theo một cái ghế con để ngồi. Nước đục, muốn dùng phải đánh phèn và dùng thuốc để khử trùng, thành ra nước có mùi vị vừa hắc vừa chua…

Tổng GĐ Khu học xá TƯ Võ Thuần Nho từng kể: “Khi tôi đến Tâm Hư vào tháng 12/1951 thì ở đó đã có thầy trò các trường Khoa học Cơ bản, Sư phạm Cao cấp, SP Việt Bắc chuyển sang với một số công nhân Việt Nam. Ngay năm 1952, lần lượt thành lập các trường SP Sơ cấp, Trung cấp rồi tách SP Trung cấp thành hai hệ KH Xã hội và KH Tự nhiên. Các trường phổ thông, nhà trẻ và mẫu giáo cũng sớm được tổ chức… Số lượng cán bộ, giảng viên, giáo sinh Khu học xá lúc đông nhất vào khoảng 2500 người, lớp giáo sinh tốt nghiệp về nước lại có lớp khác sang. Đến 1956, chuyển toàn bộ hệ Sư phạm về nước, Khu học xá TƯ chỉ còn lại học sinh phổ thông.”

Tâm Hư còn gắn với một kỷ niệm không thể xoá khỏi đầu tôi. Có lần Mợ dắt tôi đi ra chợ, bỗng chợt thấy một đám đông hung dữ đang chỉ trỏ, quát mắng ầm ỹ và đập ghế, nhổ nước bọt vào mấy người bị trói quỳ lạy giữa sân to. Tuy tôi không hiểu họ nói gì, Mợ vẫn vội vàng kéo mũ che mắt tôi và bế thốc chạy về nhà.

Lớn lên, tôi được Mợ giải thích đó là một buổi đấu tố xảy ra trong cải cách ruộng đất ở Trung Quốc mà tôi may mắn đã không phải nhìn thấy cảnh xử bắn. Ba buồn bã bảo: dù họ có tội tình gì thì cũng không được làm nhục họ, những kẻ bị trói tay bịt miệng, mất hết quyền tự biện hộ... Ai ngờ về sau đến lượt làng quê mấy tỉnh Bắc Việt cũng gặp kiếp nạn này và họ nhà tôi phải chịu vừa oan khuất vừa mất một con người như "Bồ Tát giữa đời thường": cư sĩ Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha.

(còn nữa)

* Xem thêm hồi ký cùng tác giả: MỘT THỜI ĐỂ NHỚ

CHÚ THÍCH

[1] Sách tham khảo :

  • Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý và dòng họ Nguyễn Đông Tác (Viện nghiên cứu Hán Nôm, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội 2000)
  • Nguyễn Hữu Cầu, chí sĩ yêu nước Đông Kinh Nghĩa Thục (Chương Thâu - Hồ Anh Hải, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội 2007).
  • Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha (1902-1954) (Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam biên soạn, Nxb Tôn giáo 2008).
  • Kỷ yếu Hội thảo “Nhớ về nhà giáo dục đáng kính Nguyễn Hữu Tảo” (Nxb Giáo Dục, HN 1996).

Internet:

[2] Cuối tháng 9/1949, CT Hồ Chí Minh viết trên trang đầu cuốn sổ vàng của Trường Nguyễn Ái Quốc TƯ: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự Đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt mục đích, thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.”

[3] Nghị định số 276/NĐ ngày 11/10/1951 của Bộ Quốc gia Giáo dục v/v thành lập các trường sư phạm sơ cấp, trung cấp, cao cấp đặt ở Khu học xá trung ương, đóng tại Nam Ninh, Trung Quốc.


Xem online : HAI TIẾNG THÂN YÊU (Kỳ II)