Xem lẹ

Trang nhà > Nhân văn > Hồi tưởng > HAI TIẾNG THÂN YÊU (Kỳ II)

HAI TIẾNG THÂN YÊU (Kỳ II)

Trích hồi ký Nguyễn Chí Công

Thứ Ba 3, Tháng Chín 2013

5. NHỮNG NGÔI NHÀ LỚN

Những chuyện xảy ra từ khi theo Ba Mợ rời làng Tâm Hư về sống tại Nam Ninh (thủ phủ tỉnh Quảng Tây) cho đến lúc trở về Hà Nội (1955) thì tôi nhớ được nhiều hơn. Trụ sở Khu học xá trung ương vừa mới xây xong, rộng mênh mông. Chính nơi đây, lần đầu tiên trong đời tôi được biết đến những toà nhà quét vôi màu sáng, có nhiều cửa sổ rộng và một dãy cột cao to trông rất khác lạ. Đó là khu vực trường học với những giảng đường nhỏ và hội trường lớn; mỗi khi tan lớp, các giáo sinh đổ ra đông nghịt, cười nói ầm ỹ.

JPEG - 59.5 kb
Lớp giáo sinh Khoa học xã hội, Khu học xá Nam Ninh 1954

Bên ngoài các giảng đường là các bãi cỏ, vườn hoa, bể nước với hòn non bộ v.v.., tôi nhớ không có cây cổ thụ nào cả. Những ngày trời đẹp tôi thường đến xem hoa, ngắm cá vàng bơi, bắt bướm hoặc chơi trốn tìm quanh quẩn với bạn bè. Lũ nhỏ chúng tôi thường đi tắt ngang các bãi cỏ, mặc dù có lối đi sạch sẽ đến từng giảng đường, sân bóng, bếp ăn và dãy nhà tập thể gia đình.

Khu gia đình hầu hết gồm các dãy nhà gạch một tầng, trước mỗi căn hộ thường có một vườn rau gọi là đất "tăng gia". Căn hộ nơi gia đình tôi sống tuy nhỏ nhắn nhưng ấm cúng, hầu hết các bạn tôi ở ngay xung quanh. Chính tại đây tôi đã trải qua những cơn sốt nóng bỏng, chân tay vật vã, môi khô miệng đắng, đầu nhức ghê gớm, có cảm giác như đang bay bỗng bị lôi tuột xuống, rơi thun thút rồi thiếp đi lâu lắm, khi tỉnh lại luôn luôn thấy phía trên là những khuôn mặt lo lắng và ánh mắt tràn đầy yêu thương của Ba Mợ.

Theo nghiệp cũ của một gia tộc nhiều đời làm thầy, mấy anh chị lớn của tôi cũng chọn và được xếp vào học các bậc sư phạm trung cấp và sơ cấp, nhằm nhanh chóng đáp ứng nhu cầu cấp bách của các trường phổ thông trong nước. Chị Hiến Chi trở về nước đầu tiên và dạy học ở tỉnh Lai Châu. Tại đây chị kết hôn với anh Nguyễn Hanh và sinh cháu đầu lòng năm 1954, đặt tên là Minh Châu để kỷ niệm mối tình giữa vùng rừng núi xa xôi này. Anh Hải Đạm về dạy học ở tỉnh Nghệ An, sau lại chuyển về Thái Bình. Anh thứ năm là Hải Khoát đỗ đầu khóa nhưng không được cử đi học tiếp mà phải về dạy học ở tỉnh Phú Thọ. Mãi sau này, tốt nghiệp đại học xong rồi được đi Liên Xô làm nghiên cứu sinh, dường như anh mới hết bị mặc cảm thua thiệt. Chị Quốc Ân ra trường khoảng năm 1956 về dạy học ở Hải Phòng.

Nhà tôi hồi ở Nam Ninh hiếm khi được thêm mấy anh từ Quế Lâm về chơi, cho nên có dịp nắng đẹp lại rủ nhau đi chụp ảnh chung. Các anh chị thường ca hát, kể chuyện hoặc dạy cho tôi cách sống. Tôi vốn được Ba Mợ chiều chuộng nâng niu, 5 tuổi rồi mà nhiều việc nhỏ cũng chưa biết làm, khác với các anh chị phải tự lập ngay từ khi học cấp một.

Người anh liền kề chỉ cách tôi hơn 3 tuổi nhưng nhanh nhẹn, đã biết đầu têu nhiều trò. Anh sinh ra tại Hà Nội khi nước Việt Nam vừa độc lập và tràn đầy hy vọng về một thế giới mới, vì vậy Ba đặt tên là Đại Đồng. Lúc đầu anh Đồng được sống cùng Ba Mợ như tôi. Anh chơi giỏi cờ Hoà bình, thắng cuộc lại cho tôi những hòn bi trong vắt sặc sỡ. Lớn lên tôi trở thành một trong những tay chơi bi cừ khôi.

Về sau anh Đồng đi học, phải vào ký túc xá nhưng thỉnh thoảng vẫn về thăm và cho tôi xem chung vài quyển truyện tranh liên hoàn mượn của các anh lớn hơn. Tôi nhớ rõ là truyện tranh vẽ đẹp, các nhân vật chính trong đó đều có nét riêng rất dễ nhận biết, mặc dù tôi hoàn toàn mù Trung văn. Cứ như thế các khuôn mẫu anh hùng võ hiệp cổ đại đã len lỏi dần dần vào đầu thế hệ chúng tôi.

6. “CON DẠI CÁI MANG”

Như mọi gia đình có con nhỏ ở Khu học xá, nhà tôi rất chật chội, Ba Mợ thì bận liên miên. Thành ra những khi có dịp là tôi đi tìm phiêu lưu ở bên ngoài. Nhân dịp gì đó, tôi được tặng một khẩu súng gỗ làm đồ chơi, thế là bao nhiêu giáo sinh đi ngang qua nhà bếp tập thể bị tôi từ chỗ núp chạy ra đòi giơ tay hàng, bắt chước những cảnh tương tự trong loạt phim chiến tranh được chiếu hàng tháng.

JPEG - 66.7 kb
Gia đình tác giả, Khu tập thể Nam Ninh 1954

Khu Học xá to như thế và vào các giờ học, giờ ngủ của giáo sinh các trường thì vắng lặng nên Ba Mợ rất lo tôi bị lạc lối. Tôi tuy nhát gan vẫn muốn biết tin đồn bên ngoài có mẹ mìn rình bắt trẻ con là thật hay không. Rồi anh Đồng cũng mò ra vị trí và cách chui qua tường rào, anh cho tôi chui theo và lang thang cùng chơi trên cánh đồng của người Choang, thích lắm. Tôi nghĩ hoá ra chẳng có gì đáng sợ trừ mấy cái ao sâu, mà anh ấy thì không để tôi xuống nước bao giờ. Mặc dù đôi khi bại lộ, anh em tôi cũng chỉ bị bảo vệ nhắc nhở riêng, không nêu tên, cho đến một lần nghịch dại thì bị cấm hẳn. Chúng tôi quả thật đã làm tàn lửa bén vào một đống rơm to. Các anh trong Khu học xá nhìn thấy khói bốc cao đã kịp thời khua kẻng báo động và túa ra dập tắt, nếu không có lẽ còn cháy mất thêm nhiều thứ.

Anh em tôi bị Ba phạt nặng và những lời bàn ra tán vào phải ít lâu sau mới lắng xuống, rồi cuộc sống lại mang đến những chuyện mới khác. Giờ mới thấy rằng cần phải dạy cho trẻ em sớm biết rõ về các mối nguy hiểm thực sự đang rình mò chúng và cách đối phó phù hợp phòng khi có chuyện. Những lời đồn thổi hoặc đe doạ chỉ làm tăng trí tò mò tưởng tượng và kích thích sự liều lĩnh non dại của tuổi thơ.

Tôi muốn nói thêm cách xử sự của người lớn sau khi có một chuyện không may xẩy ra đã ảnh hưởng đến nhận thức của trẻ. Trẻ em có thể chấp nhận rồi quên rất nhanh một hình thức kỷ luật nếu thấy là chính đáng và được thông báo đàng hoàng tới những bên liên quan; nhưng người lớn thì không bao giờ nên đụng chạm đến tên tuổi phụ huynh hoặc danh dự cá nhân của trẻ. Vụ việc trên kia cho đến nay đã không thể biến khỏi đầu tôi bởi vì nó bị cố ý đào bới lên; không biết từ đâu lại đã tung ra nửa câu lấp lửng “Nhất Đồng, nhì Công...” ám chỉ Ba là nhà giáo dục lý thuyết. Mợ cằn nhằn trong nhà, nhưng thái độ bình tĩnh của Ba khiến những xì xào phải lắng dần.

Mỗi lần nhớ lại, tôi vô cùng hối hận thấy mình đã bắt đầu làm khổ Ba Mợ từ bé tý. Sau này có dịp nghe bác Xiển gái và Mợ nhắc lại chuyện cũ mới biết tôi đã nghịch dại từ lúc ở Lạng Sơn. Lần đó tôi nhét một hột lạc vào mũi và bị ngạt thở. Mợ phải giữ chặt lấy tôi cho bác Xiển gái khéo léo dùng thủ thuật để lấy hột lạc ra. Anh Đồng cũng có những mẩu chuyện giật gân và tôi nghĩ nhiều người trong số chúng ta thủa nhỏ đã từng chơi dại.

7. LỚP MẪU GIÁO

Rồi tôi gặp may mắn vì một cánh cửa khác chợt mở: tôi đã được nhận vào một lớp mẫu giáo đầy tiếng cười vui vẻ, có lẽ thuộc loại tiên phong của nước Việt Nam mới. Bên cạnh sự săn sóc ở nhà của Ba và Mợ, từ nay lớp đã mang đến cho tôi thêm tình đồng đội và sức khoẻ thể chất.

JPEG - 44.5 kb
Các mẹ và các cô bảo mẫu. Tâm Hư 1952 (Tư liệu: H.Đ.Cường)

Sàn lớp có lát gạch men bóng loáng, rộng hơn nhà tôi nhiều, đồ chơi ít nhưng mới toanh, lại chỉ phải chia sẻ với khoảng hai chục nhóc con, phần lớn là gái. Mỗi đứa được phát một cái yếm thêu có túi và luôn luôn ăn no mặc ấm. Tôi bé nhất lớp, một số cô bảo mẫu lại chính là mẹ của mấy bạn, thành ra trừ những lần mắc lỗi bị phạt úp mặt vào tường thì tôi được chiều chuộng sung sướng lắm.

Bọn nhóc nhanh chóng thân nhau và đám bạn trai với những “hạt nhân” của vườn trẻ Tâm Hư như Hoàng Đình Cường, Võ Thạch Sơn, Nguyễn Lân Tráng... đã bắt đầu hình thành từ hồi đó. Không như lũ bạn gái ngoan ngoãn, nhóm chúng tôi buổi trưa hay vờ nhắm mắt ngủ, chỉ chờ các cô bảo mẫu đi ra là lại rì rầm nói chuyện riêng. Tôi không rõ ngày nay trong trường đào tạo các cô được dạy tâm lý học thế nào nhưng chắc chắn các cô bảo mẫu tự học của chúng tôi đã không thể ngờ bọn nhỏ lại sớm biết so sánh các quan sát của trẻ, dù còn lung tung.

Ngoài các buổi đến lớp, chúng tôi vẫn thường tìm nhau để tiếp tục chơi chung. Một tối, chơi xong cả bọn giải tán như bình thường, không ai để ý tôi đã chui rúc ngủ quên ở góc nào đó trong ngôi nhà rộng lớn của bạn Sơn, con chú Võ Thuần Nho, giám đốc Khu học xá. Thế là cả xóm tập thể náo loạn cùng Ba Mợ đi tìm hàng giờ mới ra...

Cho đến nay mấy đứa con trai cùng lớp mẫu giáo của chúng tôi vẫn giữ được mối quan hệ bè bạn, dù đã có biết bao biến cố xã hội trôi qua và xảy ra những sự xa cách do chuyển trường hoặc chiến tranh. Những năm tôi ốm nặng, con trai lớn phải chở tôi đến các cuộc gặp gỡ ngày Tết và cháu đã rất xúc động khi thấy các bậc cha chú cư xử thân mật với nhau như thế nào.

8. XÓM TRÍ THỨC

Từ khi đến Tâm Hư rồi sống hơn hai năm tiếp theo ở Khu học xá Nam Ninh, tôi lớn khá nhanh, đặc biệt về mặt tinh thần, trước hết nhờ vào một môi trường giáo dục rất thuận lợi mà sau này có dịp so sánh tôi mới nhận ra. Lúc đó hàng loạt thầy giáo danh tiếng đã cùng sang đây và mang theo nhiều kiến thức phong phú trong các lĩnh vực chuyên môn riêng. Tôi có thêm nhiều bạn mới và lại còn được hưởng sự chăm sóc của các bà các cô đến từ khắp ba miền trong nước.

Các thầy mà tôi nhớ khá rõ gồm có: Nguyễn Xiển, Nguỵ Như Kon Tum và Dương Trọng Bái dạy môn vật lý, Trần Văn Khang và Trần Văn Giáp dạy sử, Nguyễn Văn Chiển và Lê Bá Thảo dạy địa lý, Hoàng Ngọc Cang dạy hoá học, Lê Khả Kế và Đào Văn Tiến dạy sinh học, Trương Chính và Hoàng Như Mai dạy văn chương, Ngô Thúc Lanh và Lê Văn Thiêm dạy toán học, Nguyễn Lân dạy giáo dục học, v.v.. Còn có kỹ sư Đinh Văn Hớn, rồi các bác sĩ Hồ Đắc Di và Nguyễn Tấn Gy Trọng nữa... Nếu kể hết thì phải được đến mấy chục bậc thầy trong những lĩnh vực khác nhau, từ khoa học, văn chương, kỹ thuật đến y khoa, ngoại ngữ, thể dục, thể thao...

Hầu hết các thầy đã có con, nhưng cũng có những thầy chưa có con hoặc còn sống độc thân. Đặc điểm chung của các thầy là sự am hiểu chuyên môn và thái độ nghiêm túc trong việc truyền bá kiến thức của mình. Và học trò cứ kính trọng gọi họ là giáo sư như thời Pháp thuộc, mặc dù rằng về nước rồi mãi sau này cũng chỉ rất ít thầy được nhà nước chính thức phong học vị trên.

JPEG - 80.3 kb
Các GS Hoàng Ngọc Cang, Nguyễn Xiển, Hồ Đắc Di, Nguỵ Như Kon Tum và gia đình. Tâm Hư 2/1952 (Tư liệu: H.Đ.Cường)

Hoàng Đình Cường (áo sọc) chia sẻ ký ức của bạn ấy về 3 giáo sư sống dưới một mái nhà ở Tâm Hư. Gian bên phải dành riêng cho bác Xiển vì gia đình đông nhất. Gian bên trái ngăn tấm liếp chia đôi cho bác Cang ở ngoài, bác Kon Tum ở trong, đều có cửa thông ra gian giữa là phòng ăn và nơi họp chung 3 gia đình. Ba bà hàng ngày phụ trách bếp tập thể, có thêm u Lộc nhà bác Xiển phục vụ. Dịp Tết và Trung Thu đều có cỗ dù rất đơn sơ. Bếp núc do bà Xiển người Hà Nội cầm chịch và trực tiếp làm vì nấu rất tài. Bà Cang cũng biết sơ sơ thôi vì xuất thân quý phái từ Huế ít phải lao động. Còn bà Kon Tum càng ít phải đụng tay vì bị lao phổi.

Đối với riêng tôi thì ảnh hưởng của những phụ nữ lớn tuổi ở xóm này là cực kỳ quan trọng, vì kiến thức thực tiễn của họ dễ tiếp thu hơn nhiều so với các giáo sư. Đấy là những bà nội tướng nắm quyền chi tiêu và biết cách chăm sóc chồng con tốt nhất trong mọi hoàn cảnh. Hầu hết họ tỏ ra mẫu mực về lời ăn tiếng nói, không khoe khoang hợm hĩnh. Các bà thường nghiêm khắc với con mình hơn là đối với con nhà khác. Một số bà sinh ra trong các gia đình giàu có, hồi trẻ may mắn được học thêm kiến thức về y tế, bếp núc, dinh dưỡng, bây giờ có dịp chia sẻ lại với những chị em trong xóm.

Điển hình quý mến của tôi là bà Xiển. Phu nhân các vị giáo sư lớn tuổi thường được gọi theo tên chồng, đến khi bác mất tôi mới biết họ tên thật của bác là gì. Trong khi ở Khu học xá thì họ tên vợ chồng các cô chú mới cưới vẫn cứ độc lập như cũ. Như vậy có sự phân biệt trước-sau giữa hai thế hệ phụ nữ qua cách xưng hô. Lũ nhỏ chúng tôi còn quan sát và so sánh thêm một số trường hợp khác, càng làm nổi bật giá trị của những phụ nữ kín đáo ẩn mình. Hồi đó có khá nhiều vợ con của các cán bộ cao cấp trong nước cũng được gửi đến Khu học xá. Không biết do quen được phục vụ hay do xa chồng mà một số trong đó tỏ ra kênh kiệu khó gần, hoặc ngược lại có những cử chỉ nhõng nhẽo yếu đuối.

Mợ thường dắt tôi sang chơi nhà các bác gái cùng trang lứa với Mợ như bà Hớn, bà Phúc, bà Lân, bà Xiển, bà Nam [5], v.v.. Các bác luôn luôn coi tôi như con và dạy bảo cho rất nhiều điều hay lẽ phải. Sau này về nước, thỉnh thoảng có dịp tôi vẫn đến thăm cho đến khi các bác qua đời.

JPEG - 67.9 kb
Tranh cổ động: Bác Mao với thiếu niên TQ

Chính vì tôi còn nhỏ mà lại hiếu động khó có thể để ở một mình nên thường được dắt theo mỗi khi Ba đi tìm đồng nghiệp bàn việc. Thỉnh thoảng có những mẩu chuyện trao đổi giữa người lớn bỗng dưng thu hút sự chú ý và tôi nghe lỏm được không ít điều từ đó. Các giáo sư cũng khá cảnh giác và thường chuyển sang nói bằng tiếng Pháp những chuyện không cần cho trẻ con biết.

Lúc ấy chiến tranh đã diễn ra khá lâu và dần dần đang đi tới hồi kết thúc. Ngay từ đầu, lãnh đạo Khu học xá đã tổ chức những buổi báo cáo tình hình chiến sự và bình luận chính trị nóng bỏng. Tôi nghe lỏm người lớn tán dương những diễn giả nói sang sảng, rất đanh thép, lôi cuốn được giới thanh niên. Nhưng Quảng Tây nào có xa Hà Nội và Hồng Kông, các giáo sư cũng có vài nguồn tin khác để nghi ngờ rằng những thông tin tuyên truyền đôi khi đã cường điệu sự thực, thiếu bằng chứng khách quan hoặc tỏ ra một chiều, thậm chí có thể hoàn toàn sai.

Tại Khu học xá, ảnh hưởng hàng ngày của chính trị và văn hoá Trung Quốc tới một lớp các nhà khoa học và thầy giáo tương lai của Việt Nam hình như vừa là điều tốt vừa là mối lo đối với nhiều trí thức. Tôi còn bé không hiểu tại sao họ lo, nhưng tôi cũng biết ghét sự bắt chước quá mức những tác phong giả dối đến lố bịch. Thí dụ sự phân biệt thứ bậc vừa phiền toái vừa không chính xác: cấp trên nào đối với cấp dưới cũng là “thủ trưởng” hết, mà cần xưng danh với đầy đủ mọi tước hiệu dài dòng, dù phải lặp lại lặp lại nhiều lần; thái độ con người thay đổi theo vị thế tương quan giữa hai bên: quan chức thì hách dịch với thuộc cấp nhưng lại khúm núm sợ hãi nịnh bợ các bề trên. Nhiều người đi họp cũng cố cầm theo một quyển sách dày cho giống lãnh tụ Mao Trạch Đông trong tranh ảnh tuyên truyền...

Các giáo sinh cũng tự biết mình có thể phát biểu hăng hái khi sau lưng có đông bạn bè ủng hộ, nhưng nếu chỉ còn đơn độc để ứng phó trước một sự việc mới lạ thì lại thường tỏ ra rụt rè, thiếu tự tin. Ngay cả các giáo sư tuy rất khâm phục các thành tựu của Liên Xô, Trung Quốc được tuyên truyền rầm rộ, nhưng về nhà vẫn nghi ngờ hỏi lẫn nhau, có lẽ vì vốn quen vừa sống theo truyền thống cảnh giác của dân tộc ta, vừa suy nghĩ theo phương pháp khoa học thực nghiệm của phương Tây.

Mãi về sau tôi mới được biết những trí thức Tây học hồi đầu kháng chiến được Hồ chủ tịch kính trọng gọi là nhân sĩ, đến gần ngày chiến thắng họ bị nhiều cán bộ tổ chức coi là lớp người cũ, thậm chí chụp mũ “tiểu tư sản”, bắt về nước tham gia cải cách ruộng đất để “tiếp thu tư tưởng công nông tiên phong”. Không chỉ ở Khu học xá, khi trở lại Hà Nội họ càng phải sống kín đáo hơn, nhất là sau thời kỳ "Nhân văn giai phẩm" đầy xáo động và điên rồ.

JPEG - 20.4 kb
Tranh cổ động: Lãnh tụ Stalin với trẻ em Liên Xô

9 MÔ HÌNH KHU TẬP THỂ

Nhiều lần suy nghĩ, tôi vẫn không biết có phải mô hình khu tập thể đã xuất hiện ở Trung Quốc hay từ thành công của các chung cư hoành tráng theo khuôn mẫu Liên Xô, thường thấy qua những cuốn phim được chiếu phổ biến thời ấy. Nhưng chắc chắn kiểu tổ chức cuộc sống ở Khu học xá đã có ảnh hưởng rõ rệt tới nhiều người và trở thành quen thuộc đến mức như một mô hình hiển nhiên trong mắt họ. Rồi có thể giả thiết mô hình này đã từ chính Khu học xá nhanh chóng du nhập vào miền Bắc Việt Nam.

Sống ở Khu học xá, các gia đình không chỉ chia sẻ một số không gian chung như sân chơi, hành lang, lối đi, vườn hoa, nhà bếp, nhà vệ sinh, hố rác... mà còn rất dễ đi đến chia sẻ cả một số thông tin riêng, bởi vì thế nào là bảo vệ sự riêng tư thì chưa bao giờ có đủ các quy định chi tiết, cụ thể, tỏ tường. Nhiều lãnh đạo có lẽ chỉ quan tâm đến các mục tiêu chính trị mà quên mất sự hài lòng và tự do của các cá nhân. Bên cạnh một số mặt tốt như gia tăng tính cộng đồng giao lưu cởi mở, phổ biến kiến thức vệ sinh, phát huy sức mạnh tập thể, v.v. lối sống tập thể mang lại không ít phiền toái, bất tiện, trong đó một thiểu số những người chín chắn lại thường bị đa số quần chúng hấp tấp áp đảo. Đã có những đám cưới đông nghịt khách không mời và sự kiện những đứa hài nhi ra đời thì một giáo sinh chẳng hề liên quan cũng có thể kể lại vanh vách, cứ như là hàng xóm.

Từng sống hầu như liên tục trong các năm sau đó tại khu tập thể trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tôi thấy mô hình nói trên được áp dụng triệt để ở ngay thủ đô. Một thực tế không hay của nó là lối sống luộm thuộm tuỳ tiện của những vùng dân cư thưa thớt đã thâm nhập vào nơi đô thị đông đúc. Đâu đâu cũng có thể họp chợ cóc. Từ người lớn đến trẻ em, tất cả đều bị một hệ thống loa phóng thanh dựng cổ dậy sớm, kể cả vào ngày duy nhất được nghỉ hồi ấy là chủ nhật.

Rồi sau đó phải chứng kiến và trải nghiệm sự xuống cấp thê thảm của khu tập thể Kim Liên ở nơi quê nhà, suốt nửa thế kỷ từ trước khi Mỹ ném bom cho đến hôm nay, tôi thấy rõ càng ngày mặt xấu càng lấn át mặt tốt trong mô hình này. Không thể nào quay lại thời đại Khu học xá được nữa, bởi vì bây giờ những thông lệ văn hoá cộng đồng đáng tôn trọng đã bị số đông lờ đi, dẫm đạp lên, những con người gia giáo đã hầu như tuyệt chủng. Một hậu quả của lối sống bon chen ích kỷ là nạn ách tắc giao thông thường xuyên và sự ô nhiễm khủng khiếp đã giết chết mọi con sông thơ mộng từng có ở Hà Nội.

10. NHỮNG NGUỒN TIN KHÁC

Trừ giờ học và giờ nghỉ, mỗi ngày vào đầu ba buổi sáng, trưa, chiều, cả một hệ thống loa phóng thanh ở Khu học xá nhắc đi nhắc lại các bản tin thời sự và bình luận sôi nổi, xen lẫn ca nhạc vui vẻ. Nhiều lần anh em chúng tôi suýt bị bẹp ruột khi cố chen lấn tìm chỗ tốt để xem các bộ phim truyện và phim tài liệu, thứ hấp dẫn bọn con trai giống như trò chơi điện tử bây giờ. Ngoài ra còn có tranh vẽ, ảnh in khổ to và băng-rôn treo khắp nơi.

Bên cạnh các bộ tranh truyện đã nói, tất cả những phương tiện nghe-nhìn hiện đại này đã nhét biết bao thứ hổ lốn Đông Tây vào đầu chúng tôi. Quả thật lần đầu tiên tôi học khái niệm và biết phân biệt hai phe “địch ta” chủ yếu thông qua phim ảnh, một phương pháp tuyên truyền đạt hiệu quả rất nhanh. Nhờ các giáo sinh công kênh trên vai tôi đã biết cái cảm giác vừa háo hức chờ máy bay “địch” rụng như sung, vừa sợ run lên khi bom nổ hoặc hoả tiễn Cachiusa của “ta” gầm thét toé lửa phóng vun vút trong bóng tối.

JPEG - 76.4 kb
Các GS Nguyễn Hồng Phong, Hoàng Như Mai, Trần Văn Khang, Nguyễn Hữu Tảo, Lê Bá Thảo và nữ sinh lớp KHXH. Nam Ninh 1954

Các nam nữ giáo sinh dù vô tình hay hữu ý, đã mang không ít thông tin mới lạ đến với tôi. Đó là những khi có dịp nghe họ kể chuyện say sưa hoặc trả lời các câu hỏi của chúng tôi, nghe họ tranh luận sôi nổi với nhau sau các sự kiện chính trị, thể thao và liên hoan văn nghệ hoặc chỉ đơn giản do họ bỗng dưng chạnh nhớ tới gia đình, quê hương, tổ quốc.

Ba dạy chúng tôi phải kính trọng các giáo sinh vì hơn nửa chữ cũng là thầy. Ba nhắc nhở rằng nhiều người trong số đó lớn hơn 18 tuổi, thậm chí có cả những người đã từng đỗ tú tài hoặc dạy tiểu học trước khi phải bỏ dở vì Pháp đem quân đánh chiếm lại các thành phố Việt Nam. Về sau, một số giáo sinh của Khu học xá đã được chọn đi học đại học hoặc trên đại học ở Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Nhiều người bây giờ nổi tiếng đã từng trải qua cái lò luyện xuất sắc đó ở Nam Ninh.

Ngày ấy ở Khu học xá lại còn có không ít nghệ sĩ tài ba trong số những con người mà chúng tôi được tiếp xúc và truyền cho tình yêu cái đẹp. Các giáo sinh có thể học đàn hát, ít ra cũng biết nhảy một điệu “giao tế vũ” phương Tây như valse. Lớp tôi từng có lần chuẩn bị biểu diễn hoạt cảnh "Nhổ củ cải" trên sân khấu Đại lễ đường, tôi cùng mấy bạn đóng vai Thỏ, Mèo, Dê, Lợn, Chó, Vịt, Gà, mà thầy dạy hát chính là chú Phạm Tuyên, và chỉ huy dàn nhạc là chú Nguyễn Hữu Hiếu (người sau đó vài năm sẽ trở thành nhạc trưởng Đài Tiếng nói Việt Nam), v.v..

Với đống kiến thức tưởng chừng dễ tiêu hoá sau khi “trộn” hoặc “tách” qua quýt từ những nguồn tin nói trên, đôi lúc tôi nổi hứng tỏ ra hiểu biết và bị Ba Mợ nghiêm khắc chỉnh liền, tuy nặng nhất cũng chỉ bị gọi là “ông cụ non”. Ba riễu cợt tính ba hoa "cao đàm khoát luận", nhưng Ba không hề ngăn tôi tò mò đặt những câu hỏi mà bản thân Ba thường cố gắng trả lời sao cho dễ hiểu nhất.

Nhìn lại có thể nói bạn bè của tôi cùng các anh chị ở Khu học xá đã được đào tạo trong hoàn cảnh đặc biệt như thế, và phần lớn trong đó sau này trở thành những nhà khoa học hoặc thầy giáo giỏi.

(còn nữa)

CHÚ THÍCH

[4] Người cao lớn nhất trong ảnh các cô bảo mẫu. Vợ goá của thứ trưởng Nội vụ Hoàng Hữu Nam (tức nhà cách mạng Phan Bôi, 1911-1947).


Xem online : HAI TIẾNG THÂN YÊU (Kỳ III)