Trang nhà > Nhân văn > Hồi tưởng > HAI TIẾNG THÂN YÊU (Kỳ VII)

HAI TIẾNG THÂN YÊU (Kỳ VII)

Thứ Tư 11, Tháng Chín 2013

27. CHIẾN TRANH LEO THANG

Khi Ba về hưu, ngôi nhà ở Trại Cam Đường cứ vắng dần. Trước đó, lần lượt anh Đạm rồi anh Khoát đã lấy vợ rồi có con nhưng vẫn phải công tác xa nhà. Anh Bằng, anh Đồng đều đã đi bộ đội và anh Bật về Thái Bình dạy học; ở quê nhà chỉ còn tôi với Ba và Mợ. Gần đấy có anh Hoành sống ở Khu tập thể Kim Liên và thường xuyên rẽ về thăm nhà.

JPEG - 65.4 kb
Ba Mợ và hai con Đồng, Hoành. Hà Nội 1964

Mùa thu 1964 tôi chuyển về học trường cấp 3 Trưng Vương. Năm sau tôi mắc bệnh hiểm nghèo, sức khoẻ suy sụp và phải nghỉ học rất lâu. Nhờ có thành tích học tốt và được các thầy cô ủng hộ nên tôi không bị lưu ban như thủ tục quy định. Chính nhờ nghỉ ốm nên tôi được Ba Mợ dồn tiền bồi bổ và có dịp quan sát song thân kỹ hơn. Lúc này Ba đã tóc bạc da mồi và bắt đầu viết hồi ký về cuộc đời của Ông Bà, bản thân và các cô chú. Tôi là người đầu tiên được đọc. Cuốn hồi ký súc tích nhưng thể hiện tình cảm sâu đậm và sự kính yêu chân thực những người thân của Ba, nay đã được in ra sách nên không cần nhắc lại chi tiết ở đây. Chỉ nói vắn tắt rằng nhờ đó mà mọi người hiểu rõ được những nét riêng nổi bật của các bậc tiền nhân Đông Tác.

JPEG - 64 kb
Bút tích GS N.H.Tảo, tr 20 bản thảo hồi ký viết năm 1965

Dần dần cuộc chiến ở miền Nam càng diễn ra ác liệt hơn, quân Mỹ đổ vào mỗi ngày một đông và cho máy bay do thám liên tục trên bầu trời miền Bắc. Năm 1965 anh Bật xin đi chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ. Cũng may Ba Mợ không đến nỗi quá buồn vì thỉnh thoảng có các cháu nhỏ được gửi về quê. Ba Mợ rất chiều bọn trẻ con và chúng cũng rất thích được sống với Ông Bà trong một môi trường nông thôn tươi đẹp, lại ở ngay sát đô thành, muốn lên phố đi ăn kem hay xem phim thì đã có tôi chở đi.

JPEG - 30 kb
Chí sĩ yêu nước Nguyễn Hữu Cầu, Trưởng ban Tu thư, đồng sáng lập Đông kinh nghĩa thục

Về hưu, Ba vẫn giữ nguyên tác phong sống giản dị và làm việc chăm chỉ. Đọc sách khoảng một tiếng đồng hồ Ba lại bỏ kính xuống và ra vườn nhổ cỏ, bắt sâu, tưới cây. Ba tìm mua sách dưỡng sinh, sách cờ tướng ở hiệu sách Ngoại văn và thường xuyên tập Thái cực quyền, cao hứng lên còn đánh cờ với tôi.

Ba nói chuyện cũ nhiều hơn, có ý dặn dò, nhưng tôi lúc ấy còn trẻ con nên không nhận ra những dấu hiệu của người già. Ba ăn ít hơn trước, không đi chơi xa. Ba dành một khoản tiền lớn để mua cái rađiô điện tử nhãn hiệu Shanghai, buổi tối ngồi dò tìm sóng bắt các đài Hà Nội, Giải Phóng, Bắc Kinh, Moskva và cả đài Sài Gòn, Tiếng nói Hoa Kỳ, BBC...

JPEG - 17.2 kb
Cư sĩ Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha (1902-1953), tác giả gần 100 đầu sách

Ngoài một số đồng nghiệp và học trò cũ của Ba, đôi khi các GS bị về hưu non như Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh ở gần có quá bộ tới thăm, Ba cảm động lắm. Những người bạn từ thủa bé như bác Khoá Niệm, bác Cả Đắc và bác Cả Thăng v.v. vào dịp giỗ Tết cũng đến gặp gỡ và nói chuyện vui vẻ rất lâu với Ba.

Rồi chiến tranh đã lan ra miền Bắc, Mỹ ném bom leo thang dần dần, Ba và tôi hì hục đào hầm trú ẩn trong vườn. Cuối cùng máy bay Mỹ cũng lao đến và bắt đầu thật sự đe doạ nhân dân thủ đô Hà Nội. Trước hết, kho xăng Đức Giang bị đánh phá ác liệt, cột khói đen khổng lồ bốc lên cao ngất, mãi mới dập được. Khi anh Hanh tặng cuốn sổ lịch 1966, Ba đề là "Nhật ký chống Mỹ cứu nước”, có chép vào đấy cả những tin tức đài đưa như số máy bay Mỹ bị lực lượng Phòng không - Không quân Việt Nam bắn rơi.

JPEG - 50 kb
Hai thầy H.N.Phách, N.H.Tảo và các trò cũ Hải Phòng. Ảnh 1964

Khi thành phố Hà Nội yêu cầu người già, trẻ em phải đi sơ tán, Ba theo cơ quan của chị Ân đến Canh Nậu (Thạch Thất, Sơn Tây), còn Mợ thì đi Hà Bắc với cơ quan của chị Diễm. Tôi một mình ở lại trông nhà và chuyển sang học tại một phân hiệu thuộc trường cấp 3 Đống Đa, phân hiệu này không đi sơ tán xa mà chỉ ở ngay làng Mọc gần Ngã Tư Sở nên rất tiện cho việc điều trị bệnh của tôi. Gia đình tôi trên thực tế đã ly tán, mỗi người một phương.

Hè năm 1966 tôi tốt nghiệp phổ thông hạng xuất sắc nhưng chưa biết là được chọn làm du học sinh vì đang đi Bắc Giang khoảng một tuần lễ để thay Mợ an ủi chị Nhung vừa bị mất cháu nhỏ. Thông báo đến tay tôi vào sát ngày lên tàu, thành ra trước khi đi tôi chỉ gặp được Mợ, còn thì không kịp lên gặp Ba ở nơi sơ tán. Tôi đã phải ân hận suốt đời . Có ai ngờ mấy tháng sau, chưa kịp viết thư trả lời tôi, Ba đã ra đi mãi mãi vì xuất huyết não đột ngột.

JPEG - 60.9 kb
GS Nguyễn Khánh Toàn trước linh cữu GS N.H.Tảo. HN 9/1966

Nhận tin dữ chậm trễ, tôi bỗng nghẹn ngào rồi trào nước mắt không thể nào nén được trước bạn bè trong ký túc xá. Lần đầu tiên trong đời tôi khóc to và lâu đến như thế. Tôi vô cùng đau xót và ân hận về việc mình đã quá vô tâm không nghĩ được từ trước rằng điều này tất yếu sẽ xảy ra với mọi người già để mà săn sóc Ba tốt hơn, nhưng bây giờ thì đã quá muộn.

Điều cuối cùng tôi còn có thể làm theo mong ước của Ba, đó là lựa chọn một chuyên ngành khoa học kỹ thuật ở trường Đại học Bách khoa Séc. Và tôi đã hoàn thành mong ước ấy bằng cách tốt nghiệp rồi trở thành một chuyên gia về công nghệ thông tin có cống hiến cho đất nước. Giá mà Ba sống lâu hơn để được xem những thành tựu của ngành đó đã được ứng dụng rất sớm ở Việt Nam.

... (Bỏ bớt một kỳ)...

28. NHỮNG TÍNH CÁCH LỚN CỦA MỢ

Gần cuối chiến tranh, sau 7 năm du học, tôi lại được về sống cùng Mợ ở xóm Trại. Không ngờ khi gặp nhau, Mợ bảo: sao con không ở lại nước ngoài mà đâm đầu vào cuộc sống cơ cực như thế này ở Việt Nam. Lúc ấy anh Khoát và anh Hoành đã lần lượt cùng gia đình về sống trong hai căn nhà nhỏ xây trên nền cũ ở ngay bên cạnh nhà trên. Tôi nhận ra từ khi phải sống một mình không có Ba và trải qua gian khổ trong chiến tranh với nền kinh tế sa sút, Mợ đã bị các bệnh đau dạ dày và cao huyết áp hành hạ nặng hơn, không kể di chứng sa dạ con vì từng sinh đẻ quá nhiều. Rút kinh nghiệm từ việc Ba mất, tôi có mang mấy hộp Thập toàn đại bổ từ Trung Quốc về biếu, nhưng Mợ nhanh chóng phải ngừng sử dụng thuốc do huyết áp tăng lên.

JPEG - 29.6 kb
Bà giáo Tảo với 2 con gái và 5 con dâu. Xóm Trại 1978

Sau chiến tranh, Mợ càng già đi nhanh hơn, tóc bạc, thân hình gầy yếu dần. Nhưng Mợ vẫn lo lắng cho đàn cháu nay đã đông hơn 20 đứa. Cuối đời Mợ, không chỉ các cháu ở gần như Thu, Đạt, Hải, Tùng, Sơn, Minh, Hương... được Bà thường xuyên thăm nom mà Quỳnh Anh, Hải Yến, Đức... cũng đã từng được gửi từ xa về cho Bà chăm sóc mấy tháng liền. Điều đặc biệt là người bà sinh ra và lớn lên trong chế độ phong kiến ấy lại không hề phân biệt gái hay trai, nội hay ngoại, trưởng hay thứ.

Ngoài ra, Mợ vẫn đại diện cho gia đình giữ vững quan hệ với các bên nội ngoại và thông gia. Thường xuyên chở Mợ đi thăm họ hàng, tôi thấy Mợ không quên tên một ai từ lớn đến nhỏ. Các ngày giỗ chạp Mợ nhớ như một cuốn lịch sống, mọi vụ hiếu hỷ đều có chuẩn bị đóng góp đầy đủ. Than ôi, với gánh nặng gia đình đè lên đôi vai bé gầy, cuối đời Mợ đã bán hết những gì có thể bán, trừ chiếc nhẫn và dây chuyền để lại cho các con gái.

JPEG - 34.7 kb
Mộ ông ngoại ở Khắc Niệm, Bắc Ninh 2012

Suốt từ khi tôi về cho đến khi Mợ mất thường chỉ có hai mẹ con ăn cơm với nhau, thành ra tôi được nghe thêm bao nhiêu chuyện. Mợ kể hồi nhỏ từng phải nấu nước vối phục vụ cánh con trai được học lớp tại gia. Ngồi dưới bếp nghe lỏm, nhiều khi Mợ bật cười vì tự trả lời được cả những câu thầy giáo hỏi mà các anh kia phải im thin thít. Tuổi thơ của Mợ bị đảo lộn bởi cái chết bất ngờ của Ông ngoại khi Mợ còn trong bụng Bà ngoại và Mợ bắt buộc phải trưởng thành nhanh chóng. Được gả chồng rất sớm theo kiểu đính ước giữa hai gia tộc lâu đời, Mợ theo Ba về những thành phố xa lạ và nhanh chóng hoà nhập đời sống văn minh song không quên những tiếng ru từ đồng quê. Các anh chị và tôi không phải ngẫu nhiên mà bên cạnh văn học, nghệ thuật nước ngoài đều rất yêu thích văn hoá dân tộc.

Tôi được biết Mợ là cháu nội của cụ Phó bảng làng Ném (Khắc Niệm) Dương Danh Lập, một nhà nho lừng danh xứ Kinh Bắc, có lẽ vì thế Mợ có lòng tự trọng rất cao, suốt đời không muốn nhờ vả, dựa dẫm ai. Thời ấy dân nước ta còn quá trọng nam khinh nữ nên Mợ không được đi học, dù khá thông minh và đặc biệt có trí nhớ rất minh mẫn. Mỗi khi nghe tôi kể một chuyện cũ không chính xác, Mợ lại sửa cho, nhờ thế mà tôi biết thêm nhiều chi tiết khác sách vở. Phải nói rằng chính Mợ, chứ không phải Ba, đã dạy trực tiếp cho tôi rất nhiều kỹ năng sống thực tiễn. Mợ tiết kiệm suốt đời, dù đã từng trải qua một thời sung túc ở Hải Phòng. Mợ dạy tôi không nên để rơi cơm xuống đất, mỗi hạt cơm là một hạt mồ hôi của người trồng lúa; ai ai cũng phải biết "xót của giời”, tránh xa hoa và lãng phí.

Mợ là một trong các điển hình của mẫu người mẹ Việt có lẽ khó thấy ở thời nay nhưng xưa kia không hiếm, chính tôi đã gặp hàng trăm phụ nữ như thế và từng cố gắng hỏi chuyện để tìm hiểu. Bên ngoài họ khác nhau, có người theo đạo Phật, đạo Thiên Chúa, hoặc không. Dù lấy chồng lập nghiệp ở các thành phố to nhỏ rất khác nhau như Hà Nội, Nam Định, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ, Paris v.v. nhưng đặc điểm chung là họ được dạy dỗ nữ công gia chánh từ sớm và khi cần có thể sẵn sàng hy sinh quyền lợi riêng để phục vụ chồng con bền lâu.

JPEG - 59.9 kb
Bà giáo Tảo và con cháu ở xóm Trại. Trung Tự 1981

Cũng giống nhiều bà mẹ Việt thời ấy ở tính tình thật thà và hiền lành, Mợ tin tưởng sâu sắc vào thuyết nhân quả của Phật giáo và truyền thống gia tộc; nhưng có một điều lạ là Mợ không mê tín như các bà các cô bây giờ. Có đến 9 đứa con sinh nở trước tuổi 40, Mợ đều nghĩ là nhờ phúc ấm của Ba và do Mợ sống thiện tâm chứ không cho rằng chỉ vì đã hành hương vãn cảnh ở những nơi nổi tiếng linh thiêng như chùa Hương Sơn, núi Yên Tử, đền Thấnh Tản Viên, đền Thánh Trần, v.v..

Trong nhà ngoài bàn thờ gia tiên đơn giản với bát nhang, chén rượu và bình hoa, chưa bao giờ tôi thấy Mợ thờ thần thánh, thổ công hoặc ma quỷ. Mợ lên chùa dâng hương nhưng ở nhà không treo tranh Phật. Mợ cũng không hề đốt vàng mã, dán bùa hoặc mời thày cúng.

Thật lạ lùng và xúc động được thấy Mợ cũng từng mua chim, mua cá để phóng sinh vào dịp lễ và mỗi khi phải cắt tiết gà, vịt Mợ đều nói khẽ: đời là bể khổ luân hồi, đừng oán trách ta nhé, ta hoá kiếp cho mi đây...

JPEG - 38.3 kb
Bức ảnh cuối cùng tác giả được chụp với Mẹ. Trung Tự 1/1982

Nhà đông con đến 10 người, thế mà Mợ đã nuôi dạy tất cả đều mạnh khoẻ, được ăn học đàng hoàng từ đại học trở lên. Tôi là út nên Mợ quý lắm, thường vẫn gọi đùa là "cậu Hoàng Mười". Hễ có dịp, Mợ cứ lấy cớ tôi bị bệnh gan để nhường cho thịt cá. Không những tự tay vun vén vườn tược, chợ búa, nấu nướng bồi bổ tôi, nhiều khi Mợ còn giặt giũ cho tôi trong suốt mười năm (1973-1982) của thời kỳ kinh tế cực khó khăn ở miền Bắc. Hồi đó Xóm Trại ở kề sát bệnh viện Bạch Mai mà điện thì phập phù, thậm chí còn chưa có ống dẫn nước máy. Mỗi lần nhớ tới cảnh Mợ ra vòi nước công cộng nhà C8 giặt giũ xong lại cố gánh hai nửa thùng nước về, tôi không khỏi ứa nước mắt thương xót. Mợ ơi, sao mà Mợ phải khổ thế !...

Sau khi nước nhà thống nhất Mợ còn cố gắng bế cháu Hà con cô Thư bay vào Sài Gòn, nhân tiện tìm thăm số họ hàng ít ỏi sống trong Nam đã cách biệt nhau hơn ba mươi năm. Cảm động nhất là Mợ gặp lại được bác Lãng, người anh ruột lúc này đã quá già và phải vào sống trong một thánh đường. Hai anh em sau đó thường xuyên viết thư cho nhau, tôi tinh mắt được phép đọc cho Mợ nghe, cho nên biết họ vẫn thân thiết như thời thanh niên, nhiều câu văn chan chứa tình cảm đến ngạc nhiên.

Đối với mọi người, Mợ luôn luôn tôn trọng, cư xử theo truyền thống dân tộc mà cũng không câu nệ vào những lề thói phong kiến cổ hủ. Mợ đã từng khóc nhưng không cấm đoán khi một con dâu phải nạo thai. Mợ thương các cháu đến mức sẵn lòng bỏ qua những lỗi lầm của cha mẹ chúng. Ngày nay nhìn lại tôi càng kính phục Mợ vì hầu hết các cháu được Bà nuôi dạy đều học giỏi, ngoan ngoãn và lớn lên thành những người có ích cho xã hội.

Đặc biệt Mợ rất thân mật và bình đẳng với bạn bè và các thông gia. Mẹ tâm sự và nằm chung giường không phân biệt người thành thị như mẹ chị Diễm, chị Nhung, chị Giang với người nông thôn như mẹ anh Hanh, chị Liệu, chị Thanh, chị Lữ. Mợ giữ đúng phẩm chất phụ nữ ngày xưa mà vẫn tiếp thu được nhiều phong thái phụ nữ thời mới như thường xuyên đọc báo, nghe đài, xem truyền hình... Mợ sống rất sạch sẽ, ngăn nắp, luôn nhắc nhở con cháu giữ vệ sinh cá nhân và công cộng.

JPEG - 30.7 kb
Bà giáo Tảo, bà Xiển và bà mẹ cô dâu trưởng. HN 1958

Nghĩ kỹ, tôi mới thấy hết được tầm quan trọng của những tri thức ít có trong sách vở và vai trò chủ chốt trong giáo dục và cuộc sống gia đình của phụ nữ Việt Nam. Tôi cho rằng sức mạnh Việt có nguồn gốc ở các bà, các mẹ, các chị của chúng ta với đức tính bền bỉ hy sinh và sự thông minh ứng xử, thích nghi nhanh nhạy nếu gặp phải hoàn cảnh liên tục biến đổi.

Hình như chưa có một nhà nghiên cứu nào tìm hiểu kỹ càng điều này. Giới học giả nước ta thường là đàn ông và họ quên rằng các thành công có nguồn gốc tất yếu của nền giáo dục và hậu cần, trong đó phụ nữ đảm nhận phần lớn trong số hàng núi những việc không tên. Tôi có đọc ở đâu đó trong sách khoa học rằng đứa con ra đời thừa hưởng đến 80% trí tuệ từ người mẹ.

29. KỶ NIỆM CUỐI CÙNG VỀ MỢ

Những năm cuối đời, Mợ có thêm ba con dâu, nhưng vẫn chỉ ở với tôi, trừ khi có cháu mới sinh hoặc đau ốm cần Bà đến giúp. Đã ngoài 70 tuổi lại rất yếu, Mợ bắt đầu giục tôi lấy vợ, tuy nhiên lại có vẻ muốn lựa chọn con dâu cẩn thận hơn trước kia. Lần lượt cũng có vài ba cô gái đến thăm Mợ ; sau khi trò chuyện, Mợ đã chỉ ra cho tôi một số nhận xét cơ bản quả là đúng. Kể cả khi Mợ thích mà tôi lại không ưng thì Mợ cũng không giận tôi. Vợ tương lai của tôi chính là cô gái cuối cùng được Mợ xem mặt và Mợ không có ý kiến gì. Thật tiếc rằng cô ấy và cả hai con của chúng tôi sau này đã không thể được Bà dạy dỗ, bảo ban, vì đã quá muộn.

JPEG - 26.3 kb
Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Xiển bên linh cữu bà giáo Tảo. HN 1982

Giữa năm 1982, tôi từ biệt Mợ đi công tác 6 tháng ở Cộng hoà Pháp. Cuối mùa thu ấy, tin dữ về Mợ mới tới tôi, thư từ Hà Nội sang Paris quá chậm. Đau xé lòng, những giọt nước mắt hối hận của tôi thật muộn màng và vô nghĩa. Cũng như Ba, Mợ đã ra đi mãi mãi với các căn bệnh mà ngày nay y học hiện đại hoàn toàn có thể chữa khỏi. Lại một lần nữa tôi không được săn sóc và chứng kiến những phút cuối cùng của bậc sinh thành và nuôi dưỡng mình nên người.

Ít lâu sau, một buổi tối tôi đến thăm bác Xiển, đúng lúc hai bác đang chơi tổ tôm với con gái là chị Châu và anh Tài trong căn phòng khách thoáng mát [9]. Hai mẹ con ra tiếp riêng tôi và có nhắc đến Mợ, tôi buột mồm: Bác sướng thật, chả bù cho mẹ cháu bận bịu cả đời. Bác gái dịu dàng khẽ bảo: Mẹ cháu mới thật là người có phúc, cả nhà không ai đánh bạc, ly hôn... Tôi không nghĩ gì, chỉ cho là một lời an ủi, mặc dù chị Châu mỉm cười và bấm tay tôi. Đầu năm 1998, suy nghĩ lan man về các số phận con người trên đường đưa linh cữu bác gái về an táng ở quê bên cạnh tổ tiên, tôi mới hiểu ra những lời của người già thường đúc kết từ cả một đời. Tôi chợt nhớ đến một người phụ nữ rất đáng kính khác là bác Hai Hợp chị họ của Ba cũng từng nói: Mẹ cháu phúc dày lắm đấy, con cháu đầy đàn đủ cả nếp tẻ, tu nhân tích đức mấy đời mới được thế.

JPEG - 42.5 kb
Hội thảo Nhớ về nhà giáo dục N.H.Tảo. HN 1995

Hôm nay viết đến đây, tôi đang chờ ngày được gặp lại Ba Mợ ở thế giới bên kia. Tôi nghĩ rằng con cháu đọc những dòng hồi ký ở trên sẽ hiểu ra một điều mãi mãi đúng: cha mẹ bao giờ cũng yêu con cái hơn là ngược lại, do đó cần biết trân trọng, khéo léo săn sóc để kéo dài từng ngày từng phút được sống bên cha mẹ, hưởng lấy phúc lộc và những tri thức truyền từ đời này sang đời khác.

Đừng để hối hận vì sống đến già mới thấm được chân lý đơn giản đó. □

Hà Nội năm Quý Tỵ 2013
Con út là Nguyễn Chí Công kính ghi

CHÚ THÍCH

[9] Lúc đó chị Hoài Châu ly dị đã vài năm. Anh Nguyễn Công Tài, Tổng cục trưởng Hải quan là một người quen cũ của gia đình bác Xiển.