Xem lẹ

Trang nhà > Văn chương > Cổ học > HẠNG VŨ QUA THƠ MỘT SỐ THI SĨ VIỆT NAM (2)

HẠNG VŨ QUA THƠ MỘT SỐ THI SĨ VIỆT NAM (2)

(PHẠM HUY THÔNG)

Thứ Sáu 8, Tháng Tư 2016

III. PHẠM HUY THÔNG VÀ TIẾNG ĐỊCH SÔNG Ô

Nói đến Hạng Vũ chúng ta không quên nhà thơ, tiến sĩ Phạm Huy Thông (1916—1988), hiệu trưởng Đại học Sư phạm Hà Nội (1956—1966), viện trường Viện Khảo cổ học (1967—1988), một nhà khoa học đã đặt nền tảng cho ngành giáo dục và khảo cổ học Việt Nam, tác giả nhiều công trình giá trị về thời đại Hùng Vương, Trống Đồng.

Dòng dõi Phạm Ngũ Lão thế hệ thứ 14, sinh trong một gia đình giàu có Hà Nội, thân phụ là ông Phạm Chấn Hưng, chủ hiệu vàng Chấn Hưng phố Hàng Bạc, chủ trương báo Nông Công Thương, Chủ tịch Khu Đông Kinh Nghĩa Thục, Chủ tịch Tuần Lễ Vàng năm 1945... Ông học Trung học Albert Sarrault Hà Nội. Đỗ cử nhân Luật viện Đại học Đông Dương năm 21 tuổi, ông du học tại Pháp năm 1937. Đỗ tiến sĩ Luật và thạc sĩ Sử học tại Pháp năm 26 tuổi, ông được phong chức giáo sư tại Pháp năm 31 tuổi, từng giữ chức Ủy viên Hội đồng Giáo dục Tối cao Pháp. Tham gia và lãnh đạo Phong trào Việt kiều tại Pháp, năm 1946 ông được mời làm thư ký riêng cho phái đoàn Việt Nam tại Hội nghị Fontainebleau. Năm 1952 ông bị trục xuất về Sài Gòn, bị giam lỏng trong một căn nhà đường Paul Blanchy (Hai Bà Trưng). Sau đó nhờ các báo đăng bài phản đối, ông được thả ra. Năm 1954 Phạm Huy Thông tham gia Phong trào Hòa bình tại Sài Gòn, ông bị chính phủ Ngô Đình Diệm bắt giam, rồi sau đó đưa về Bắc giam lỏng tại Hải Phòng đến năm 1955 mới được thả ra trao trả cho chính phủ Việt Minh. Ông được cử làm hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội, viện trường Viện Khảo cổ học, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội và Nhân văn. Đại biểu Quốc hội Khóa II, III. Năm 1987 được bầu làm Viện sĩ nước ngoài Viện Hàn lâm CHDC Đức.

Từ năm 16 đến 20 tuổi ông đã là một nhà thơ tài hoa, mở đầu phong trào Thơ Mới, ông xuất bản những trường ca tuyệt tác: ông viết Tiếng Địch sông Ô, năm 1935, Yêu Đương (1933) Anh Nga (1934) Tần Ngọc (1937) Tây Thi (1937) Người dong xe (1937) Thơ phóng túng (1938). Ngoài ra còn có những tác phẩm đăng trên các báo: Con voi già (tặng cụ Phan Sào Nam) Tần Hồng Châu (Hà Nội Báo), Hận chiến sĩ, Huyền Trân Công Chúa, Lòng hối hận (Hà Nội báo), Chàng Lưu, Kinh Kha (Hà Nội báo) Những người điên, Sát Đát. Ông cộng tác với nhiều tờ báo thời ấy như: Hà Nội Báo, Ngày Nay, Tiểu Thuyết thứ Bảy, Phổ Thông bán nguyệt san, Ngọ Báo, Trung Bắc chủ nhật...

Tôi có dịp gặp ông nhiều lần tại Paris, và ông có viết thư cho tôi. Tôi xúc động mỗi lần mở bức thư cũ tác giả Tiếng địch sông Ô, viết cho tôi:
“Hà Nội 23—4—1976
Anh Chánh thân mến,
Do đâu tôi chưa rõ, nhưng đến hôm nay mới đến tay tôi, gói sách báo và bức thư của anh đề ngày 5—1 ở Paris.
Tôi rất cảm động được xem những sáng tác chân thành và sâu sắc của lớp bạn trẻ ta ở Pháp và ở nước ngoài hiện nay. u cũng là một nguồn tự hào chính đáng nữa của dân tộc, bên cạnh biết bao nguồn tự hào khác của thế hệ ngày nay.
Và riêng cảm động được đọc bức thư chân thành của anh. Cám ơn anh như đã cho tôi như sống lại những ngày ở Paris và cả những ngày ở Sài Gòn hơn 20 năm trước... Đáng lẽ phải viết dài hơn. Nhưng công việc trước mắt quá bề bộn. Song xin thảo vội mấy dòng này ngay, không muốn để anh khỏi ngạc nhiên, thấy lâu không có hồi âm. Mục đích trước mắt của thư này, xin hãy là thế đã.
Tuy nhiên dù vội vã mấy, xin gửi anh lới chào nồng hậu nhất. Và mong được đọc thơ anh nhiều hơn nữa. Chúc anh sức khỏe và hạnh phúc.
Thân mến
Phạm Huy Thông
8 Hồ Xuân Hương, Hà Nội.

Tôi vẫn giữ những kỷ niệm đẹp về ông. Một trí thức uyên bác tài hoa trên nhiều lãnh vực từ thi ca, luật học, sử học, khảo cố học. Tôi có dịp gặp nhiều người quen biết ông lúc còn trai trẻ, ông là một công tử Hà Nội thanh lịch, nhà thơ đa tình, nhà giàu có, đẹp trai, học giỏi, bao nhiêu người yêu ông, bao gia đình phú quý mong được gã con gái cho ông. Nhưng rồi ông đi du học tại Pháp, thuở ấy đi du học trăm người nam sinh viên chỉ có một hai người nữ. Xa quê hương lâu năm ông kết hôn với một phụ nữ Tây phương và có hai người con trai. Ông tham gia phong trào yêu nước và bị trục xuất về nước, bà vẫn ở lại Pháp. Chuyện tình ông là những cuộc tình đến muộn, lúc ông đã đứng tuổi. Có bài báo nói “cái chết ông có nhiều bí mật “, ý nói ông chết vì chuyện chính trị, theo tôi được biết qua lời kể một giáo sư đại học: Cuối đời ông chết vì chuyện tình ngày 21-6-1988, ông yêu một cô sinh viên, học trò ông, hung thủ là người yêu của người ông yêu, nghĩ rằng vì ông, mà họ tan vỡ nên đã trả thù, trói ông bằng dây điện, bịt miệng và dùng bàn ủi nóng giết ông.

Trường Ca Tiếng Địch Sông Ô, ông cảm tác từ chương Hạng Võ biệt Ngu Cơ, chương này là đề tài của nhiều vở tuồng Trung Quốc, Việt Nam. Hai nhân vật Hạng Võ và Ngu Cơ giờ phút biệt ly, ông lấy tiếng sáo Trương Lương làm nền. Trương Lương có tài thổi sáo kỳ diệu, tiếng sáo cất lên làm bao quân sĩ Sở Bá Vương nhớ nhà bỏ trốn.

Truyện Hán Sở Tranh Hùng, bản dịch Mộng Bình Sơn tr 395 viết:

“Trương Lương đến cùng Hàn Tín tương kiến. Hàn Tín nói:
— Luôn mấy ngày đánh với Hạng Vương, các tướng Hán không ai địch nỗi. Lại thêm bọn Quý Bố, Chu Lan, Chung Ly Muội một lòng giúp đỡ. Nếu để Hạng Vương thoát ra được, trốn về Giang Đông lo việc phục hưng thì chiến sự kéo dài biết bao giờ yên. Trước tình hình nan giải ấy, chúng tôi phải mời tiên sinh đến để cho chúng tôi một lời chỉ giáo.
Trương Lương nói:
— Việc đó chẳng khó gì. Bây giờ cứ làm cho các tướng và quân Sở phân tán, rời bỏ Hạng Vương. Hễ Hạng Vương cô lập, ta có thể bắt được dễ dàng.
Hàn Tín nói:
— Chúng tôi cũng nghĩ vậy, song chẳng biết làm kế nào để làm cho binh tướng Sở ly tán.
Trương Lương đứng dậy, kéo ghế đến gần Hàn Tín, nói nhỏ:
— Tôi thuở nhỏ qua chơi Hạ Bì, gặp một dị nhân thổi ống tiêu rất giỏi, âm điệu vừa du dương vừa tha thiết. Nhân lúc giao bôi, tôi có học được khúc tiêu ấy. Tiếng tiêu thổi lên có thể làm cho người ta động lòng nhớ quê. Người vui nghe nó càng vui, người buồn nghe nó thì nỗi buồn càng thấm thía. Nay đương độ thâm thu, hiu hắt gió vàng, cỏ cây trút lá, người xa cách quê hương nghe nó không khỏi động lòng. Tôi sẽ nhân lúc đêm tàn canh vắng vào núi Kê Minh thổi ống tiêu lên, binh tướng Hạng Vương không thể nào còn nghĩ đến việc chiến chinh nữa.
Hàn Tín nói:
— Tiên sinh có tài như vậy tưởng không có gì quý hóa hơn.

Trương Lương từ tạ Hàn Tín trở về dinh. Ngày hôm sau, Hàn Tín đóng quân lại, không cùng quân Sở giao chiến nữa, bốn bề đặt nhiều chiến xa, tăng thêm giáp sĩ vây phòng rất cẩn mật.
Giữa lúc đó, Hạng Vương thấy quân tình yên ổn cũng không ra trận.

Đêm càng khuya, gió thu càng lạnh lẽo, trăng thu buồn bã nhả ánh sáng màu vàng nhạt, rắt trên ngọn cây cao.
Bỗng từ xa, một giọng tiêu buồn vang đến, kèm theo khúc bi ca nỉ non, réo rắc. Tiếng tiêu như gợi vào lòng người một nỗi buồn viễn chinh.
Quân Sở mặt mày ngơ ngác nhìn nhau, hồi lâu xúm lại thì thầm:
— “Bọn chúng ta tòng quân lâu ngày bỏ nhà, xa vợ con, theo Bá Vương những tưởng có ngày thanh bình đoàn tụ. Ngờ đâu binh thế mỗi lúc một tiêu tan. Nếu ở mãi như vầy, không chết giữa trận tiền, chẳng có ngày nào hưởng được thú vui đầm ấm của gia đình.”
Tiếng thì thầm truyền đi mãi khắp dinh trại.
Trong lúc đó giọng tiêu càng réo rắt, càng thê lương, như những tiếng chinh phụ đang mong chồng nỉ non trong canh dài cô quạnh.
Tiếng tiêu đó chinh là tiếng tiêu của Trương Lương đã thổi trên núi Kê Minh, khiến cho kẻ có lòng sắt đá đến đâu cũng phải yếu mềm, như cành liễu non trước cơn gió lốc.
Tiếng tiêu ấy kèm theo bản bi ca như sau:
“Đêm thu mù mịt trời sương,
Có người thiếu phụ quê hương lạnh lùng.
Sa trường vó ngựa,
Trẩy gót binh nhung.
Con thơ nheo nhóc mịt mùng dậm xa.
Cơ hàn, đau đớn mẹ cha,
Canh khuya vò võ tuổi già đợi con.
Chí trai vạn dậm,
Hồ thỉ bốn phương,
Nhưng con đi đã lầm đường,
Giúp người tàn bạo không thương dân tình.
Mơ màng nửa giấc ba sinh,
Một đi, một nhớ, một mình canh thâu.”

Đêm ấy vừa tàn canh, quân Sở đứa khóc, đứa buồn mặt mày ủ rũ, ngồi đứng không an. Chúng bàn nhau rằng:
— Chúng ta nên bỏ trốn khỏi cảnh này là hơn. Nếu quân Hán bắt được, chúng ta nên tỏ thật nỗi tình, xin về quê quán, chắc Hán Vương không nỡ giết chúng ta !

Ba quân bàn tán nhau, rồi không nghe lệnh các tướng, cùng nhau bỏ đi trốn hết. Chỉ trong chốc lát dinh Sở trống không. Các tướng thất kinh, muốn vào tâu với Hạng Vương, nhưng thấy Hạng Vương đang cùng Ngu Cơ ngủ say trong trướng, không dám vào. Các tướng bàn nhau:
— Tình thế nguy ngập lắm rồi, nếu quân Hán biết việc này, đổ dồn lại đánh thì chúng ta tất bị bắt. Chi bằng lộn vào đám quân, trốn ra khỏi vòng vây, sau này kiếm kế giúp cho Đại Vương trả thù.
Chung Ly Muội:
— Lời các ông nói rất phải.
Rồi các tướng thu góp hành trang, bỏ ngựa lại, cùng với quân sĩ lẫn trốn.
… Chẳng bao lâu Hạng Vương thức dậy, nhìn quanh thấy doanh trại trống không, thất kinh chạy ra ngoài hỏi:
— Quân Hán đã chiếm hết trại Sở rồi hay sao, mà quân lính mất hết vậy ?
Chu Lan và Hoàn Sở chạy đến, vừa khóc vừa nói:
— Quân ta bị Hàn Tín dùng kế thổi ống tiêu, làm cho lòng quân tan rã, cả đến các tướng cũng bỏ trốn, chỉ còn hai chúng tôi và tám trăm quân ở lại đây hầu hạ Đại Vương. Xin Đại Vương phải đánh gấp phá vòng vây, chậm trễ quân Hán kéo đến không thể thoát được.
Hạng Vương nghe nói đôi dòng nước mắt chảy ràn rụa, bước vào trướng thuật lại đầu đuôi câu chuyện với Ngu Cơ. Nàng Ngu Cơ cũng không cầm được giọt lệ, thở dài nói:
— Trời cố diệt chúng ta chăng ?
Hạng Vương thấy Ngu Cơ khóc sướt mướt, cầm tay nói:
— Tướng sĩ nay đã trốn hết, quân Hán vây đánh rất ngặt. Ta định từ giả nàng, liều mình xông ra trận. Tuy nhiên, lòng lại không nỡ, vì hai ta sống với nhau đã bao năm, chưa từng rời nhau sớm tối, dẫu trong thiên binh vạn mã cũng vẫn có nhau. Nay một phút muốn vĩnh biệt với nàng, lòng ta thấy quyến luyến.
Ngu Cơ khóc nghẹn ngào nói:
— Thiếp đội ơn Đại Vương thương tưởng, nguyện khắc cốt ghi lòng. Nay chẳng may trên bước đường ly loạn, dẫu chết cũng khó rời nhau.
Bá Vương lau nước mắt, truyền quân bày tiệc rượu ở trung quân để cùng Ngu Cơ đối ẩm. Hơi men không sưởi ấm được lòng người trong phút não nề, Hạng Vương buồn bã ngâm mấy câu thơ:
“Tấm thân lấp biển vá trời,
Thanh gươm yên ngựa một đời dọc ngang.
Giờ đây mưa gió phủ phàng,
Anh hùng mạt lộ, giang san tiêu điều.”

Hạng Vương ngâm thơ xong, mời nàng Ngu Cơ uống mấy chén rượu. Ngu Cơ cũng ngâm mấy câu thơ buồn như sau:
“Cát đằng nương bóng cội tùng,
Bấy lâu khắn khít thủy chung một lòng.
Tơi bời vì ngọn gió đông,
Cội tùng xiu vẹo, cát đằng bơ vơ.”

Bá Vương cùng Ngu Cơ uống rượu ngâm thơ, mãi cho lúc tới tàn canh, bên ngoài trời rựng sáng. Chu Lan và Hoàn Sở từ ngoài bước vào giục:
— Trời sắp sáng rồi, xin Đại Vương lo khởi hành.
Hạng Vương đứng dậy từ biệt Ngu Cơ nói:
— Thôi đến lúc tôi phải đi, ngự thê ở lại bảo trọng lấy thân thể.
Ngu Cơ quỳ gối nói:
— Thiếp xin theo Đại Vương để cùng nhau sinh tử.
Hạng Vương nói:
— Trong chốn muôn quân nghìn tướng, phận liễu bồ làm sao chịu đựng được cực nhọc. Trước kia binh tướng còn nhiều có người bảo vệ, nay ta đơn thương độc mã, làm sao có thể đem nàng theo được.
Ngu Cơ nói:
— Thiếp xin mượn thanh kiếm Đại Vương, thề quyết cùng Đại Vương thoát vòng vây quân địch.
Hạng Vương rút thanh kiếm đeo trong mình, đưa cho Ngu Cơ. Ngu Cơ tiếp lấy đứng dậy nói:
— Thiếp mang ơn Đại Vương không biết lấy gì đền đáp. Nay trong cơn nguy khốn, nếu thiếp đi theo Đại Vương không khỏi làm cho Đại Vương bận bịu, mang hại vào thân.
Nói xong đâm lưỡi gươm vào cổ tự vận. Hạng Vương đau lòng, hét lên một tiếng toàn thân run rẫy. Chu Lan và Hoàn Sở bước lại đỡ Hạng Vương và nói:
— Xin Đại Vương lấy giang san làm trọng, đừng quá bi lụy như thế.
Hạng Vương nghiến răng, vung gươm lên ngựa ra khỏi dinh cùng tám trăm quân xông vào trận địch. Quân Hán được tin, chạy về trung quân phi báo, Hàn Tín liền thống xuất đại binh, hợp với các tướng kéo đến phủ vây.
Hạng Vương một mình cỡi ngựa Ô truy, vung đao xông đến, gặp tướng đánh tướng, gặp quân chém quân, như vào chỗ không người. Ai nấy thấy vậy sợ hãi, không dám ngăn cản. Hạng Vương thoát được tám vòng vây, ngoảnh lại thấy Chu Lan, Hoàn Sở đã lạc mất, chỉ còn vài mươi quân kỵ. Hạng Vương vẫn không nãn lòng, vừa giục ngựa xông tới vừa đâm chém. Hàn Tín cùng các tướng Hán thấy vậy bảo nhau:
— Hạng Vương có sức mạnh như thần, lại lúc cùng quẫn liều chết khó ai địch nỗi. Chi bằng vây hai tướng Chu Lan, Hoàn Sở.
Các tướng liền bỏ Hạng Vương xúm lại vây Chu Lan, Hoàn Sở. Chu Lan và Hoàn Sở sức yếu làm sao địch lại, chống đỡ một lúc, biết không thể thoát được, ngửa mặt lên trời nói lớn:
— Đại Vương ôi ! chúng tôi đã kiệt sức rồi.
Nói xong hai tướng rút gươm tự sát. Giữa lúc đó, Hạng Vương thoát ra khỏi trận, theo sau chỉ còn vài chục tên quân, nhằm hướng đông mà chạy.”

Từ một đoạn truyện trong Hán Sở Tranh Hùng trên, Phạm Huy Thông năm 16 tuổi đã viết nên một thiên anh hùng ca tuyệt tác. Ông đã cảm hứng thêm những hình ảnh sương thu chiều tà, cờ bay trùng trùng điệp điệp đầu non, tiếng ngựa hí, tiếng loa vang quân Hán và các chư hầu. Ông thêm thắt thêm tình tiết Hạng Võ khuyên Ngu Cơ ở lại, nàng có nhan sắc Lưu Bang sẽ trọng đãi riêng nàng trong hậu cung, khuyên nàng chớ sợ.
Tuy nhiên ông chỉ nhắc đến Lưu Bang, và tướng Phàn Khoái, nói đến tiếng sáo Trương Lương mà không nói đến Hàn Tín, vị nguyên soái của Hán Cao Tổ Lưu Bang, chỉ huy một triệu quân trong trận đánh cuối cùng này. Phía binh Sở ông cũng không nhắc đến tướng Chu Lan, Hoàn Sở hai vị tướng tận trung với Hạng Võ đến giờ phút cuối cùng.

Phạm Huy Thông sống trong một giai đoạn lịch sử sôi động, ông đã xông pha gánh vác việc nước, đảm nhận những trách nhiệm chính trị, rồi trách nhiệm đào tạo sinh viên trường ĐHSP, viện trưởng Viện Khảo cổ học, ông ít viết thơ. Thi ca ông dừng lại vào những giai đoạn đầu của cuộc đời như nhà thơ Rimbaud, nhưng cũng đủ để lại những tuyệt tác trong lịch sử văn học Việt Nam.

PHẠM TRỌNG CHÁNH
(còn tiếp)


Xem online : Phần 3