Trang nhà > Sử­ sách > Thời mới > HỒ CHÍ MINH căn dặn hậu nhân điều gì trong Di Chúc ?

HỒ CHÍ MINH căn dặn hậu nhân điều gì trong Di Chúc ?

Thứ Bảy 19, Tháng Năm 2012

Đã có nhiều người nghiên cứu, nhiều bài viết về tác phẩm “Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” trong hơn 40 năm qua, kể từ ngày bản Di chúc được Tổng bí thư Lê Duẩn công bố tại Lễ tang của Người, tháng 9-1969. Thời gian trôi đi, cuộc sống trôi đi. Sự thanh lọc của thời gian với những biến động dữ dội của thế giới và những bước đi của cách mạng Việt Nam thời gian qua (có rất nhiều thành công, thắng lợi nhưng cũng gặp phải vô vàn khó khăn, thất bại nữa) càng cho thấy giá trị to lớn của bản Di chúc của Bác.

Di chúc của Bác Hồ được viết từ tháng 5-1965 đến tháng 5-1969. Vào những năm cuối thế kỷ XX, thế giới đã thay đổi ghê gớm. Không ai ngờ được chỉ một thời khắc ngắn ngủi của 1989-1990 cả hệ thống Xã hội chủ nghĩa ở châu Âu bị sụp đổ. Chúng ta cũng không ngờ là sau chiến thắng lừng lẫy mùa xuân 1975, đánh bại hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, dân tộc ta lại phải tiếp tục đương đầu với chiến tranh phía Tây Nam và phía Bắc. Rồi nghiêm trọng hơn là đất nước chìm ngập trong nghèo đói và bị cô lập. Và thật khó tưởng tượng nổi, trong cơn bĩ cực ấy của khủng hoảng, Đảng ta lại trụ vững, xốc tới lãnh đạo nhân dân cả nước vượt qua một cách ngoạn mục, bắt đầu từ đường lối Đổi mới và Mở cửa từ đại hội Đảng lần thứ VI (1986) và đang ngày càng vững bước đi lên.

Nhìn lại mới thấy thiên tài của Bác, mới thấy bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tài sản vô giá của nhân dân ta. Ngoài bản in Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (ngày 10-5-1969) được công bố ở lễ tang của Người, chúng ta may mắn có 3 bản bổ sung vào Di chúc của Bác (Bản Di chúc thứ nhất của Bác được viết ngày 15- 5-1965, năm Bác 75 tuối, có chứng kiến của đồng chi Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Lê Duẩn. Bản thảo thứ hai được viết năm Bác 78 tuổi (1968). Bản này có thêm phần bổ sung... Bản thảo thứ ba được viết ngày 10-5-1969, năm Bác 79 tuổi. Bản này là bản tập hợp tất cả những vấn đề của các bản trên và chính thức được công bố ở Lễ tang của Người. Di chúc của Chủ tich Hồ Chí Minh. Nxb Chính trị Quốc gia. HN 2006).

Hàng chục triệu đồng bào Việt Nam và nhân dân thế giới đã tuôn trào nước mắt, xót xa, thương tiếc, bừng bừng khí thế và kính phục con người vĩ đại Hồ Chí Minh khi nghe đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn, thay mặt cho Đảng, Chính phủ đọc Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại tang lễ Người với giọng nghẹn ngào đau đớn và hào sảng.

Sau 40 năm, bây giờ đọc lại, chiêm nghiệm và nghiền ngẫm, suy nghĩ trên từng con chữ, nét chữ Bác viết ra ở cả ba bản thảo bổ sung từ 1965-1969 và Di chúc được công bố càng làm ta kinh ngạc và thán phục.

Thường lúc chuẩn bị về Trời, tâm lí bình thường của con người được thể hiện qua di chúc là nghĩ và viết về quá khứ, về cuộc đời đã trải qua với những sự việc và sự kiện có thể là lớn hay nhỏ, đặc biệt là phải quan tâm đến sự việc quan trọng nhất của đời mình đang xảy ra ở thời điểm viết di chúc. Như chúng ta đã biết, cuộc đời Bác, tất cả là chiến đấu hi sinh cho Tố quốc, tất cả vì độc lập tự do của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Bất chấp mọi hi sinh gian khổ, mọi tù đày,chém giết của thực dân đế quốc. Bác đã vượt qua, kể cả những khó khăn gian khổ không phải do kẻ địch gây ra. Bác đã âm thầm chịu đựng và vượt qua tất cả, đã chiến thắng. Nhưng một trong những việc quan trọng nhất của cuộc đời và sự nghiệp của Người là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước lại chưa hoàn thành, đang ở giai đoạn quyết liệt nhất, gay go nhất trước khi bước vào giai đoạn quyết định, giành thắng lợi hoàn toàn và cũng là hoàn tất sự nghiệp vẻ vang của một đời người, của Bác. Ấy vậy mà Di chúc của Bác, ngược lại Bác chỉ nói đến tương lai.

Và ngay ở phần đầu Di chúc, đã là lạ. Một trong những lý do để Bác viết Di chúc là Phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê-Nin và các vị cách mạng đàn anh khác,… Chúng ta ai cũng biết Bác là người Việt Nam hơn ai hết, thấm đượm văn hoá phương Đông, trong đó có tín ngưỡng Phật giáo. Bác đã từng đi chúc Tết, đi viếng thăm chùa chiền, lăng mộ, đền thờ, thắp hương cho những người đã khuất… Thế thì vì lẽ gì Bác không viết là phòng khi về với Tổ tiên, với ông bà cha mẹ (một cách nghĩ, cách nói và là tín ngưỡng gần gũi với văn hoá của người Việt Nam) mà Bác lại viết sẽ đi gặp… mà lại là gặp cụ Các Mác, cụ Lê-Nin và các vị cách mạng đàn anh khác ?

Chúng ta tạm dừng lại ở câu này. Bác Hồ, người tinh thông nhiều ngoại ngữ và người viết văn tiếng Việt hết sức chuẩn mực và trong sáng. Đọc lại Toàn tập Hồ Chí Minh, chúng ta khó mà tìm được lỗi về cách diễn đạt hay ngữ pháp. Bác đã tạo nên một bút pháp chuẩn mực, không lẫn với ai; trong đó có việc sử dụng từ ngữ chính xác, cô đúc và dễ hiểu. Ai đọc Bác cũng hiểu được, dù người đọc là trí thức hay người lao động giản đơn, ít tiếp xúc với chữ nghĩa. Bên cạnh sự uyên bác của Bác thể hiện qua việc sử dụng tính đa nghĩa của từ ngữ, qua việc sử dụng nhiều điển tích, điển cố văn chương hay thành ngữ, ca dao, tục ngữ Việt Nam và thế giới là khả năng sử dụng tính cụ thể, chính xác của từ ngữ tiếng Việt. Câu này Bác viết trong đoạn văn:

Năm nay tôi vừa 79 tuổi, đã là lớp người “xưa nay hiếm” nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khoẻ có kém hơn so với vài năm trước đây. Khi người ta đã ngoài 70 xuân thì tuổi tác càng cao, sức khoẻ càng thấp. Điều đó không có gì lạ.

Nhưng ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa.

Vì vậy, tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê Nin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột. (Bản ngày 10-05-1969).

Như vậy Di chúc trong đó có câu văn này được Bác viết trong tình trạng “tinh thần đầu óc vẫn rất sáng suốt”, với tinh thần chủ động để đón nhận phút đi xa về “Bên kia bầu trời”. Bác không hề lo lắng, sợ hãi mà trước tiên là lo cho “đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi” bị đột ngột khi biết tin Bác mất.

Có nhiều cách viết để chuyển tải nội dung đó nhưng Bác đã viết: “Tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê Nin và các vị cách mạng đàn anh khác…”. Bác viết : “Tôi để sẵn mấy lời này” chứ không phải là “mấy dòng này”. Thực ra Di chúc được Bác viết thành chữ chứ không phải là nói thành lời như khi Người đọc Tuyên ngôn độc lập hay Lời kêu gọi Kháng chiến, hoặc đọc Thơ mỗi độ xuân về. Bác Viết: “Tôi để sẵn mấy lời này” tức là Bác hình dung như đang nói lời với đồng bào cả nước, với bạn vè khắp nơi chứ không phải là sẽ được đọc lại. Chữ Lời là ngữ cảnh của đối thoại, có lời nói và có đối tượng nghe lời nói, gần gũi, cụ thể hơn là đọc chữ và nghe văn bản. Chính vì thế mà nội dung của lời sinh động, cụ thể và chính xác hơn là chữ . Tinh thần đó tạo nên cảm giác gần gũi cụ thể trong không gian và thời gian cho người nghe, như có Bác, vẫn còn Bác bên cạnh chứ Bác chưa đi xa.

Tiếng Việt cụ thể và chính xác. Động từ không phải chia theo thời (quá khứ, tiếp diễn, hoàn thành hay tương lai…) như nhiều ngôn ngữ khác. Để chỉ hành động, người dùng sử dụng các trợ từ sẽ, đang, đã… trước động từ. “Sẽ đi gặp” tức là chưa đi, rồi sẽ đi trong tương lai (hoặc gần hoặc xa). Điều này thể hiện xu thế và thái độ chủ động của người nói là Bác. "Đi" khi sử dụng độc lập có 18 nghĩa (Từ điển Tiếng Việt – KHXH 1987); khi sử dụng với các yếu tố khác của ngôn ngữ trong các tổ hợp thì có vô số nghĩa và mức độ khác nhau. Khi sử dụng từ Đi trong trường hợp “Chuyển động từ nơi này đến nơi khác” với hoàn cảnh cụ thể. Đi lên chỉ hướng từ thấp đến cao, ngược với Đi xuống. Đi xin (ý kiến, chỉ đạo) chỉ cấp dưới với cấp trên. Đi hỏi (ý kiến, lời khuyên bảo) bậc trên (ông, bà, cha mẹ, chú, dì, người lớn tuổi hơn hoặc có địa vị cao hơn). Nhưng khi nói “Đi gặp” tức là nói với đối tượng ngang hàng hoặc thấp hơn. Anh ấy đi gặp sinh viên (dưới). Cậu đi gặp bạn cùng lớp (bằng vai phải lứa).

Bác viết “Sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê Nin …” tức là, ít nhất Bác ngang hàng với người muốn nói tới. Các vị ấy đã mất, Bác không so sánh tuổi tác đâu, vì Các Mác (1818-1883) mất khi 65 tuổi, Lê Nin (1870-1924) mất khi 54 tuổi, đều ít tuổi hơn Bác. Bác gọi các vị là Cụ là với lòng quý mến và kính trọng, nhưng ít nhất là ngang hàng. Bác viết đi gặp (là có mục đích, có chủ ý) chứ không phải là “đi theo” hay “đi với”. Vậy thì Bác đi gặp “cụ Các Mác, cụ Lê Nin và các vị cách mạng đàn anh khác” với mục đích và chủ ý gì?

Lịch sử cuộc đời và hoạt động cách mạng của Bác cho thấy Bác đã tiếp xúc và tiếp nhận chủ nghĩa Mác – Lê Nin cũng như quá trình hoạt động, tổ chức và lãnh đạo cách mạng Việt Nam là một quá trình vận động liên tục, tiếp thu và sáng tạo liên tục chứ không bị động, giáo điều và cứng nhắc.
Bác tiếp nhận chủ nghĩa Mác, trong đó có vấn đề quan trọng nhất là giai cấp và đấu tranh giai cấp, nhưng ngay từ năm 1923 Bác đã có những ý kiến đối thoại và bổ sung học thuyết Mác bằng lịch sử của các dân tộc phương Đông. Bác đã chỉ ra rằng Phương Đông có những đặc điển khác Phương Tây (là cơ sở để Mác xây dựng học thuyết của mình) trên các phương diện hình thái kinh tế, cơ sở hạ tầng xã hội, quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp. Mác cho rằng cho đến khi giai cấp phong kiến đã diệt vong thì “xã hội ngày càng chia thành hai phe lớn thù địch với nhau, hai giai cấp lớn hoàn toàn đối lập nhau: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản” .

Bác Hồ đã chỉ ra, ngoài các phương thức sản xuất mà Mác đã nghiên cứu, còn có một “phương thức sản xuất Phương Đông”. Ở Phương Đông không chỉ có đấu tranh giai cấp là động lực chính trong quá trình phát triển của xã hội, và “Cuộc đấu tranh giai cấp (ở Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ - (Việt Nam – LĐC)) không diễn ra giống như ở phương Tây” (Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ) gửi Quốc tế Cộng sản năn 1924.
Không chỉ ở Việt Nam mà cả “ở Trung Quốc và Ấn Độ về mặt cấu trúc kinh tế,
không giống các xã hội Phương Tây thời Trung cổ, cũng như thời cận đại và đấu tranh giai cấp ở đó không quyết liệt như ở đây” (Phương Tây - LĐC).
Trong Báo cáo này Bác còn viết: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử. Nhưng lịch sử nào? Lịch sử của Châu Âu. Mà Châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”. Và chính Bác khẳng định chủ nghĩa dân tộc là một động lực to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và tự do.

Với tinh thần ấy, Bác đã phát triển một cách khoa học và sáng tạo chủ nghĩa Lê Nin rong vấn đề cách mạng thuộc địa. Thực tế đã diễn ra đúng như Bác dự báo – Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa đã nổ ra và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở các nước chính quốc là các nước đế quốc (không giống như tư tưởng của Lê Nin).

Bác Hồ là nhà cách mạng rất thực tiễn. Để đưa cách mạng Việt Nam đến thành công Bác đã tiếp nhận chủ nghĩa Mác – Lê Nin trong hoàn cảnh thế giới của thế kỷ XX. Cuộc đời lăn lộn hi sinh cho cách mạng, Bác đã phải chứng kiến những cuộc chiến tranh thế giới đẫm máu và cả phong trào cộng sản thế kỷ XX có nhiều sự kiện không thể giải thích nổi (Bạo loạn và trấn áp bạo loạn ở Hungary 1956, ở Tiệp Khắc 1967, những cuộc thanh trừng ở Liên Xô sau chiến tranh Thế giới thứ 2, phong trào Đại nhảy vọt, Cách mạng văn hoá ở Trung quốc... Rồi chiến tranh biên giới Xô - Trung, chiến tranh biên giới Trung Quốc - Ấn Độ, Cải cách ruộng đất ở Việt Nam với sự giúp đỡ của các cố vấn Trung Quốc… Sau chín năm kháng chiến chống Pháp xâm lược người ta ép Việt Nam khi ký hiệp định Paris…). Ấy là chủ nghĩa cộng sản và là đồng chí với nhau? Trong Di chúc, phần viết Về phong trào cộng sản thế giới Bác đã phải viết: … “tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu…” Phải chăng Bác muốn đi gặp các vị để tìm hiểu thêm? Đó là chưa nói đến 10 năm sau khi Bác mất đã xảy ra chiến tranh biên giới Việt – Trung và 20 năm sau là sự sụp đổ của Liên Xô và phe XHCN ở Đông Âu.

Phần tiếp theo của Di chúc càng ngạc nhiên. Phải thấy rằng hoàn cảnh lịch sử của thế giới và cách mạng Việt Nam trong giai đoạn 1965- 1969 là cực kì phức tạp. Bác biết hết “Nỗi lo dân nước, nỗi năm châu”, nhưng Bác đã không đề cập đến nhiều. Dù cuộc chiến tranh chống Mỹ của nhân dân ta đang ở giai đoạn cuối với vô vàn gian khổ và khốc liệt. Đế quốc Mỹ đang dốc toàn lực cho canh bạc cuối cùng với tất cả sức mạnh quân sự, sự tàn bạo và xảo quyệt của tên đế quốc giàu có và tàn bạo. Nước ta bị o ép trăm bề bởi các lực lượng quốc tế và các nước lớn. Ngày 5-8-1964, Đế quốc Mỹ vừa mới dùng không quân và hải quân, hùng hổ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc. Cả nước ta là một bãi chiến trường ngút trời bom đạn Mỹ. Cũng ngay trong năm 1965 này, Bác vừa mới khẳng định “Lúc này chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước” Ấy vậy mà Bác thanh thản lạ. Trong cả 3 bản Di chúc, tần số xuất hiện của chữ Mỹ là 10 lần,trong đó chỉ có 2 lần, chữ Mỹ là danh từ ở thành phần chính của câu,còn 8 lần là trạng từ và tính từ. Bác không bàn nhiều đến cuộc kháng chiến chống Mỹ coi như việc chiến thắng giặc Mỹ là điều hiển nhiên, là việc tất nhiên.Bác chỉ viết một câu vừa dự báo, vừa khẳng định: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể sẽ kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người, nhưng nhất định thắng lợi” (Bản Di chúc ngày 15-5-1965). Như vậy là Bác đã dự báo cuộc kháng chiến chông Mỹ sẽ phải (và chỉ) kéo dài mấy năm nữa. Thực tế, chiến tranh có ác liệt đến vô cùng thì cũng chỉ kéo dài mấy năm (1965-1973) như Bác đã dự báo chứ không phải kéo dài đến vô tận, không xác định được thời gian. Điều dự báo của Bác lần nữa có tính khẳng định như đã từng xẩy ra trong lịch sử. Năm 1941, Bác đã từng dự báo: “Việt Nam độc lập năm 1945”. Như năm 1960, trong Lễ mừng kỷ niệm 15 năm thành lập nước, Bác nói “Mười lăm năm nữa (1975) nước ta thống nhất”. Như năm 1967, Bác tiên đoán: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội...”.

Bản Di chúc đọc ở Lễ tang Bác là văn kiện còn để đối ngoại, cả thế giới (có cả kẻ thù) nghe, biết, nên mọi chiến lược, chiến thuật cụ thể không thể công khai, nên có ý chưa thể đọc hết lúc đó là điều dễ hiểu. Nhưng tư tưởng toát ra ở các bản thảo cho thấy tầm nhìn chiến lược của cách mạng Việt Nam được Bác vạch ra thật cách mạng, cụ thể và kì lạ. Tư tưởng quan trọng nhất, chủ đạo nhất thể hiện trong Di chúc lại là vấn đề: Trước hết nói về Đảng. Bởi Bác biết sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam, dành độc lập tự do cho tổ quốc và hạnh phúc cho nhân dân chỉ có Đảng lãnh đạo mới thực hiện được. Cách mạng Tháng Tám 1945, cuộc Kháng chiến Chín năm chống thực dân Pháp và Kháng chiến chống Mỹ đang trên đà thắng lợi hoàn toàn cũng như công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc, tất cả đều do Đảng lãnh đạo. Và với Bác, lúc đó Đảng là dân tộc, dân tộc là Đảng. Như trong Đại hội lần thứ 2 của Đảng (1951) đổi tên Đảng là “Đảng Lao động Việt Nam”, Bác đã nói: “Với tôi chỉ có một đảng là Đảng của dân tộc, của những người lao động Việt Nam”. Vì vậy mà ngay ở bản Di chúc thứ hai (ngày 15 tháng 5-1968) Bác đã nêu rõ tầm quan trọng và cấp bách là “Trước hết nói về Đảng”. Sau những đánh giá, ca ngợi Đảng, Bác đã chỉ ra vấn đề Bác quan tâm đầu tiên là vấn đề đoàn kết, từ đó Bác nêu lên nhiệm vụ của Đảng là “Thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình” là “Để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng” nhưng là “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau” và vấn đề “Đảng ta là một Đảng cầm quyền”, là nhiệm vụ “mọi Đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng”, “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Ngay từ lúc đó, ngay từ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trong không khí hào hùng của cách mạng và chói lọi vinh quang. Với khả năng dự báo thiên tài, Bác đã nhìn thấy những vấn đề sẽ xảy ra đối với Đảng, đó là những vấn đề mất dân chủ, vấn đề mất đoàn kết, là vấn đề của Đảng cầm quyền, là đạo đức cách mạng, vấn đề trong sạch của Đảng và trách nhiệm của mỗi Đảng viên.

Đây là những vấn đề sau 40 năm, vẫn đang đặt ra hết sức nhức nhối và cấp bách của Đảng. Những nguy cơ mà hiện nay Đảng ta đang phải đối mặt, là những vấn đề cốt lõi và quan trọng nhất về sự tồn vong của Đảng ta trong quá trình bảo vệ và xây dựng đất nước hiện nay. Cho nên những vấn đề Bác nêu trong các bản Di chúc vẫn là cấp bách và cần thiết hơn bao giờ hết. Và điều lạ nữa là Bác , một người suốt đời hy sinh, tận tụy vì dân, vì nước,vì dân tộc Việt Nam nhưng cũng vì hạnh phúc của nhân dân thế giới , nhưng Di chúc Bác cũng không nói nhiều và cụ thể đến xây dựng chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa Cộng sản. Trong toàn bộ Di chúc công bố chính thức, cụm từ “xã hội chủ nghĩa” chỉ được Bác viết 1 lần khi nói về thanh niên: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế, xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa hồng vừa chuyên”. Từ cộng sản được Bác viết 1 lần trong phần “về phong trào cộng sản Thế giới” nhưng là để nói đến sự “bất hoà hiện nay giữa các Đảng anh em” mà không nói gì đến chủ nghĩa cộng sản và xây dựng đất nước ta đi lên chủ nghĩa cộng sản. Như vậy Chủ nghĩa Xã hội và Chủ nghĩa Cộng sản cũng là điều tất yếu, như cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhất định thắng lợi, như Bác đã dự báo? Sau vấn đề nói về Đảng, toàn bộ Di chúc của Bác Hồ là tập trung nói về Tổ quốc và nhân dân. Điều mong ước cuối cùng của Bác là “xây dựng một nước Việt Nam hoà bình,thống nhất,độc lập dân chủ và giàu mạnh”. Đó không chỉ là mong ước của Bác mà cũng là dự báo của Bác như nhiều dự báo của nhà dự báo thiên tài Hồ Chí Minh đã thành hiện thực. Chỉ có Bác Hồ, một vĩ nhân mới có thể bình tĩnh, sáng suốt để nhìn ra những vấn đề như vậy lúc sắp lâm chung và thể hiện một cách độc đáo và kì lạ ở Di chúc của Người. Hơn nữa Di chúc cũng là một thể loại của văn học như bi, ký, chiếu, minh, sắc… có hình thức và nội dung được quy định chặt chẽ. Với Di chúc của Bác Hồ, mọi quy định đã được người viết tôn trọng và sáng tạo để đưa nó thành một bản Di chúc mà tự cổ chí kim chưa từng có ở các nền văn hoá khác. Ngay cả điều nói về việc riêng ở cuối cùng của bản Di chúc, Bác chỉ viết có 79 chữ bằng 79 năm cuộc đời của Bác.Ngày Bác mất cũng trùng với ngày Quốc khánh nước Viêt Nam Dân chủ cộng hoà do Bác khai sinh, ngày 2-9-1945. Không biết vô tình hay hữu ý. Chính vì vậy mà Di chúc của Bác với những giá trị độc đáo đã trở thành tài sản vô giá của Đảng và dân tộc Việt Nam; không chỉ hiện nay mà mãi mãi về sau vẫn là ngọn đuốc soi đường, là kim chỉ nam cho mọi người trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Để hiểu thêm Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là vô cùng vô tận.

PGS-TS Lê Đình Cúc, nguyên Tổng biên tập Tạp chí Khoa Học Xã Hội

Tài liệu tham khảo

  • Song Thành, Phạm Văn Các… Hồ Chí Minh tiểu sử, Nxb Chính trị, 2006.
  • Lady Borton. Hồ Chí Minh một cuộc hành trình, Nxb Thế giới.
  • Nguyễn Văn Khoan. 50 năm – Chân dung một con người, Nxb Lao động. HN 2009.
  • Archimedes L.A.Patti. Tại sao Việt Nam. Nxb Đà Nẵng, 2002.