LOGO CỦA WEBSITE NÀY

Trang nhà > Văn chương > Cổ học > HOÀNG HẠC LÂU QUA THI CA CÁC SỨ THẦN NƯỚC NAM (1)

HOÀNG HẠC LÂU QUA THI CA CÁC SỨ THẦN NƯỚC NAM (1)

NGUYỄN DU, PHẠM SƯ MẠNH, LÊ ANH TUẤN, NGUYỄN TÔNG KHUÊ, LÊ QUÝ ĐÔN

Thứ Hai 28, Tháng Ba 2016

Hoàng Hạc Lâu được xây dựng tại Vũ Hán từ năm 223 do Tôn Quyền thời Tam Quốc. Khi xây cổ thành Hạ Khẩu, phía Tây giáp Trường Giang, góc Giang Nam có bờ đá lớn, ông cho xây lầu cao làm đài quan sát. Đến đời Đường có chuyện Phí Vân Vi cỡi hạc về đây nghỉ nên lầu có tên là Hoàng Hạc Lâu và trở thành một thánh tích của Đạo Lão.

Lầu xưa chỉ có 3 tầng cao 20m rộng 30m. Lầu trải qua 12 lần tu sửa qua các triều đại, năm 1884 đời Quang Tự thứ 10 bị phá hủy. Năm 1957 cầu Trường Giang xây dựng, chân cầu chiếm vị trí này. Năm 1981, lầu Hoàng Hạc được xây dựng lại, nguy nga 5 tầng lầu cao 51,4m dời cách vị trí cũ một cây số. Trước lầu có hai câu đối: Sảng khí tây lai, vân vụ tảo khai thiên địa hám. Đại ngư đông giang khứ, ba đào tẩy tịnh cổ kim sầu. dịch: Hơi mát từ hướng Tây đến, mây mù quét sạch mở ra lay động đất trời. Sông lớn chảy về đông, sóng gió theo dòng rửa sạch cả nỗi sầu kim cổ.

Hoàng Hạc Lâu nổi tiếng với bài thơ cùng tên của Thôi Hiệu, được xem là một trong những bài thơ hay nhất của thi ca Trung Quốc, lại càng nổi tiếng hơn khi thi hào Lý Bạch viết: “Trước mắt có cảnh không tả được. Vì thơ Thôi Hiệu ở trong đầu”.

LẦU HOÀNG HẠC
Người xưa cưỡi hạc khuất từ lâu,
Chốn cũ còn trơ Hoàng Hạc Lâu.
Một biệt hạc vàng không trở lại,
Ngàn năm mây trắng lững lơ lầu.
Rực soi bến Hán cây vàng nắng,
Thơm ngát châu Anh cỏ biếc mầu.
Chiều xuống quê hương đâu đó nhỉ ?
Đầu sông khói sóng dục khơi sầu.
Thơ Thôi Hiệu, Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
HOÀNG HẠC LÂU
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu [1]
Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng xử nhân sầu.

Lý Bạch cũng có bài thơ “Từ Lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng”: Bạn cũ từ biệt tại lầu Hoàng Hạc đi về phía Tây. Tháng ba hoa khói xuống Dương Châu. Bóng chiếc buồm đơn màu xanh mất hút. Chỉ thấy Trường Giang vẫn chảy bên trời.

TỪ LẦU HOÀNG HẠC TIỄN MẠNH HẠO NHIÊN ĐI QUẢNG LĂNG
Từ tây Hoàng Hạc cố nhân xa,
Dương Châu hoa khói tháng ba nhòa.
Buồm đơn xa khuất, trời xanh thẳm,
Chỉ thấy Trường Giang bát ngát qua.
Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
HOÀNG HẠC LÂU TỐNG MẠNH HẠO NHIÊN DU QUẢNG LĂNG
Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu,
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu.
Cô phàm viễn ảnh bích không tận,
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.

Nguyễn Du đến lầu Hoàng Hạc trong lần đi sứ năm 1813, ngày 30-7 năm Quý Sửu. Nguyễn Du cũng từng đến nơi này năm 1790 trong thời thanh niên đi giang hồ nên viết « trước mắt cỏ cây vẫn như ngày xưa ». Nguyễn Du viết: Thần tiên ở nơi nao đến dã trải bao thời, còn để lại dấu tiên ở bờ sông này ? Nay lại xưa qua chỉ là giấc mộng của chàng họ Lư. Lư sinh đời Đường thi trượt trên đường về nghỉ trọ ở Hàm Đan, gặp một đạo sĩ cho mượn chiếc gối để ngủ. Trên gối ấy, Lư sinh mơ thấy mình thi đỗ, làm quan đến Tể Tướng, hưởng giàu sang trên mười năm. Khi tỉnh dậy nồi kê của chủ quán nấu vẫn chưa chín. Hạc vàng đi, lầu vắng, chỉ còn lời thơ Thôi Hiệu. Khói sóng phía ngoài lan can một cõi mênh mang. Cây cỏ trước mặt vẫn y như cũ. Biết cùng ai bày tỏ niềm cảm xúc tự đáy lòng ? Trăng trong gió mát cũng không biết được nỗi niềm đó.

LẦU HOÀNG HẠC
Thần tiên đã đến tự bao giờ ?
Còn lại dấu tiên trên bến mơ.
Giấc mộng Lư Sinh kim cổ vọng,
Vần thơ Thôi Hiệu hạc lầu trơ.
Ngoài hiên khói sóng bay mờ mịt,
Trước mắt cỏ cây vẫn thuở xưa.
Nỗi niềm có biết cùng ai tỏ.
Trăng thanh gió mát cũng thờ ơ !
Thơ Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
HOÀNG HẠC LÂU
Hà xứ thần tiên kinh kỷ thì,
Do lưu tiên tích thử giang mi.
Kim lai cổ vãng Lư Sinh mộng,
Hạc khứ lâu không Thôi Hiệu thi.
Hạm ngoại yên ba chung diểu diểu,
Nhãn trung thảo thụ thượng y y.
Trung tình vô hạn bằng thùy tố,
Minh nguyệt thanh phong dã bất tri.

Phạm Sư Mạnh tự Nghĩa Phu, hiệu Úy Trai, người Hiệp Thạch huyện Hiệp Sơn, phủ Kinh Môn, học trò Chu Văn An. Ông đỗ Thái Học Sinh đời Trần Minh Tông (1314-1329) đi sứ đời Trần năm 1345 đã đề thơ Lên lầu Hoàng Hạc viết vội vần thơ đưa Sứ Bắc Thị Giảng Dư Gia Tân: Núi xanh lớp lớp vây quanh đất Bành Thành.Lẫn vào mây cắm vào nền trời như bức bình phong bằng ngọc xanh. Nước Hoàng Hà cuồn cuộn ngấm vào lòng đất. Sóng cồn tung tóe, nghiêng dốc xuống miền đông nam. Hoàng Lâu nổi lên lưng chừng trời. Lên cao trông suốt ba ngàn dậm. Trước đài Hạng Vương mặt trời lặn đỏ rực. Trên mồ Quán Quân trận gió buồn nổi lên. chiến trường xưa trong cảnh trời đất hoang vu. Anh hùng ngàn xưa nay còn đâu Nhà ta ở tận cõi Giao Nam xa xôi. Hôm nay cầm tiết ngọc lên Hoàng Lâu. Sờ vào nét chữ của Pha ông khắc trên đá. Chí đi chơi này hẳn không phụ chí bình sinh.

LÊN LẦU HOÀNG HẠC
(viết vội vần thơ đưa Sứ Bắc Thị Giảng Dư Gia Tân)
Bành Thành xanh núi chập chùng quanh,
Như bình phong ngọc lẫn mây xanh.
Cuồn cuộn Hoàng Hà ngấm lòng đất,
Đông nam sủi bọt sóng dồn nhanh.
Hoàng Hạc lầu cao lơ lững trông,
Lên cao nhìn xa ba ngàn dậm,
Trước đài Hạng Vương nắng xế hồng,
Trên mồ Quán Quân nổi gió thảm.
Trời hoang đất cũ chiến trường xưa,
Anh hùng nghìn xưa nay đâu trận mạc ?
Nhà ta ở tận cõi Nam xa,
Tay cầm tiết ngọc lên lầu Hoàng Hạc.
Tay xoa nét chữ thơ Đông Pha,
Bình sinh chẳng phụ chí du lịch.
Thơ Phạm Sư Mạnh, Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU
(tẩu bút thị Bắc Sứ Thị giảng Dư Gia Tân)
Thanh sơn điệp điệp vi Bành Thành,
Xâm vân sáp Hán thanh ngọc bình.
Hoàng Hà thao thao tẩm khôn trục,
Khiêu ba tiện mạt đông nam khuynh.
Hoàng lâu khởi xuât bán thiên lý.
Hạng Vương đài tiền lạc nhật hồng,
Quán Quân mộ thượng bi phong khởi.
Thiên hoang địa lão cổ chiến trướng,
Thiên tải anh hùng kim dĩ hĩ !
Ngã ngã viễn tại Giao Nam đầu,
Thủ trì ngọc tiết đăng Hoàng Lâu.
Ma sa thạch khắc Pha công Tự,
Như kim bất phụ bình sinh du.

Nguyễn Tông Khuê (1693-1767), Hội nguyên Tiến sĩ Khoa Tân Sửu (1721), làm Phó sứ sang nhà Thanh năm 1742 và trở về năm 1745 với Chánh sứ Nguyễn Kiều. Năm 1748 Khuê làm Chánh sứ sang nhà Thanh. Trong Sứ Trình Tân Truyện, thơ lục bát chen lẫn với thơ Đường luật chữ Nôm 670 câu lục bát. Đoạn tả cảnh Hoàng Hạc Lâu ông viết như sau (từ câu 315 đến 340):

Vũ Xương có cảnh thờ lơ,
Nước thu Hán Miện thành người Kinh, Tương.
Non từng cuốn rũ Phượng Hoàng,
Một doi Anh Vũ giăng ngang giữa dòng.
Bến tiên đá gấm trùng trùng,
Ngô Vương trước đã cắm cung chốn này,
Của ngon vật lạ đủ thay,
Bích đào, hồng hạnh chốn này khá ưa.
Ông tiên cỡi hạc bao giờ,
Lầu còn chần chẩn đứng chờ bến sông.
Một thơ Thôi Hiệu ngoan nồng,
Làm cho gát bút, mếch lòng thơ tiên.
Xóm nhà giàu của lớn thuyền,
Thông mười bốn tỉnh hợp miền Hán Dương.
Người người khói khói lạ dường,
Chẳng mưa cũng sấm, chẳng sương cũng mù.
Quy Sơn trên núi có chùa,
Tình Xuyên có gác bốn mùa phong quang.
Mới hay sông Hán, sông Giang,
Đã dài muôn dậm lại ngang muôn tầm,
Hạ thiên nước lũ ầm ầm,
Bốn bề lai láng đã kham lòng người,
Chu nhân ấy cũng nực cười,
Thờ ơ rước trúc đón mai lần lần.
Non Kinh nguyệt đã kề gần,
Chào ai cầm gảy Nam Huân đòi ngày.
(Tinh tuyển Văn học Việt Nam tập 5. Văn học thế kỷ XVII. Nxb KHXH, Hà Nội 2004)

Lê Quý Đôn (1726-1784), môn sinh Nguyễn Tông Khuê. Năm 1761 Cảnh Hưng thứ 21 đời Lê làm Phó sứ (Chánh sứ là Trần Huy Bật) có viết bài thơ Hoàng Hạc Lâu trên đường về, nhân ở thành Vũ Xương tặng quan Khâm sai nhà Thanh và quan Chánh sứ:

LẦU HOÀNG HẠC
Ngoài gác Tình Xuyên thuyền lại đưa,
Trước lầu Hoàng Hạc nhớ chơi xưa.
Cỏ thơm hệ lụy niềm thương hận,
Mây trắng còn nguyên thu năm qua.
Núi xanh mồn một dường quen biết,
Sáo ngọc miên mang chẳng thiết tha,
Vời ngóng quê Nam gần chút nữa,
Nhìn khói trên sông bớt nhớ nhà.
Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:
HOÀNG HẠC LÂU
(Trú Vũ Xương thành giản Khâm sai Quan khiêm trình Bản bộ Thái sứ công)
Tình Xuyên gác ngoại hựu phương chu,
Hoàng Hạc lâu đầu ức cựu du.
Phương thảo phi quan tiền cổ hận,
Bạch vân hồn tự khứ niên thu.
Thanh sơn lịch lịch như tương thức,
Ngọc địch mangmang bất khả cầu.
Nam vọng gia hương kim giáo cận,
Yên ba giảm khước nhất phân sầu.

PHẠM TRỌNG CHÁNH
(xem phần 2)


[1Cuối đời Hán, Hoàng Tổ làm chức Thái Thú ở Giang Hạ, con cả là Hoàng Sạ mời nhiều khách vào trong bãi uống rượu, giữa lúc ấy có người dâng con chim anh vũ. Nễ Hành liền làm bài thơ phú Anh Vũ để tả buổi vui chơi đó. Từ đấy người ta mới gọi là bãi Anh Vũ.