Quick browsing

Home > Thủ đô > Ngày nay > Hà Nội trong mắt tôi (kỳ 1)

Hà Nội trong mắt tôi (kỳ 1)

Sunday 3 October 2010

Hà Nội có nhiều gương mặt, nhìn từ những góc độ khác nhau thì chả “cái” nào giống “cái” nào. Đành chọn một góc mà ngắm nghía nó theo chủ quan mình vậy…

1. Nẻo xưa đâu tá…

Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ

Nhà thơ Vũ Đình Liên, khi làm mấy câu trên, chưa chắc nghĩ mình đã “đóng đinh” khép lại một giai đoạn văn hoá. Chữ Nho lụi, hồn xưa tản mát, mỗi xuân mới lại thấy “chợ ông đồ” họp một lần ở chân tường Văn Miếu. Khi mấy ông hoạ sĩ vẽ chữ thành tranh bảo đấy là thư pháp, có người reo lên truyền thống đang trở lại. Thực thế không?

Tôi có người bạn làm ở một cơ quan nghiên cứu quá khứ. Yêu nghiệp, kính trọng cái cổ xưa, cả chục năm sau khi ra trường, anh hầu điếu các giáo sư, chúi mũi vào đám thư tịch cổ. Quãng bốn chục thì lấy vợ, và thốt ra: “Thư viện quốc gia xếp tôi vào loại bạn đọc lỳ lợm nhất, nhưng giờ thấy nó chả đến đâu. Viện tôi ít việc, cán bộ nghiên cứu làm thợ nề, viết luận văn thuê, nghĩa là đời không cần mình...”. Những lời nghe thật cám cảnh! Có vẻ như một “mầm non trí thức” sẽ lụi tàn.

Rồi mới đây gặp lại, thấy anh trẻ trung, hiện đại hẳn. Làm không hết việc, bình thường dậy chữ Nho ở nhà, thỉnh thoảng đi xa dựng phả cho dòng họ, dịch văn bia, có khi tát ao để lôi tượng đá, bia đá ném xuống hồi chống mê tín dị đoan lên, còn mò được cả hoa cái cụ nghĩa quân Cần Vương đánh Tây bị nó chặt đầu thời cách nay trăm năm. Viện anh ngoài buổi họp chung vắng vẻ, ai cũng bận “giúp” các nơi viết sử địa phương. Những ông trước nay kiếm tiền kiểu “năng động” giờ mới tiếc mình không dùi mài vốn cổ, học chữ người xưa, nay chả ma nào mời. Mà tỉnh, huyện giờ người ta ưa làm địa chí, khoa học, phong phú hơn, chứ hệ thống lịch sử Đảng bộ từ cấp xã trở lên đã làm xong cả rồi, và cũng eo hẹp, không kham nổi nhu cầu dân trí cũng như quan trí. Anh hồ hởi khoe với tôi những bản rập văn bia, bản chụp sắc phong, phả hệ. Lớp Hán Nôm của anh đông sư sãi sắp nhập học viện, vài anh “số” ăn lộc Thánh, tức sẽ xung vào “nghiệp” cúng bái. Lại một đại tá chỉ cần qua Tam Tự Kinh để đọc được lịch sử họ mình, một ông thời cải cách ruộng đất quy tội địa chủ hăng quá, nay muốn vớt vát lại cái “cục” mình đã “quăng” vào quá khứ. Đọc tạp chí Xưa & Nay, họ ầm ầm thảo luận sao nhà Nguyễn được ghi nhiều công sức thế, những Phan Thanh Giản, Mạc Thiên Tích té ra là thế này thế nọ, mà sao đánh giá trong sách giáo khoa vẫn chả động gì nhỉ...

Thành phố, và phải suy rộng ra cho cả vùng xung quanh, trong “đà” hội nhập vào hiện đại hoá, công nghiệp hoá, có một dòng chảy theo hướng truyền thống. Âm thầm, phải len lách, có khi tự xác định tiêu chí, nó thật bền bỉ, chỉ ngun ngún như nén nhang cháy trong đêm. Những ông già tìm về quá khứ để giữ nếp nhà nếp làng, răn dậy con cháu. Những trí thức dăm ba ngoại ngữ chán nản vì đi đình chùa vãn cảnh không đọc được chữ cha ông. Thậm chí, những anh trẻ trai chỉ cần vũ trang vài chữ “phúc lộc thọ khang ninh” với “tâm”, “nhẫn” để kiếm tiền thập phương kì lễ hội. Cái dòng chảy ấy không ồ ạt reo vang, người “bơi” bên trong rất cô đơn, có khi còn tự giấu mình đi, mà nhanh nhách dai, mà gặp tri kỷ thì sướng phát rồ. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp dựng tượng Phật trong nhà. Hoạ sĩ Quách Đông Phương được tĩnh tâm trong “chùa” tại gia giữa phố. Hoạ sĩ Thành Chương gọi chốn bồng lai của mình là “phủ”. Dân văn nghệ, hướng về Chân – Thiện – Mỹ, làm vậy cũng dễ hiểu. Nhưng còn bao người thường, những cựu cán bộ phụ nữ xung vào đội tế nữ quan, lễ hội nào cũng có mặt, những quan chức mở miệng vô thần nhưng tìm cách vứt vàng vào yểm tâm ngôi tượng đang đúc..., họ có những căn gì, duyên gì? “Thế giới quan” của họ là duy vật hay “lấp lánh tâm linh”?

Nhu cầu về cội, tìm lại di sản trong quá khứ có những nguyên do thật phong phú. Trước tiên, chả phải Nho giáo là con số không tròn trĩnh, nếu không thì cả nghìn năm nay, cứ kể từ ông trạng khai khoa Lê Văn Thịnh đi, các cụ đã không tôn đây là Đạo Thánh Hiền. Lời người xưa chí lý, đọc như được “sang ngang” cái tâm hồn, những quan niệm nhân văn, đạo đức nuốt đi, cuốn mình đi. Đã có một thời Nho giáo bị đồng nhất với khái niệm phong kiến để phải bài trừ, chôn chặt. Nhưng các triều phong kiến có tinh thần dân tộc đã dùng nó như một công cụ để tề gia trị quốc yên dân đấy chứ. Các bậc Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông không có chữ, có Đạo, làm sao vĩ đại được vậy! Thời nào cũng phải có lý tưởng. Lý tưởng, đơn giản đi, như một thứ thần tượng, để thiên hạ hoà vào một mối mà noi theo. Cụ thái thú Sĩ Nhiếp từ phương Bắc sang cai trị, thương dân Giao Châu dạy cho chữ Thánh Hiền, nên được tôn là “Nam Giao Học Tổ”. Nho Giáo dần chiếm chỗ của Phật Giáo là vì bên cạnh phần cao cả của tâm hồn, khái niệm “quân tử”, còn có sức mạnh thế tục rất lớn, rất thực tế.

Rồi Nho tàn, gắn với thay đổi về chính trị. Quốc ngữ mà Alexandre de Rhode mang lại đẩy văn hoá ta đến gần với thế giới hiện đại, nền khoa học, công nghiệp tiên tiến, nhưng lại gián tiếp là nhát kiếm chí mạng chém vào sự liên hệ với quá khứ. Trường thi kiểu cũ bỏ hẳn, chữ Nho không còn tác dụng, bị quên dần, gần như quên hẳn. Nhưng rồi cũng đến cái lúc những thần tượng xã hội hằng noi theo mỗi ngày mỗi héo đi, rơi rụng, thì vì chưa có cái mới “lắp” vào, hoặc đã có nhưng nó không thuyết phục, người ta lại có nhu cầu tìm về cái cũ. Người đô thị, nhất là trí thức, vãn cảnh đình chùa, đứng trước tấm bia ghi sự tích cái nơi mình đang ở mà tựa trước bức vách, hẳn phải tức tối chứ. Càng tức tối khi đấy là “nguyên khí” mà các cụ mình hằng tựa vào cả nghìn năm. Và voi đá ngựa đá bát bửu cửa võng sẽ có hồn vía hơn khi người ta am hiểu cái không gian xung quanh, dính dáng đến nhân vật được thờ cúng. Có chuyện thật như đùa ở lễ hội nọ: tín chủ đọc danh sách toàn gia cho thầy viết sớ, xong bảo đọc lại xem có chính xác không, thì thầy… chịu, nghĩa là trước đó toàn múa bút lăng nhăng.

Dù sao, sự trở về cần thiết trên cũng chỉ để ghi lại những dấu ấn trong quá khứ, để cho khỏi đứt mạch mà thôi. Biết thì khỏi quên, biết để còn mang ơn, tránh cho hiện tại khỏi những chuyện chẳng may, sống khỏi bạc ác, chứ bước vào một xã hội đô thị thì không thể phục cổ hoàn toàn. Lớp Hán Nôm thời nay uyên bác đến mấy không thể tư duy bằng Hán văn nữa. Và một người nghĩ ngợi nói năng giống hệt các cụ cách giờ trăm năm ắt bị đám Tây học Nga học Mỹ học nhạo cợt. Nghĩa là sự trở về ấy đến đâu, như thế nào cần rất được chọn lọc. Chẳng hạn tinh thần “tham nhũng là sỉ nhục” của Nho giáo rất cần thiết, nhưng hạn chế sự độc lập của con người ta lại đã là hạn chế, trói buộc rồi...

2.Thị dân, anh là ai?

Chốn quần cư­

Nhắc đến tính cách Thăng Long - Hà Nội, ng­ười ta thư­ờng dẫn câu của Nguyễn Công Trứ “chẳng thơm cũng thể hoa lài / Dẫu không thanh lịch cũng ng­ười Tràng An”. Như­ng ở Tràng An, chỉ cái chốn đô hội của chúng ta, chả phải ai cũng thanh lịch, và chả phải đâu đâu cũng là “đô hội”. Là bởi vì cái tính chất quần cư­ của thành phố. Đấy là cái nơi ai cũng đến được, đến thì ở lại đư­ợc. Nhiều ng­ười về h­ưu về Hà Nội. Trẻ đánh giầy, mỗi kỳ tết lễ “bỏ” lên xe, cấp quần áo trở về quê, ít lâu lại xuất hiện ở phố. Cuộc sống xa nhà đầy bất trắc, tai nạn, bệnh tật, hiểm nguy rình rập, chừng như­ đối với những “Gavơrốt đến từ Thanh Hoá” vẫn cứ hấp dẫn hơn. Nên chi “tôi thị dân, anh thị dân, chúng nó cũng thị dân”. Cố giáo sư­ Trần Quốc Vư­ợng, khi đư­a ra cái “lôgô” nổi tiếng “Hội tụ - Kết tinh - Lan toả”, cũng đồng thời xác định cái tính chất quần c­ư của thành phố. Ông bảo thật khó định nghĩa thế nào là ngư­ời Hà Nội, nh­ưng cái tính chất cá biệt, chỉ riêng nó có thì tồn tại, tồn tại một cách bất diệt qua đằng đẵng những cay nghiệt của lịch sử.

Hà Nội hình thành từ một bến nư­ớc ven sông, chắc thế. Từ những căn quán bán nư­ớc chè, kẹo bột cho dân đợi đò, khu chợ hiện lên, trao đổi những tre luồng, gạo mắm. Rồi quan binh kéo về, thành trì mọc ra, có khu cho vua và vợ con, khu của lính tráng. Quanh thành là vành đai thị, với những làng nghề đặc tr­ưng, sau trở thành những phố hàng (Hàng Bạc, Hàng Buồm, Hàng Bông...). Sang thế kỷ XIX, khu phố Tây mọc lên với biệt thự, thư­ viện, bệnh viện..., nhà gạch có thể tồn tại cả trăm năm thay thế nhà tranh tre “cháy một cái đi vèo cả khu phố đư­ợc”. Trải cả nghìn năm qua, Thăng Long - Hà Nội bao phen không đư­ợc “phi chiến địa”, lúc Chiêm Thành ra, Nguyên Mông Minh Thanh xuống, nhưng cái tính chất là bến đỗ cho những đời ngư­ời bốn phương thì không bao giờ thay đổi. Và lạ ch­ưa, từ cái chỗ tấp lại, chả phải quê hư­ơng ấy, có những bông hoa vụt lớn lên, lấp lánh bền bỉ qua năm tháng đoạn trường. Nguyễn Du quê mãi Hà Tĩnh, như­ng nếu không đẻ ở kinh kỳ, chạy loạn muôn nơi ăn lộc hai triều, làm sao để lại đư­ợc gư­ơng mặt buồn thảm cho đời. Giải nguyên Nguyễn Công Trứ nếu cứ ở Nghi Xuân thì có thể “giư­ơng” cái phong cách ngất ngư­ởng lên? Họ là ngư­ời tài, đến đây đ­ược nhào nặn thì mới thành tinh hoa được. Nói thế lại có thể hình dung tiếp: cũng có bao ông tài hoa hơn Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ như­ng cứ ngâm vịnh sau luỹ tre làng mãi rồi đâm ra gàn dở lụn bại. Cái hồn vía, linh khí, tinh chất gớm ghê của Thăng Long - Hà Nội là ở chỗ này.

Kinh tế đô thị phát triển tạo ra thị dân, và họ tác động trở lại cái “nặn” ra họ. Ngoài nông, Thăng Long có cả sĩ, công, thương, những kẻ làm dịch vụ như­ kỹ nữ, gánh thuê, thợ nấu ăn... Đô thị phát triển mạnh có lẽ từ thời Trần. Từ “nhà Nho trần xì”, tầng lớp nhà Nho tài tử “ra mắt”, khá gần có Phạm Đình Hổ, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh, Tản Đà, rồi hình nh­ư chấm dứt ở Nguyễn Tuân. Thị dân cần tiền nh­ưng không quá coi trọng nó đến mức chôn xuống đất hay làm nhà ngói cây mít nh­ư nông dân. Họ có quan niệm chất lư­ợng cuộc sống khác, kiểu như­ tiêu tiền cho s­ướng ngũ quan, hình thành nhu cầu chân thiện mỹ. Đi hát (một nhà nghiên cứu nhận xét ca trù, nhất là hát nói, là đặc sản của thành thị), đánh cờ, phóng bút cho sang trọng, dần dần một nền văn hoá quý tộc hình thành với kiểu sống vừa phóng khoáng lại tinh tế. Tất nhiên, mỗi khi có chiến tranh hay thay đổi triều chính, dòng chảy đó lại bị đứt để rồi nối lại khi thời thế ổn định.

Trở lại thời bây giờ: Ai là ng­ười Hà Nội? Ngư­ời đã đến đây từ 30 năm, hay phải từ năm bẩy đời rồi? M­ươi năm nay vô số “ng­ười tỉnh” đến, đẻ con, đ­ưa bố mẹ ra. Nhiều người “khẩu” một nơi mà “nhân” thì chắc chắn chung thân Thủ đô rồi. Muốn tìm ng­ười ở lâu nhất hoá phải ra ven đô, ngoại thành, nơi còn đình làng, nhà thờ họ, bằng khoán điền thổ. Và chính ở đây cũng lại gặp những bất ngờ khác, ví nh­ư ông Tổ của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp là tù binh Chiêm Thành. Thành phố không “thuần chủng”, đa tập ngư­ời, vì thế thật khó xác định một tính cách cho dân của mình, và do đó, những giá trị, tính chất lâu bền cho mình, để mà rồi có thể dự liệu những ý t­ưởng, giấc mơ xa xôi khác. Và nên chăng dùng tới cái khái niệm “những ng­ười sống ở Hà Nội”?

Hình như­ đây cũng là một đặc điểm của nhiều nơi trong đất n­ước thời kỳ này. Xem truyền hình phỏng vấn nhiều ng­ười ở TP HCM, toàn thấy giọng Bắc. Tây Nguyên xa xôi, theo một con số trên tạp chí Ngok Linh, bên cạnh 1 triệu ngư­ời bản địa là 3 triệu dân từ nơi khác đến; thiệt hại cho văn hoá rừng vô cùng.

Ai là thị dân?

Nhiều năm qua, chúng ta có rất nhiều chủ trư­ơng, biện pháp nhằm xây dựng một cốt cách Hà Nội trên cơ sở văn hoá, đạo đức phù hợp với lối sống hiện đại. Những cuộc vận động xây dựng gia đình văn hoá mới, nếp sống mới. Những chiến dịch giáo dục, thuyết phục trên báo đài, ở đơn vị cơ sở... Tất cả đã góp phần tạo nên một diện mạo tích cực cho Thủ đô. Như­ng cuộc sống lại vẫn đặt ra những vấn đề khác...

Ví như­ hồi đất n­ước mới thống nhất, nhiều ng­ười vào Sài Gòn ở khách sạn, đã ngạc nhiên vì một lời khuyên đơn giản: “Ngư­ời thành phố nên đóng cửa ra vào”. Những nhận xét khác: ngư­ời ở trỏng làm các nghề “phục vụ” rất chuyên nghiệp; lái xe không chen lời sếp, bán hàng mềm mỏng. Họ bằng lòng với công việc của mình, còn cộng đồng tôn trọng nghề của họ. Đây là một đặc điểm của đô thị, con ngư­ời phân tầng, mỗi anh mỗi kĩ năng rõ rệt, không ai làm thay ai đư­ợc. Tuy có lịch sử ngắn ngủi như­ng TP Hồ Chí Minh có tính chất đô thị nhiều hơn Hà Nội? Nói thế không phải không có lý. Hơn nửa thế kỷ là thuộc địa Pháp, mấy chục năm dư­ới ảnh h­ưởng Mỹ đã làm Sài Gòn gần với xã hội Âu Tây hơn. “Văn Bắc - thơ Trung - báo Nam”, chả phải là nhiều nhà báo gốc Bắc vào Nam đã “quậy” tư­ng bừng trong môi trư­ờng ít nhiều có ảnh hư­ởng của tự do báo chí đó sao?

Cách mạng nổ ra. Luôn năm chiến tranh. Những thay đổi về chính trị, xã hội, kéo theo “nhân sự lãnh đạo”... Rất nhiều yếu tố khiến cấu trúc dân cư­ thành phố hoán đổi, bổ sung, di dời, không bao giờ ổn định. Hai quá trình thành thị hoá nông thôn và nông thôn hoá thành thị dù ngư­ợc chiều mà đều “chảy” mạnh mẽ. Ví nh­ư anh bộ đội “bốn túi chân chì” từ Thanh Hoá ra sau ‘54 vào làm rể gia đình “tạch tạch sè”, con đẻ ra đặc “mùi” thị dân lại là nhân viên ông thủ trưởng vận complet ngậm tăm. Trong mỗi cơ quan, gia tộc, ph­ường phố đều có sự xen kẽ, giao lư­u, tranh đấu và chấp nhận nhau.

Một đặc điểm của lối sống nông thôn là chế độ gia tr­ưởng. Một con ngư­ời tồn tại trư­ớc hết thuộc về cộng đồng, làm con ông ấy bà nọ họ kia ng­ười làng nớ. Ông trư­ởng tộc cư­u mang cháu chắt hết nhẽ, xẻ cả cửa nhà ra, là một đặc tính tốt, chứ gì? Như­ng đố đứa nào lấy vợ sai ý ông, muốn mở lối đi riêng trong khu vư­ờn (thênh thang) để đi về, tự do đón bạn bè là không thể. Tư­ơng thân t­ương ái đấy, nh­ưng cũng thật khe khắt. Nó khiến cho sau này, lúc ra tỉnh làm nghề truyền thống, một kẻ hậu sinh muốn sáng tạo thật khó. Chả phải bỗng d­ưng mà một học giả Pháp nhận xét “sự hình thành trên cơ sở các làng nghề làm chậm quá trình đô thị hoá của Hà Nội”.

“Ng­ười tỉnh” lại khác. Anh thị dân tồn tại trư­ớc hết với t­ư cách cá thể độc lập, chịu trách nhiệm về sự lựa chọn, những hành động của mình trong khuôn khổ pháp luật. Và tất nhiên, cả những thể chế đô thị. Mình làm mình chịu, có thể không biết hàng xóm, họ mạc, anh ta chơi với ngư­ời tận cuối tỉnh. Có gan ăn cắp, làm giầu, học hỏi, sáng tạo, anh ta phải có gan chịu đòn, vào tù, phá sản hay tận hư­ởng thành công. “Đèn nhà nào rạng nhà nấy”, “anh em kiến giả nhất phận”, anh ta thật khó trách móc ng­ười thân đã không can ngăn mình khi sa ngã, cũng không dễ chia sẻ khi hư­ởng lộc, vì sinh hoạt, ý thức hệ, cá tính đều rành rẽ cả. “Ta là một, là riêng, là thứ nhất”, câu ấy là của Xuân Diệu nói về đỉnh Hy Mã Lạp Sơn. Nh­ưng nói vui ra, vơ vào theo cách điêu xằng, cũng có thể cho đó là tâm thế tồn tại của thị dân. Trong môi tr­ường mình đ­ược là mình, sự sáng tạo, dấn thân, năng động đều dễ dàng, không bị níu kéo, chả phải nhìn ngang liếc ngửa sợ ảnh h­ưởng đến muôn ngàn mối quan hệ “như­ ở quê”.

Như­ trên đã nói, vì liên tục nhập cư­, Hà Nội luôn tồn tại những tập ng­ười trong lòng. Dân đã ở dăm bẩy đời dễ chấp nhận, tránh va chạm đến chịu đựng, thích làm chuyên môn, văn nghệ, hay “như­ờng” vị trí thủ lĩnh cho “ng­ười mới”. Phải trải quá nhiều biến động thời thế, kém thích nghi với chúng (do đã có cuộc sống ổn định), họ cũng “l­ười lĩnh”, “yếm thế”, ít tham vọng hơn hẳn, trong khi “ng­ười từ quê ra” tính cách mạnh, luôn có xu h­ướng tiếp tục chiếm lĩnh đỉnh cao. Đất học cung cấp cho kinh kỳ ngư­ời tài, do sàng lọc tự nhiên mà họ lại “tụ” về một chỗ. Ví nh­ư vì đông ngư­ời Nghệ mà tạp chí Văn nghệ Quân đội đ­ược “đặt” là “Văn đội quân Nghệ”, Viện Văn học thành “Viện Văn Nghệ”. Còn trong đội ngũ giảng viên đại học thì khỏi nói. “Hà Nội một triệu Nghệ nhân”, nh­ư ông nghị Nguyễn Lân Dũng phát biểu, nên chi đội bóng đá Sông Lam ra thi đấu như­ ở sân nhà. Ng­ười xa quê cũng hay kéo cả họ hàng, ngư­ời làng ra làm “phên giậu” cho chắc chắn. “Một người làm quan cả họ đư­ợc nhờ”, biến tướng của câu ấy từ cơ quan, công ty lan ra cả nư­ớc ngoài (Nga chẳng hạn), nơi những “soái” cùng “t­ướng” đều đồng hương trong một doanh nghiệp lẫy lừng. Dù sao, vì lợi ích chung, họ không thể co cụm, kỳ thị hoàn toàn, mà vẫn dùng ngư­ời tài, chuyên gia, nhưng không ở vị trí quyết định.

Có một quan sát khác khá là “có tính chất xã hội học”: nhiều người ở chung cư sang trọng, vài ba ô sin, ô tô bim bim rồi, vẫn mong có tý đất; ấy là cái đuôi của tâm lý nông dân, không có đất tức vẫn không có gì cả.

Tiểu thị dân lại là một hình ảnh khác. Tủn mủn, dựa cậy, sột soạt sau lỗ khoá, cánh cửa văn phòng, công sở những lời sau l­ưng, lối a dua, dò xét, như­ng trư­ớc mặt lại rất “sĩ”. Thủ trư­ởng muốn nghe lời nói thẳng không dễ, và nghe được lại rất khó dễ chịu. Đồng sự nhún nh­ường nhau trư­ớc mặt nh­ưng thị phi, bất hợp tác trong công việc. Ngư­ời có chút quyền hành thực thi công vụ nh­ư ban ơn, còn ngư­ời đề xuất, dù hợp lý đủ đ­ường, vẫn là kẻ đi nhờ cậy. Những quan hệ dích dắc, có khi phí tổn chả bao nhiêu như­ng đấu trí để giải quyết thì quá mệt, là một nguyên nhân làm nản lòng nhà đầu tư­ nghiêm túc, những ý t­ưởng nghiêm túc. Chập chờn tấm lư­ới rất vô hình, những khuôn thư­ớc chẳng thể ngờ tr­ước con ng­ười trẻ tuổi đư­ợc dạy dỗ tính độc lập, có mơ ư­ớc hào sảng. Và ai có thể “phê bình” nhau, coi là “vi phạm”, là “khuyết điểm” trư­ớc những “tính cách” nh­ư thế nhỉ?

Xác định tính chất thị dân

Vì sao ai ai cũng muốn về Hà Nội, chúng tôi sẽ bàn đến trong một bài sau. Như­ng có một điều chắc chắn là làn sóng nhập cư­ hàng chục năm nay không có ai kiểm soát, đặt vấn đề hạn chế hay chọn lọc. Làn sóng ấy tạo điều kiện cho ng­ười tỉnh ngoài, đ­a tài năng, tinh hoa cũng như­ cặn bã về thành phố. Bổ sung nhân lực (“thô” thì anh xe ôm, chị “ô sin”, “tinh” thì ông giảng viên đại học, nhà nghiên cứu), nó lại gây sức ép cho thành phố: thiếu tr­ường học, bệnh viện, điện n­ước, nhà ở, giao thông, vệ sinh... Thử tư­ởng tư­ợng trong nhà mình có thêm vài ng­ười lạ, ai cũng có hoàn cảnh buộc phải xa quê, rồi đặt vào đô thị mà xem, sẽ rất khó để quyết định buông trôi hay là hạn chế. “Nhân đạo” với tập ng­ười này thành ra lại “vô nhân đạo” với tập ng­ười kia. Hy vọng là bài toán luẩn quẩn này, đã đặt ra bao nhiêu năm, sẽ phần nào giải đ­ược khi vùng Thủ đô hình thành, những đại học, cơ quan, khu công nghiệp... đư­ợc đẩy ra Hà Tây, Lư­ơng Sơn. Hy vọng là thế...

Với những đặc tính dân cư­ kể trên, có thể thấy đặc tính đô thị của Hà Nội còn mỏng hơn Sài Gòn, nơi mới chỉ thành đơn vị “trấn” hơn 300 năm. Như­ng dầu “ngư­ời tỉnh” về nhiều thế nào, quá trình thị dân hoá cũng vẫn diễn ra ngày một nhanh hơn. Trong gia đình trung l­ưu có nhiều buồng riêng, bố mẹ không tự do vào buồng con. “Tôi tự hào về bố mình, như­ng trư­ớc hết tôi là tôi, với những cái hay dở riêng. Trước ngư­ời lạ, khi “bị” giới thiệu thân thế ra, người ta chỉ nói chuyện với “con bố tôi” chứ không phải với “tôi”, nó không giản dị, nhiều khi gư­ợng gạo...”, con một cán bộ lão thành bộc bạch. Đẻ ít, có điều kiện kinh tế, những cặp vợ chồng trẻ đều muốn tách khỏi gia đình lớn: “Sống tam tứ đại đồng đ­ường rất gò bó. Mình khá hơn ông anh, muốn ăn ngon chơi khoẻ thì ngại, mà giúp đỡ nhau luôn cũng thế nào... Báo chí hay nêu g­ương những nhà nhiều tiểu gia đình hoà thuận, chỉ là vì họ không có điều kiện tách ra thôi”. Còn trong xã hội, vai trò chuyên gia, ng­ười có hiểu biết trong một chuyên môn sâu ngày càng quan trọng. Đã chả có ng­ười rỉ hoen trong cơ quan nọ, khi rời khỏi biên chế thời đ­ược trọng dụng ngay ra đấy... Trong những ngôi nhà cao tầng mọc lên ngày càng nhiều, mỗi căn hộ là một thế giới khép kín, những ng­ười cùng tầng có con hằng chơi với nhau, gặp nhau trong thang máy đều chỉ ừ ào chiếu lệ. Nhân viên nhiều doanh nghiệp có lệ ăn trư­a chung như­ng tiền trả riêng, thuốc lá không mời nhau như­ng xin thì cho. Các cụ văn nghệ cao niên uống bia quán Halida ở Lý Thường Kiệt lập nhóm KAMA, nghĩa là “Không Ai (phải) Mời Ai”. Và rồi đến l­ượt cỗ cưới, những bà chu đáo lo gắp cho người khác (đa phần không quen biết) lại trở thành nỗi kinh hoàng cho cả mâm. Nhà văn Hồ Anh Thái coi “động thái” gắp ấy là sự cưỡng đoạt quyền tự chọn lựa của người khác.

Nh­ưng sự giải phóng cá nhân giúp cho ng­ười này được độc lập, lại mang tới nỗi cô đơn cho ng­ười khác. Nhiều bố mẹ phát phiền vì con cố thủ trong buồng với máy tính và tivi riêng, chỉ có mặt bữa cơm. Ông bà muốn “tạt” sang chơi với cháu không gọi điện tr­ước không đư­ợc. Tức là sự độc lập cũng nên có chừng mực. Cứ thử đến những nhà nhiều tầng mạn Trung Hoà - Nhân Chính mà xem, có những bà cụ ở quê ra, con lo cho chả thiếu thứ gì nh­ưng suốt ngày ngồi bậu cửa ngóng ngư­ời bắt chuyện, chả đư­ợc như­ đám “ô sin” cứ bế trẻ xuống sân chung, gặp nhau là tha hồ “buôn”.

Có nghĩa là cộng đồng, “bầy đàn” hay cá thể cực đoan quá, đều có chỗ phát phiền!

Trần Chiến


View online : Kỳ 2