Trang nhà > Thủ đô > Hôm qua > Hoàng Diệu (1828-1882)

Hoàng Diệu (1828-1882)

Thứ Sáu 26, Tháng Giêng 2007

Ông tên thật là Hoàng Kim Tích, sau mới đổi là Hoàng Diệu, tự là Quang Viễn, hiệu Tỉnh Trai, sinh ngày 10 tháng 2 năm Mậu Tý (1829), trong một gia đình có truyền thống nho giáo tại làng Xuân Đài, huyện Diên Phước (nay là Điện Bàn), tỉnh Quảng Nam.

Hoàng Diệu 20 tuổi đỗ cử nhân khoa Mậu Thân 1848 thi hương tại Thừa Thiên. 25 tuổi đỗ phó bảng khoa Quý Sửu (1853), trước đó 2 năm ông được vua Tự Đức bổ nhiệm làm Tri huyện Tuy Phước rồi Tri phủ Tuy Viễn (Bình Định). Một thời gian sau ông bị giáng, đổi về Tri huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, rồi lại thăng làm Tri phủ tại Đa Phúc (Phúc Yên), Lạng Giang (Bắc Giang), tiếp tục thăng làm Án sát Nam Định, rồi Bố chánh Bắc Ninh.

Năm 1873 ông được triệu về kinh đô Huế giữ chức Tham tri Bộ Hình rồi Tham tri Bộ Lại, kiêm quản Đô Sát Viện, dự bàn những việc ở Cơ Mật Viện. Năm 1878, đổi làm Tuần phủ Quảng Nam, thăng Tổng đốc An Tịnh (Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay), nhưng vì nguyên Tổng đốc Nguyễn Chính vẫn lưu nhiệm nên ông ở lại Huế, làm Tham tri Bộ Lại [1]. Chẳng bao lâu sau, ông được sung chức Phó Toàn quyền Đại Thần đàm phán với Sứ thần Tây Ban Nha một hiệp ước giao thương.

Suốt 30 năm làm quan nhiều nơi, cảnh nhà vẫn thanh bạch, nghèo túng. Tuy nhiên, tại các nơi ông cai quản trật tự xã hội rất nghiêm minh, không có tình trạng trộm cướp, áp bức dân lành. Ông rất được vua Tự Đức tin dùng.

Đầu năm 1880, Hoàng Diệu nhận chức tổng đốc Hà Ninh, lãnh chức hàm Thượng thư bộ Binh, kiêm quản cả việc thương chính. Biết rõ dã tâm xâm lược của thực dân Pháp lúc bấy giờ, Hoàng Diệu bắt tay ngay vào việc chuẩn bị chiến đấu, bất chấp triều đình Huế đã chấp nhận đầu hàng.

Mặt khác, Hoàng Diệu quan tâm ổn định đời sống của dân chúng. Ngày nay, ở Ô Quan Chưởng vẫn còn trên mặt tường cổng ra vào một phần tấm bia Lệnh cấm trừ tệ (Thân cấm khu tệ), niêm yết năm 1881, của Tổng đốc Hà Ninh Hoàng Diệu và Tuần phủ Hà Nội Hoàng Hữu Xứng, nhằm ngăn chặn các tệ nhũng nhiễu đối với nhân dân trong các dịp ma chay, cưới xin cũng như nạn vòi tiền, cướp bóc trên sông và trong chợ, kèm theo các quy định cụ thể.

Đầu năm 1882, lấy cớ Việt Nam không tôn trọng hiệp ước năm 1873 mà giao hảo với Trung Hoa, dung túng quân Cờ Đen, ngăn trở việc giao thông trên sông Hồng của người Pháp, Đại tá Henri Rivière cho tàu chiến đến hăm dọa và đóng trại tại Đồn Thủy trên bờ sông Hồng, cách thành Hà Nội 5 km.

8 giờ 15 ngày 25-4-1882 (tức ngày 8 tháng 3 năm Nhâm Ngọ), Rivière với 3 tàu chiến là La Fanfare, La Massue, La Hache đã bắn vào thành và đổ bộ 450 người đánh chiếm Hà Nội. Người ra đàm phán sớm hôm đó là hoàng thân Án sát Tôn Thất Bá đã theo giặc. Gần trưa, kho thuốc súng của Hà Nội nổ tung gây cháy lớn trong thành làm cho lòng quân hoang mang. Quân Pháp thừa cơ phá được cổng Tây. Bố chính Nguyễn Văn Tuyển, Đề đốc Lê Văn Trinh bỏ thành chạy, Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng trốn trong hành cung. Một mình Hoàng Diệu vào hành cung, cắn ngón tay lấy máu viết di biểu, rồi ra trước Võ miếu dùng khăn bịt đầu thắt cổ tự tử, hưởng dương 54 tuổi.

Vô cùng đau đớn trước cái chết của ông, ngay hôm sau nhiều người Hà Nội đã họp lại làm lễ tang, rước quan tài từ trong thành ra và mai táng tại khu vườn Dinh Đốc học (nay ở sau ga Trần Quý Cáp, cạnh chợ Ngô Sĩ Liên). Cuối mùa hè, hai người con trai ông ra Hà Nội lo liệu đưa thi hài thân sinh về an táng ở quê nhà.

Vua Tự Đức dù không ủng hộ Hoàng Diệu chống quân Pháp tại thành Hà Nội, vẫn phải hạ chiếu khen ông đã tận trung tử tiết.

Tôn Thất Thuyết, một đại thần kiên quyết chống Pháp đã ca ngợi ông trong hai câu đối:

Nhất tử thành danh, tự cổ anh hùng phi sở nguyện
Bình sinh trung nghĩa, đương niên đại cuộc khởi vô tâm

nghĩa là:

Một chết đã thành danh, đâu phải anh hùng từng nguyện trước
Bình sinh trung nghĩa, đương trường đại cuộc tất lưu tâm

Hoàng Diệu được thờ cùng với Nguyễn Tri Phương trong Trung Liệt miếu trên Gò Đống Đa.


[1theo Thực lục của Cao Xuân Dục