Xem lẹ

Trang nhà > Quan niệm > Quyền lực > Học giả Mỹ bàn chuyện Trung Quốc

Học giả Mỹ bàn chuyện Trung Quốc

Thứ Tư 8, Tháng Chín 2010

Về sức mạnh địa lý của người Trung Quốc

Sau khi giải thích vì sao Á - Âu trở thành điểm tựa địa chiến lược của quyền lực thế giới, nhà địa lý học người Anh Sir Halford Mackinder (1861-1947) cho rằng, người Trung Quốc, nếu mở rộng sức mạnh của họ ra khỏi khu vực biên giới "có thể cấu thành mối đe doạ từ châu Á với tự do của thế giới.

Bắc Kinh có thể với bao xa trên đất liền và trên biển? Mackinder khi kết thúc bài báo nổi tiếng của mình năm 1904 với tiêu đề "Lịch sử của trục địa lý" đã bóng gió nói tới mối lo về Trung Quốc.

Sau khi giải thích vì sao Á - Âu trở thành điểm tựa địa chiến lược của quyền lực thế giới, ông cho rằng, người Trung Quốc, nếu mở rộng sức mạnh của họ ra khỏi khu vực biên giới "có thể cấu thành mối đe doạ từ châu Á với tự do của thế giới chỉ vì họ có thêm mặt tiền đại dương và các nguồn tài nguyên đại lục - một lợi thế mà nước Nga không có".

Mackinder chỉ ra rằng, nước Nga cho dù là một cường quốc trên đất liền thì lại có một mặt tiền đại dương bị băng giá chắn ngang, trong khi đó Trung Quốc lại sở hữu 9000 dặm duyên hải với rất nhiều hải cảng tự nhiên thuận lợi, là một cường quốc trên cả đất liền cũng như trên biển. (Mackinder thậm chí còn e ngại rằng, một ngày nào đó, Trung Quốc có thể chế ngự cả Nga). Tầm với thực sự của Trung Quốc mở rộng từ Trung Á - với sự giàu có khoáng sản và hydrocarbon tới những tuyến đường biển nhộn nhịp ở Thái Bình Dương.

Sau đó, trong tác phẩm Lý tưởng Dân chủ và Thực tế, Mackinder dự báo cùng với Mỹ và Anh, Trung Quốc cuối cùng sẽ dẫn dắt thế giới bằng việc "xây dựng một nền văn minh mới cho 1/4 nhân loại, theo cách không phải phương Đông cũng chẳng hẳn như phương Tây".

Lợi thế địa lý của Trung Quốc hiển nhiên tới nỗi thường bị bỏ sót trong các cuộc thảo luận về phát triển kinh tế cũng như sự quả quyết về lợi ích quốc gia. Có một thực tế là: Trung Quốc đứng ở trung tâm vị trí địa chính trị cho dù con đường tiến tới quyền lực toàn cầu của nước này không hẳn là đường thẳng. (Tỉ lệ tăng trưởng GDP thường niên của Trung Quốc đạt hơn 10% trong 30 năm qua, nhưng chắc chắn không thể kéo dài thêm 30 năm nữa).

Kiểu kết hợp mô hình phương Tây hiện đại với "văn minh dẫn thuỷ" (khái niệm do sử gia Karl Wittfogel đưa ra để mô tả những xã hội trung ương tập quyền để kiểm soát tưới tiêu) của Trung Quốc nhắc tới một Phương Đông cổ đại khi nhờ có sự kiểm soát từ trung ương mà đã thiết lập đội quân lớn với hàng triệu người lao động, xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng vĩ đại.

Điều này tạo ra một động lực cho Trung Quốc khác hẳn với các nền dân chủ khác.

Động lực nội địa của Trung Quốc đã tạo ra những khát vọng bên ngoài. Khi mỗi quốc gia trở nên mạnh hơn, họ sẽ nuôi dưỡng những nhu cầu mới. Dưới sự cầm quyền của một số tổng thống đáng nhớ - Rutherford Hayes, James Garfield, Chester Arthur, Benjamin Harrison - kinh tế nước Mỹ đã tăng trưởng nhanh chóng và êm ả suốt thời kỳ cuối thế kỷ 19. Khi nước này giao thương nhiều hơn với thế giới bên ngoài, lập tực họ phải phát triển các lợi ích kinh tế và chiến lược ở những nơi xa xôi hơn. Đôi khi, tại khu vực Nam Mỹ hay Thái Bình Dương, những lợi ích ấy đã minh chứng cho hành động quân sự.

Trung Quốc ngày nay đang củng cố biên giới đất liền và bắt đầu hướng mạnh ra bên ngoài. Tham vọng chính sách đối ngoại của Trung Quốc cũng gây hấn như những gì Mỹ từng làm ở một thế kỷ trước, nhưng hoàn toàn vì những lý do khác biệt. Trung Quốc không có kiểu tiếp cận tuyên truyền với các vấn đề thế giới, tìm kiếm mở rộng một ý thức hệ hay một thể chế. Tiến bộ về mặt tinh thần trong các vấn đề quốc tế là mục tiêu của Mỹ chứ không phải Trung Quốc. Hành động của Trung Quốc ở nước ngoài được cho là do họ cần đảm bảo năng lượng, kim loại, các loại khoáng sản chiến lược để cung cấp, đảm bảo nhu cầu phát triển, gia tăng mức sống cho số lượng dân cư đông đúc chiếm khoảng 1/5 tổng dân số thế giới.

Để hoàn thành sứ mệnh này, Trung Quốc đã xây dựng những mối quan hệ quyền lực có lợi cho mình với các vùng lãnh thổ lân cận và cả những khu vực xa xôi nhưng giàu tài nguyên, đáp ứng cho họ nguồn nhiên liệu để tăng trưởng. Những gì Trung Quốc theo đuổi ở nước ngoài gắn liền với cái gọi là "lợi ích cốt lõi quốc gia" - sự sống còn kinh tế. Nước này tìm kiếm việc phát triển một sự hiện diện vững chắc khắp các vùng châu Phi - nơi dồi dào dầu lửa và khoáng sản, đồng thời muốn đảm bảo quyền tiếp cận các cảng khắp Ấn Độ Dương cũng như Biển Đông - tức là các vùng biển kết nối với thế giới Ảrập - Ba Tư giàu hydrocarbon với vùng duyên hải Trung Quốc.

Trong quá trình "lùng sục" tài nguyên khoáng sản ấy, Trung Quốc đã có nhiều va chạm với Mỹ cũng như một số quốc gia như Ấn Độ và Nga vốn nỗ lực hạn chế phạm vi ảnh hưởng của Trung Quốc đang ngày một lớn mạnh.

Chắc chắn là, Trung Quốc không phải là một vấn đề cốt lõi với những quốc gia này. Khả năng xảy ra chiến tranh giữa hai nứoc Mỹ - Trung là xa vời, mối đe doạ quân sự Trung Quốc với Mỹ chỉ là gián tiếp. Thách thức mà Trung Quốc đưa ra chủ yếu là vấn đề địa lý - dĩ nhiên là gồm cả nhiều chuyện khác như nợ nần, thương mại và ấm nóng toàn cầu.

Khu vực nổi lên ảnh hưởng của Trung Quốc tại châu Á, châu Âu và châu Phi đang lớn dần, không giống như kiểu đế quốc trong thế kỷ 19 mà khá phù hợp với kỷ nguyên của toàn cầu hoá. Đơn giản là đảm bảo các nhu cầu kinh tế, Trung Quốc đang thay đổi cán cân quyền lực tại Đông bán cầu, và điều này khiến Mỹ thực sự quan ngại.

Trên đất liền và trên biển, tận dụng vị trí thuận lợi trên bản đồ, ảnh hưởng của Bắc Kinh đang lan toả và mở rộng từ Trung Á tới Biển Đông, từ Viễn Đông Nga tới Ấn Độ Dương. Trung Quốc là một cường quốc lục địa đang gia tăng, như câu nói nổi tiếng của Napoleon, chính sách của những quốc gia thế này là vốn có trong điều kiện địa lý của họ.

Về chuyện Trung Quốc ngấm ngầm mở rộng lãnh địa

Bắc Kinh đã hướng tới các nước Trung Á để mở rộng phạm vi ảnh hưởng. Trung Quốc đã tiến vào vùng Á-Âu nhưng chưa đủ xa để đáp ứng nhu cầu tài nguyên tự nhiên. Ảnh hưởng của Bắc Kinh tại Trung Á diễn ra dưới dạng hai hệ thống ống dẫn chính sắp hoàn tất tới Tân Cương: một mang dầu từ biển Caspian đi qua Kazakhstan, một mang khí tự nhiên từ Turkmenistan đi qua Uzbekistan và Kazakhstan.

Cơn khát tài nguyên tự nhiên của Trung Quốc cũng đồng nghĩa với việc Bắc Kinh sẵn sàng chấp nhận những rủi ro để đảm bảo tài nguyên này. Đó là những mỏ đồng ở nam Kabul tại đất nước bị chiến tranh tàn phá Afghanistan, rồi cả những mỏ sắt, vàng, uranium, và đá quý trong khu vực. Bắc Kinh hy vọng sẽ xây dựng đường sá, ống dẫn năng lượng qua Afghanistan và Pakistan, kết nối vùng ảnh hưởng của họ ở Trung Á với các cảng tại Ấn Độ Dương. Địa bàn chiến lược của Trung Quốc sẽ được tăng cường nếu Mỹ ổn định tình hình Afghanistan.

Với dân số hơn một tỉ người, Ấn Độ trở thành một vùng địa lý "chắn ngang" trong khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc tại châu Á. Ở mức độ nào đó, Trung Quốc và Ấn Độ do vị trí địa lý cố hữu mà trở thành đối thủ của nhau: hai quốc gia láng giềng có dân số khổng lồ, nền văn hoá phong phú và có lịch sử tranh chấp lãnh thổ. Và, Trung Quốc với ẤN Độ "sẽ có cuộc chơi lớn" không chỉ trong khu vực mà còn ở Bangladesh cũng như Sri Lanka.

Tiếp đến là Mông Cổ. Biên giới phía bắc của Trung Quốc giáp Mông Cổ, một lãnh thổ khổng lồ lại thưa thớt dân cư, có những đồng cỏ mênh mông, giàu dầu mỏ, than đá, uranium... Các công ty khai khoáng của Trung Quốc đang tìm kiếm mở rộng thị phần sở hữu tài sản nằm trong lòng đất của Mông Cổ. Qúa trình công nghiệp hoá và đô thị hoá khiến Trung Quốc trở thành nước tiêu dùng hàng đầu thế giới về nhôm, đồng, chì, nickel, kẽm, thiếc và quặng sắt; Thị phần tiêu dùng kim loại của Trung Quốc trên thế giới tăng từ 10% lên 25% kể từ cuối những năm 90

Ở phía bắc Mông Cổ và ba tỉnh đông bắc Trung Quốc là vùng Viễn Đông của Nga - một khu vực rộng lớn có diện tích gấp đôi châu Âu nhưng dân cư lại thưa thớt. Nga đã mở rộng tiếp cận khu vực này trong thế kỷ 19 và đầu 20 trong khi Trung Quốc còn yếu ớt. Gìơ đây, khi Trung Quốc trở nên mạnh mẽ, thì ảnh hưởng của Nga ở vùng này lại khá ít ỏi.

Chỉ có 7 triệu người Nga sống ở vùng biên giới Viễn Đông, con số này có thể giảm xuống còn 4,5 triệu người vào năm 2015. Trong khi đó, tại ba tỉnh lân cận của Trung Quốc, có khoảng 100 triệu người Trung Quốc sinh sống, mật độ dân số gấp 62 lần so với phía Viễn Đông Nga. Dân di cư Tủng Quốc đang tràn vào Nga, xây dựng nên các cộng đồng lớn ở thành phố Chita, phía bắc Mông Cổ và nhiều nơi khác trong khu vực.

Thu gom tài nguyên là mục tiêu chủ yếu trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc ở bất cứ đâu, và vùng Viễn Đông của Nga rất giàu tài nguyên khí tự nhiên, dầu mỏ, kim cương, gỗ và vàng. "Moscow lo lắng vì số lượng lớn người Trung Quốc di cư vào khu vực, theo sau họ là các công ty khai khoáng, khai thác gỗ", David Blair, một phóng viên Daily Telegraph, viết.

Ảnh hưởng của Trung Quốc cũng đang lan rộng ở phía đông nam.

Cũng như Mông Cổ, vùng Viễn Đông Nga, Myanmar là quốc gia rất giàu tài nguyên thiên nhiên mà Trung Quốc cần đến. Trung Quốc và Ấn Độ đang cạnh tranh nhau để phát triển cảng nước sâu Sittwe, bên bờ Ấn Độ Dương thuộc Myanmar vì cả hai bên đều hy vọng cuối cùng sẽ xây dựng được hệ thống ống dẫn chạy từ các giếng dầ ngoài khơi trong vịnh Bengal.

Đối với khu vực này, Bắc Kinh áp dụng chiến lược "chia nhỏ để chế ngự". Họ từng đàm phán với riêng mỗi nước là thành viên ASEAN chứ không phải với tư cách toàn khối.

Khi sức mạnh của Mỹ tại khu vực Đông Nam Á qua đi thời hoàng kim còn Trung Quốc đang nổi lên, các quốc gia trong khu vực đã tăng cường hợp tác để hạn chế ảnh hưởng từ Bắc Kinh.

Nhờ những lợi thế trên đất liền, Trung Quốc giờ đây đang rảnh tay xây dựng một lực lượng
hải quân hùng hậu. Nước này có khu vực ven biển thuận lợi không kém gì vùng lục địa. Trung Quốc ngự trị phần duyên hải Đông Á tại những vùng có khí hậu ôn đới và nhiệt đới trên Thái Bình Dương, trong khi biên giới phía Nam thì đủ gần Ấn Độ Dương để ngày nào đó có thể nối liền với đại dương này bằng đường bộ hay đường ống dẫn nhiên liệu. Trong thế kỷ 21 này, Trung Quốc phô trương "sức mạnh cứng" ở nước ngoài chủ yếu thông qua lực lượng hải quân.

Tuy nhiên, trên thực tế, Trung Quốc phải đối mặt với một môi trường bất lợi trên biển hơn là trên đất liền. Hải quân Trung Quốc đưa ra khái niệm "chuỗi đảo thứ nhất": Bán đảo Triều Tiên, quần đảo Kuril, Nhật Bản, Đài Loan, Philippines, Indonesia, và Australia. Ngoại từ Australia, còn lại đều có khả năng xảy ra nguy cơ đụng độ. Trung Quốc lại liên quan tới nhiều tranh chấp tại các khu vực biển giàu năng lượng của Biển Đông Trung Hoa (Trung Quốc gọi tắt là Đông Hải) và Biển Đông.

Theo ngôn từ của James Holmes và Toshi Yoshihara thuộc trường Hải quân Mỹ, "chuỗi đảo thứ nhất" giống như "Vạn lý Trường Thành đảo ngược": một vành đai được tổ chức tốt gồm các đồng minh của Mỹ dạng như tháp canh quan sát và có khả năng ngăn chặn sự tiếp cận của Trung Quốc với Thái Bình Dương.

Về "ngáo ộp" hải quân Trung Quốc

Sức mạnh hải quân thông thường ôn hoà hơn sức mạnh trên đất liền: hải quân không thể tự mình chiếm giữ những khu vực rộng lớn mà còn phải làm nhiều hơn việc chiến đấu - định hình là bảo vệ thương mại. Vì thế, đã có người cho rằng, Trung Quốc cũng ôn hoà như các quốc gia hàng hải khác trước đây - Venice, Anh, Mỹ và với mối quan tâm số một, giống như các cường quốc biển từng làm, là duy trì một hệ thống hàng hải hoà bình, bao gồm hoạt động tự do thương mại.

Nhưng Trung Quốc không đủ tự tin như thế. Vẫn là một cường quốc biển bất an, họ nghĩ đại dương theo quan điểm lãnh thổ: khái niệm "chuỗi đảo thứ nhất", "chuỗi đảo thứ hai" (chuỗi đảo thứ hai gồm Guam và quần đảo Bắc Mariana Islands) cho thấy, Trung Quốc coi các đảo này như phần quần đảo nối dài từ lục địa của mình. Các nhà lãnh đạo hải quân Trung Quốc đang theo đuổi kiểu gây hấn như nhà chiến lược hải quân Mỹ Alfred Thayer Mahan vào thế kỷ 20. Nhà chiến lược này ủng hộ kiểm soát biển và trận chiến quyết định.

Tuy nhiên họ chưa có một lực lượng biển khơi thích hợp. Sự khác biệt lớn giữa tham vọng và phương tiện đã dẫn tới một số vụ việc lúng túng trong vài năm qua. Tháng 10/2006, một tàu ngầm Trung Quốc đã bám theo tàu USS Kitty Hawk và sau đó nổi lên trong tầm phóng ngư lôi. Tháng 11/2007, Trung Quốc không chấp nhận việc USS Kitty Hawk tiến vào Cảng Victoria cho dù tàu này đang kiếm chỗ neo đậu do thời tiết xấu. Tháng 3/2009, một số tàu hải quân quân đội Trung Quốc đã "quấy nhiễu" tàu đo đạc hải dương USNS Impeccable khi tàu đang hoạt động công khai bên ngoài giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc tại Biển Đông. Đây là hành động thể hiện sự non nớt chứ không phải phản ứng của một cường quốc.

Nỗ lực khẳng định quyền lực trên biển của Trung Quốc cũng được thể hiện qua việc mua sắm trang bị. Bắc Kinh phát triển không cân xứng các khả năng tập trung vào việc ngăn chặn hải quân Mỹ tiến vào Đông Hải và các vùng ven biển khác được nước này xem là của Trung Quốc. Họ hiện đại hoá hạm đội khu trục và có kế hoạch mua một hoặc hai tàu sân bay. Trên thực tế, Trung Quốc tập trung vào việc xây dựng các lớp tàu ngầm tấn công hạt nhân, tên lửa đạn đạo mới.

Theo Seth Cropsey, nguyên trợ lý thứ trưởng Hải quân Mỹ và Ronald O’Rourke thuộc Cơ quan Nghiên cứu Quốc hội Mỹ, trong vòng 15 năm nữa, Trung Quốc có thể sở hữu lực lượng tàu ngầm lớn hơn hải quân Mỹ (hiện có 75 tàu ngầm đang hoạt động). Hơn nữa, Cropsey cho biết, hải quân Trung Quốc có kế hoạch sử dụng radar tầm xa, vệ tinh, mạng lưới dò âm thanh đại dương và chiến tranh ảo nhằm phục vụ khả năng hoạt động tên lửa đạn đạo chống hạm. Kế hoạch này cùng với sự phát triển đội tàu ngầm của Trung Quốc rốt cuộc là để ngăn chặn khả năng tiếp cận dễ dàng của hải quân Mỹ vào các khu vực quan trọng ở tây Thái Bình Dương.

Ngoài nỗ lực kiểm soát vùng biển ngoài khơi trong Eo biển Đài Loan và Đông Hải, Trung Quốc còn cải thiện khả năng chiến tranh địa lôi, mua sắm các máy bay chiến đấu thế hệ bốn từ Nga, triển khai khoảng 1.500 tên lửa đất đối không của Nga dọc bờ biển.

Trung Quốc còn đang phát triển chiến lược tấn công nhằm vào biểu tượng sức mạnh hải quân Mỹ - đó là tàu sân bay.

Dĩ nhiên, Trung Quốc sẽ không sớm tấn công tàu sân bay Mỹ và họ vẫn còn một con đường dài phía trước trong việc trực tiếp thách thức quân đội Mỹ. Nhưng mục tiêu của nước này là phát triển các khả năng dọc vùng duyên hải để ngăn chặn hải quân Mỹ tiếp cận khu vực giữa chuỗi đảo thứ nhất và bờ biển Trung Quốc bất cứ khi nào mong muốn.

Một nghiên cứu RAND 2009 cảnh báo, tới năm 2020, Mỹ sẽ không còn khả năng bảo vệ Đài Loan khỏi một cuộc tấn công của người Trung Quốc. Theo nghiên cứu này, khi đó, Trung Quốc có thể đánh bại Mỹ trong một cuộc chiến tại Eo biển Đài Loan thậm chí Mỹ có F-22, tàu sân bay hay quyền tiếp tục sử dụng Căn cứ Không quân Kadena ở Okinawa, Nhật Bản. Trung Quốc ở gần Đài Loan còn Mỹ sẽ phải "trang trải" sức mạnh quân sự của mình tới nửa vòng trái đất và sẽ bị hạn chế việc tiếp cận các căn cứ nước ngoài hơn nhiều so với thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

Chiến lược của Trung Quốc trong việc ngăn chặn hải quân Mỹ ở một số vùng biển quan trọng được đưa ra không chỉ giữ lực lượng Mỹ ở khoảng cách xa mà còn thúc đẩy ưu thế của Trung Quốc với đảo Đài Loan.

Bắc Kinh chuẩn bị "bao phủ" Đài Loan không chỉ về quân sự mà cả kinh tế cũng như xã hội. Khoảng 30% xuất khẩu của Đài Loan là sang Trung Quốc, có 270 chuyến bay thương mại mỗi tuần thực hiện giữa hai bên. 2/3 công ty Đài Loan đầu tư vào Trung Quốc trong năm năm qua, một nửa triệu khách du lịch đại lục tới hòn đảo này hàng năm...

Dĩ nhiên, nếu Mỹ đơn giản "bỏ rơi" Đài Loan thì sau đó Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Australia, và những đồng minh khác của Mỹ tại Thái Bình Dương cũng như Ấn Độ và thậm chí một số quốc gia châu Phi sẽ bắt đầu hoài nghi về sự bền vững từ các cam kết của Washington. Thực tế đó có thể khiến các quốc gia này xích lại gần hơn với Trung Quốc.

Đó là một lý do vì sao Mỹ và Đài Loan phải cân nhắc các biện pháp đối phó với quân đội Trung Quốc. Mục đích không phải là để đánh bại Trung Quốc trong một cuộc chiến tranh tại Eo biển Đài Loan mà để chứng tỏ rằng, mức chiến phí đắt đỏ là quá sức với Bắc Kinh. Nhờ đó, Mỹ có thể duy trì được độ tín nhiệm với các đồng minh tại châu Á.

Quan hệ quân sự Trung - Mỹ trở nên căng thẳng khi đầu năm nay, chính quyền của Tổng thống Obama đã thông qua thoả thuận bán vũ khí trị giá 6,4 tỉ USD cho Đài Loan.

Ngoài việc tập trung lực lượng vào Đài Loan, hải quân Trung Quốc còn đang mở rộng sức mạnh ở Biển Đông - cửa ngõ để nước này tiếp cận Ấn Độ Dương và tuyến vận chuyển hydrocarbon của thế giới. Phần lớn tàu chở dầu, tàu buôn Trung Quốc đều phải vượt qua những thách thức như cướp biển, Hồi giáo cực đoan, sự gia tăng hiện diện của hải quân Ấn Độ dọc con đường này.

Xét về ý nghĩa chiến lược toàn diện, Biển Đông có thể trở thành như một số người nói là "vịnh Ba Tư thứ hai". Nicholas Spykman, học giả địa chính trị thế kỷ 20 nhấn mạnh rằng, xuyên suốt lịch sử, các quốc gia "đi theo đường vòng hay mở rộng hàng hải" để giành quyền kiểm soát các vùng biển lân cận. Hy Lạp tìm cách kiểm soát Aegean, Rome với Địa Trung Hải, Mỹ với Caribbea và hiện tại là Trung Quốc với Biển Đông. Spykman gọi Caribbea là "Địa Trung Hải của Mỹ" để nhấn mạnh tầm quan trọng của nó với Mỹ. Và, Biển Đông có thể trở thành "Địa Trung Hải của châu Á" cũng như tâm điểm địa chính trị trong những thập niên tới.

"Hải quân Trung Quốc còn xa mới bằng Hoa Kỳ"

Tại sao Trung Quốc cố gắng ngăn chặn sự tiếp cận nhưng lại chưa từng có ý định thực thi nó? Theo cố vấn quốc phòng Jacqueline Newmyer thì, mục đích của Bắc Kinh là tạo ra "sự sắp đặt sức mạnh" để "không phải thực sự sử dụng vũ lực nhằm bảo vệ các lợi ích". Phô diễn hệ thống vũ khí mới, xây dựng cơ sở cảng biển, các điểm nghe ngóng tại Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, hỗ trợ quân sự cho các quốc gia duyên hải nằm giữa lãnh thổ Trung Quốc và Ấn Độ Dương... tất cả đều không có gì là bí mật, tất cả đều là nhằm phô diễn sức mạnh. Thay vì lập tức tiến hành cuộc chiến với Mỹ, Trung Quốc tìm cách gây ảnh hưởng với lối hành xử của Mỹ để tránh đối đầu.

Tuy nhiên, dường như có điều gì đó nổi lên trong các hoạt động của hải quân Trung Quốc. Nước này đang xây dựng một căn cứ hải quân chính tại đảo Hải Nam, nằm ngay trung tâm của Biển Đông, với những cơ sở ngầm có thể chứa 20 tàu ngầm hạt nhân hoặc bằng điện - diesel. Đây là kiểu vận dụng Học thuyết Monroe, xác định chủ quyền với vùng biển quốc tế lân cận. Trung Quốc có thể không có ý định chiến tranh với Mỹ hiện tại hoặc trong tương lai, nhưng động cơ có thể thay đổi. Tốt hơn là cần theo dõi các khả năng của nước này.

Tình hình an ninh hiện nay ở những vùng biên giới Á - Âu cơ bản là phức tạp hơn những năm đầu sau Thế chiến II. Mỹ xuống dốc, sức mạnh hải quân sụt giảm trong khi kinh tế và quân sự Trung Quốc đang gia tăng mạnh, cụm từ "đa cực" được sử dụng ngày một nhiều khi định nghĩa về tương quan sức mạnh tại châu Á. Mỹ cung cấp cho Đài Loan 114 tên lửa phòng không Patriot và hàng chục hệ thống thông tin quân sự hiện đại. Trung Quốc thì đang xây dựng căn cứ tàu ngầm ở Hải Nam và phát triển tên lửa chống hạm. Nhật Bản và Hàn Quốc tiếp tục hiện đại hoá các hạm đội. Ấn Độ thì nỗ lực xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh. Mỗi quốc gia trong khu vực tìm kiếm việc điều chỉnh cân bằng quyền lực theo hướng có lợi cho mình.

Đây là lý do vì sao Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton hoặc sai lầm hoặc không trung thực khi bác bỏ đường lối chính trị cân bằng quyền lực và coi đó là tàn dư của quá khứ. Có một cuộc
chạy đua vũ trang đang diễn ra ở châu Á, và Mỹ sẽ phải đối mặt với thực tế này khi đã thực sự giảm bớt lực lượng tại Afghanistan và Iraq. Mặc dù không một quốc gia châu Á nào có ý định gây ra chiến tranh, nhưng rủi ro từ sự hiểu lầm về cân bằng quyền lực sẽ gia tăng với sự tăng cường của lực lượng hải quân và không quân trong khu vực. Căng thẳng trên đất liền có thể "gia cố" căng thẳng trên biển: những khoảng trống quyền lực mà Trung Quốc giờ đây đang lấp đầy có thể dẫn họ tới những sự va chạm, mà ở mức tối thiểu là với Ấn Độ và Nga.

Những khu vực từng vắng vẻ trước đây giờ trở nên đông đúc với người, đường sá, hệ thống ống dẫn, tàu bè và tên lửa. Nhà nghiên cứu khoa học chính trị trường Yale, Paul Bracken cảnh báo năm 1999 rằng, châu Á đang trở thành một vùng địa lý khép kín và đối mặt với một cuộc khủng hoảng "chỗ trống". Qúa trình này vẫn tiếp tục diễn ra từ đấy.

Làm sao Mỹ có thể bảo vệ được ổn định ở châu Á, bảo vệ các đồng minh của nước này tại đây, và hạn chế ảnh hưởng của Trung Quốc mà vẫn tránh được đối đầu với Bắc Kinh? Sự cân bằng ở nơi biển xa sẽ không thể đủ tác động. Một cựu quan chức cấp cao Ấn Độ đầu năm nay nói rằng, những đồng minh chính của Mỹ tại châu Á (như Ấn Độ, Nhật Bản, Singapore và Hàn Quốc) mong muốn hải quân, không quân Mỹ hành động "hoà hợp" với chính lực lượng của họ - nghĩa là Mỹ sẽ là một phần không thể thiếu trên bộ và trên biển của châu Á, chứ không phải là lực lượng ở nơi nào đó xa xôi.

Lầu Năm Góc có một kế hoạch để Mỹ có thể "đối đầu sức mạnh chiến lược của Trung Quốc, mà không trực tiếp đối đầu quân sự". Đó là việc duy trì đội tàu gồm 250 chiếc (thay vì 280 chiếc hiện có) và cắt giảm 15% chi tiêu quốc phòng. Kế hoạch này do đại tá nghỉ hưu Pat Garrett đưa ra rất có ý nghĩa vì nó đề cập tới tầm quan trọng chiến lược của châu Đại Dương.

Guam và Caroline, Marshall, Northern Mariana, quần đảo Solomon đều là lãnh địa của Mỹ, khối thịnh vượng chung có những thoả thuận quốc phòng với Mỹ, hoặc là những quốc gia độc lập có lẽ sẽ cởi mở với những thoả thuận như vậy. Châu Đại Dương sẽ ngày càng quan trọng vì nó khá gần Đông Á, lại ở bên ngoài khu vực mà Trung Quốc muốn từ chối sự tiếp cận dễ dàng của các tàu chiến Mỹ. Guam chỉ mất bốn giờ bay để tới Triều Tiên và hai ngày đi tàu để tới Đài Loan. Sẽ ít "nhạy cảm" nếu Mỹ duy trì các căn cứ tại Châu Đại Dương trong tương lai hơn là đóng quân ở Nhật, Hàn Quốc và Philippines.

Tăng cường sự hiện diện của hải quân và không quân Mỹ tại Châu Đại Dương sẽ là một cách "thoả hiệp" giữa chống lại một Trung Quốc bằng bất cứ giá nào và chấp thuận tương lai để hải quân Trung Quốc giám sát chuỗi đảo thứ nhất. Cách tiếp cận này đảm bảo rằng, Trung Quốc sẽ phải trả giá đắt cho bất cứ hành động gây hấn nào chống lại Đài Loan, đồng thời cho phép tàu thuyền, máy bay Mỹ tiếp tục tuần tra khu vực.

Dù sao thì sự nắm giữ của Mỹ với chuỗi đảo thứ nhất đang bắt đầu yếu dần. Người dân địa phương trở nên ít chấp nhận sự hiện diện quân đội nước ngoài trong tâm trí họ. Và vị thế gia tăng của Trung Quốc khiến Bắc Kinh vừa đáng sợ vừa có sức thu hút - một cảm giác lẫn lộn có thể ảnh hưởng tới quan hệ song phương giữa Mỹ và những đồng minh Thái Bình Dương.

Một Trung Quốc lớn có thể nổi lên trong nền chính trị, kinh tế hoặc quân sự ở Trung Á, Ấn Độ Dương, Đông Nam Á hay tây Thái Bình Dương. Nhưng ngay cạnh địa hạt ấy là dòng tàu chiến Mỹ, rất nhiều có thể đóng tại Châu Đại Dương và là đối tác với các lực lượng hải quân từ Ấn Độ, Nhật Bản... Và, khi sự tự tin của Trung Quốc gia tăng, lực lượng biển khơi của họ có thể tự mình cuốn vào một liên minh hải quân khu vực rộng lớn.

Tuy vậy, thực tế sức mạnh kinh tế, quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc sẽ làm "trầm trọng thêm" căng thẳng Mỹ - Trung thời gian tới. Diễn giải theo lời của Mearsheimer thì là, Mỹ - nước bá quyền nơi Tây Bán cầu sẽ nỗ lực ngăn chặn Trung Quốc trở thành nước bá quyền nhiều vùng ở Đông Bán cầu...

Thụy Phương biên dịch theo FP (TVN)