Trang nhà > Xã hội > Đông Á > Học thái độ học tập của Nhật Bản

Học thái độ học tập của Nhật Bản

Chủ Nhật 30, Tháng Mười Một 2008

Từ lâu báo, đài, mạng Trung Quốc đã nói về đề tài Học tập Nhật Bản, và họ từng có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này. Dưới đây là một bài được xếp hạng thứ 13 của Top 20 bài trong tuần đang đăng trên website “Học thuật Trung Quốc”, một nơi quy tụ quan điểm của giới trí thức

Nhật Bản có rất nhiều cái để Trung Quốc (TQ) học, trong đó thái độ học tập của họ là cái đặc biệt đáng học.

Thái độ học tập khiêm tốn cẩn thận của Nhật Bản không xa lạ gì đối với TQ. Từ đời Hán trở đi, sự giao lưu văn hoá TQ-Nhật Bản dần dần tăng cường; thời nhà Tùy, nhà Đường, các sứ thần Nhật Bản nối nhau vượt biển sang Trường An. Trước nền văn hoá Hán xán lạn, người Nhật mở to mắt và say sưa học văn hoá Hán. Không những họ bê về Nhật toàn bộ các điển chương chế độ, văn hoá tư tưởng, phong tục tập quán của TQ mà cả đến chữ Hán họ cũng cứ thế mà dùng không sai một tý nào – chữ Katakana sau này người Nhật sử dụng tuy có khác với chữ khối vuông (của Hán tự) nhưng thực ra là dùng bộ thủ của chữ khối vuông. Có thể nói đó là thời kỳ Nhật Bản toàn bộ Hán hoá, không những văn hoá Hán là “dụng”, mà cũng là “thể”. Xã hội Nhật bắt đầu phát triển trên quỹ đạo văn hoá Hán. Bốn đảo hoang dại của nước Nhật nhắm mắt theo đuôi mà học, không cắt xén chút nào từ TQ, một nước lớn văn hoá phong phú đa dạng. Sách “Thiên công khai vật” [1] thất truyền ở TQ sau phát hiện thấy ở Nhật là thí dụ cho thấy họ học TQ không bỏ sót bất kể thứ gì dù lớn dù nhỏ.

Người thạo học hỏi có một đặc điểm là biết chọn thầy. Sau hai nghìn năm chuyên tâm học tập TQ, Nhật Bản phát hiện ra một ông thầy còn cao minh hơn TQ – đó là phương Tây – một kẻ thù không mời mà tự đến gõ cửa quốc môn đóng chặt của nước này. Người Nhật bèn “Dĩ địch vi sư” (lấy kẻ địch làm thầy) – đây thật là một điều thần kỳ. Điều kỳ lạ hơn, là Nhật học phương Tây với tinh thần hăng hái hơn nhiều so với ngày xưa học TQ.

Đô đốc Matthew C. Perry chỉ huy hạm đội Mỹ mở toang cánh cổng quốc môn Nhật Bản chính là người đầu tiên mang văn minh phương Tây đến cho nước này (năm 1854). “Nơi Hạm trưởng Perry lên bờ” trở thành tấm bia kỷ niệm vĩnh viễn. “Thoát Á nhập Âu” trở thành toạ độ học tập và phương hướng tiến lên của nước Nhật sau khi họ so sánh hai nền văn minh Đông và Tây. Những người Nhật cực đoan nhất còn cổ súy dân Nhật lấy vợ lấy chồng người Âu Mỹ nhằm thay đổi huyết thống. Có thể nói đây là thời kỳ nước Nhật toàn bộ Tây hoá, không những “Tây học vi dụng”, “Tây học vi thể” mà còn làm cho Nhật trở thành một nước phương Tây theo tiêu chuẩn phương Tây. Vì thế tư tưởng, chính trị, kinh tế văn hoá Nhật được cải tạo khá triệt để.

Đảo nhỏ phương Đông vốn bế quan toả cảng này nhanh chóng trở thành nước lớn chen chân giữa các cường quốc Âu Mỹ – chẳng những là đệ nhất cường quốc châu Á mà còn tranh đua với liệt cường Âu Mỹ, cố tranh lấy vị trí thứ nhất, thực hiện giấc mơ “Phương Tây có Anh Quốc, phương Đông có Nhật Bản”. Trước tiên Nhật thắng Nga trong cuộc chiến tranh Nhật-Nga, sau đó trong đại chiến II đánh thiệt hại nặng quân đội Mỹ Anh, dự định cùng nước Đức xâu xé thế giới ở hai miền Đông Tây.

Nhưng Nhật Bản sinh không gặp thời; thời đại chia cắt thế giới đã qua từ lâu. Giấc mơ cùng nước Đức phân chia thế giới bị quân đội Đồng minh đánh cho tan thành mây khói. Người Nhật giỏi học hỏi lần này phát huy tinh thần “Dĩ địch vi sư” lên tới cực điểm, không chút do dự trở lại truyền thống cũ liên kết với Anh Quốc, coi nước Mỹ là thầy tốt bạn hiền, bình tâm tiếp nhận sự chiếm đóng và bản hiến pháp hoà bình của Mỹ.

Việc ngoan ngoãn học Mỹ đem lại kết quả kinh ngạc: nền kinh tế Nhật nhanh chóng phục hồi và phát triển nhanh. Từ đống tro tàn của đại chiến II, Nhật Bản chỉ sau nửa thế kỷ đã vượt qua tất cả các nước lớn châu Âu về sức mạnh kinh tế, trở thành số Hai thế giới.

Trong đại chiến II, quân đội Mỹ không chỉ tiêu diệt tinh hoa của quân đội Nhật mà còn ném xuống Hiroshima và Nagasaki hai quả bom nguyên tử duy nhất loài người cho tới nay từng sử dụng. Quân đội Mỹ hiện vẫn đóng trên đất Nhật, tàu chiến Mỹ vẫn đậu tại các cảng Nhật, thế mà Nhật không coi quân đội Mỹ là kẻ chiếm đóng, là kẻ xâm lược. Điều đó không phải là do nhu cầu chiến lược cần quan hệ tốt với Mỹ mà là do chiến lược phát triển của Nhật đi theo con đường của Mỹ.

Lão Tử nói: “Tri nhân giả trí, tự tri giả minh, thắng nhân giả hữu lực, tự thắng giả cường”. Nhật vừa có cái sáng suốt của sự tự biết mình (tự tri giả minh), lại có cái khôn ngoan của kẻ hiểu biết người khác (tri nhân giả trí); trước mặt nước Mỹ, nước Nhật là cậu học trò nhỏ thành kính. “Tự thắng giả cường” (kẻ tự thắng chính mình thì có sức mạnh) đã làm nên kỳ tích Nhật Bản, thực hiện trọn vẹn giấc mơ của họ.

Nhưng dù trải qua nhiều thăng trầm thì Nhật Bản vẫn cứ là Nhật Bản, vẫn mặc bộ Kimono, ngủ trên sàn nhà, luyện thư pháp, thưởng thức và bình phẩm trà đạo, dùng chữ Katakana, thăm núi Fuji. Rốt cuộc Nhật không thoát khỏi châu Âu mà trở lại châu Á, là “quả chuối vỏ vàng ruột trắng”, chỗ nào cần “trắng” thì đã “trắng”, chỗ nào cần “vàng” thì vẫn cứ “vàng” chứ không biến thành cây kem trắng từ trong ra ngoài.

Trung Quốc khác xa Nhật Bản. Xưa nay tự cho mình là Thiên triều thượng quốc, TQ chưa từng có yêu cầu học tập và quá trình học tập như Nhật Bản. Các tiểu huynh đệ xung quanh quả thật là chưa giúp gì lớn cho TQ: Trương Khiên đến Tây Vực mang về chẳng qua chỉ được một số giống ngựa tốt, giống rau quả củ hạt mới, và nhạc khí ca múa, chỉ là những thứ thuộc phạm trù vật phẩm sử dụng để thêm thắt cho đời sống hàng ngày chứ không liên quan tới chủ thể văn hoá tư tưởng của quốc gia. Phật Pháp truyền sang phía Đông, tư tưởng Thích giáo do Đường Tăng mang về sau chuyến Tây du chỉ là một phần bổ sung cho chủ thể văn hoá tư tưởng truyền thống Trung Hoa, tuy có thể thêu hoa trên gấm nhưng chưa đủ khả năng lấn át chủ thể. Còn chuyến viễn dương biển Tây của Trịnh Hoà hoàn toàn chỉ là hư trương thanh thế, làm vui lòng các hoàng thân quốc thích và mang về một số của quý vật lạ cho các quan lại quyền cao chức trọng, ngoài ra chẳng có bất kỳ thu hoạch nào, vừa vô ích đối với sự “dụng” cho đời sống lại càng không giúp gì cho cái “thể” của văn hoá tư tưởng. Nhưng tiếp đó các nhà truyền giáo châu Âu trải qua lễ rửa tội của cuộc Phục hưng Văn nghệ lại nhân thắng lợi của Christopher Columbus vượt biển phát hiện châu Mỹ đã không ngại đường xa muôn dặm đem của báu văn minh phương Tây đến cho TQ. Thế nhưng ngoài những thứ lương thực cứu mạng như khoai lang, khoai tây, ngô họ đem đến rồi được TQ trồng rộng rãi và phương pháp tính lịch thiên văn được áp dụng ngay, thì các thứ khác như tư tưởng, văn hoá, thành tựu khoa học của phương Tây đều bị cấm cửa. TQ chỉ dùng ngay, học ngay thứ gì có thể dùng được trong đời sống, nhưng những thứ ấy chẳng có ảnh hưởng gì đáng kể đối với chủ thể văn hoá tư tưởng của TQ.

Đến thập niên 40 thế kỷ XIX, cánh cổng lớn của nước Trung Hoa bế quan toả quốc, ngu muội lạc hậu bị tàu chiến súng lớn của Anh Quốc mở toang. Nguy cơ vong quốc diệt chủng trở thành thanh gươm Damocles treo trên đầu đại đế quốc già nua. Thiên triều thượng quốc xưa nay chưa từng học ai nay buộc phải học tập kẻ thù không đội trời chung. Nếu cung cách “Dĩ địch vi sư” của Nhật Bản – một nước có nền móng văn hoá tư tưởng nông cạn – là đi theo con đường của “địch”, thì cung cách “Dĩ địch vi sư” của TQ có truyền thống văn hoá tư tưởng thâm hậu, lại là mượn lực của “địch” để đi con đường cũ của mình.

Cho nên Nhật Bản cảm ơn đô đốc Perry người đầu tiên đặt chân lên đất Nhật; còn TQ thì cho tới nay vẫn còn nghiến răng nghiến lợi căm thù lũ man di người Anh đã mở quốc môn của TQ, khiến TQ rơi vào cảnh nửa thuộc địa. Đây là sự lựa chọn lịch sử. Anh Quốc là kẻ xâm lược TQ, cướp của, đốt nhà, giết người TQ. Có đầy đủ căn cứ để TQ căm thù nước Anh. Song lịch sử ngu dốt lạc hậu của TQ trì trệ lâu đời cũng bắt đầu hạ màn khi quân đội Anh mở toang cánh cổng lớn của TQ. Không có ngoại lực tác động vào mà chỉ dựa sức mạnh của bản thân thì chưa biết đến bao giờ TQ mới có thể mở được một trang sử mới, tiến sang một cuộc sống mới. TQ cũng có đầy đủ lý do để cảm ơn nước Anh.

Thực chất của nghịch lý lịch sử này là nên lựa chọn chế độ chuyên chế của hoàng đế hay chọn tiến bộ xã hội ? TQ đã chọn hoàng đế. Kiểu “Dĩ địch vi sư” của TQ không phải là sự lựa chọn chiến lược phát triển, đi con đường lịch sử thành công của “địch” để thực hiện phát triển đất nước, bảo đảm nhân dân hạnh phúc; mà là sự lựa chọn thủ đoạn có tính sách lược, đánh bại kẻ địch, vượt qua khó khăn, nhằm mục đích bảo đảm kiên trì và tiếp tục “Pháp thống”, “Đạo thống”, “huyết thống”, “bại thống”. Kiểu “Dĩ địch vi sư” này chỉ học cái “hình”, không học cái “thực”, học cái “dụng” mà không học cái “thể”, tinh túy của nó là “Trung (TQ) học vi thể, Tây học vi dụng” [2]. Do vậy cùng với thời gian, “hình” cũng học, “dụng” cũng học, nhưng do không học “thực” chất, không học “thể” chế quốc gia, nên dù cách mạng thế nào, dù cải cách ra sao, phát triển đi, phát triển lại, nhà nước và nhân dân cứ mãi mãi ở dưới sự kiềm chế của cá nhân kẻ thống trị hoặc tập doàn kẻ thống trị, cứ mãi bị chi phối bởi lợi ích của bọn chúng. Cuộc cải cách của vương triều Mãn Thanh rồi Cách mạng Thái Bình Thiên Quốc là thế. Lòng yêu nước của Nghĩa Hoà Quyền [3] là như vậy, các cuộc cách mạng và cải cách của các nước cộng hoà sau cách mạng Tân Hợi [4] cũng như vậy. Học đi học lại là học cho thành ta, trở về cái bộ dạng cũ. TQ luôn luôn oán trách thầy bắt nạt trò mà không nhìn thấy những vị học trò chỉ muốn làm thầy. Cho nên kể từ Phong trào Dương Vụ trở đi, TQ “Dĩ địch vi sư” học phương Tây lâu nửa thế kỷ; từ Cách mạng Tân Hợi trở đi, TQ cũng học như vậy đã ngót 50 năm.

Từ cải cách mở cửa đến nay học phương Tây lâu tới ba chục năm thế nhưng TQ vẫn là nước đang phát triển lớn nhất. Nói làm kinh tế thị trường mà thị trường rộng 9,6 triệu cây số vuông cộng 1,3 tỷ dân mà nhu cầu quốc nội vẫn còn thiếu, vẫn phụ thuộc nhiều vào thị trường ngoài nước. Nói kiên trì XHCN mà lại phát triển thành “đô thị như châu Âu, nông thôn như châu Phi”; phân hoá giàu nghèo ngày càng gay gắt. Nói phát huy dân chủ XHCN mà quyền lực tuyệt đối lại ngày một tuyệt đối, chống tham nhũng càng chống lại càng tham nhũng. Hữu danh vô thực, cùng tên mà thực chất lại khác, thành tựu chẳng thể nào sánh nổi Nhật Bản. Học thái độ học tập “dĩ địch vi sư” của Nhật Bản, có lẽ “dĩ Nhật vi sư” mới thật sự là con đường hữu hiệu giúp ta thoát ra khỏi cảnh khó khăn.

“Dĩ Nhật vi sư” không dễ. Trước tiên phải vượt qua hai trở ngại tâm lý: 1) Tâm lý coi thường Nhật hình thành trong lịch sử lâu dài, Đại Nhật Bản tự đánh giá cao trong mắt người TQ vẫn là tiểu Nhật Bản; 2) Tâm lý thù ghét Nhật do nước này từng xâm lược TQ, gây ra cho TQ nhiều nỗi đau thương. Nhưng phải hỏi xem sự xâm lược ấy làm cho TQ ngu dốt lạc hậu bần cùng hay là do tình trạng TQ như vậy mà bị xâm lược ? Nếu là do nguyên nhân sau thì biện pháp tốt nhất tránh tái diễn lịch sử không phải là dẫm đạp kẻ địch mà là phát triển bản thân.

Phải vượt qua đầu óc hẹp hòi “dĩ địch vi địch”, tiến tới “dĩ địch vi sư”; điều đó rất khó, vì trên cánh đồng hoang tinh thần của TQ chỉ sẵn có loại cây gai “dĩ hữu vi địch”. Một thí dụ điển hình là thái độ đối với Mỹ. Trong đại chiến II Mỹ dẫn đầu hủy bỏ tất cả các hiệp ước bất bình đẳng từng ký với TQ, ủng hộ đến cùng cuộc kháng chiến chống Nhật của TQ, việc Mỹ tiêu diệt bộ đội tinh nhuệ của phát xít Nhật đã trực tiếp giúp TQ kháng chiến thắng lợi, lẽ ra Mỹ nên là đồng minh tin cậy và bạn tốt nhất của TQ. Nhưng ta đã làm ngược lại. Khi Đại sứ Mỹ muốn liên hệ với chính phủ TQ mới (1949) thì ta đuổi họ đi. Sau hai chục năm chĩa súng vào nhau “dĩ hữu vi địch”; rốt cuộc buộc phải trở lại hoà hảo với ông bạn bị coi là địch, và coi một ông bạn sống chết có nhau với mình là kẻ thù [5].

Kiểu suy nghĩ thực dụng hoàn toàn xuất phát từ thủ đoạn sách lược ấy biến hoá khôn lường, thiếu quy hoạch lâu dài về chiến lược phát triển là nguyên nhân căn bản khiến TQ phạm sai lầm “dĩ hữu vi địch”, cũng là trở ngại lớn cho “dĩ địch vi sư”, đó là thứ trước hết cần được khắc phục trong lần học tập Nhật Bản này.

Ngoài ra cũng cần thấy Nhật Bản chưa phải là hoàn mỹ; ngay thái độ “dĩ địch vi sư” của họ cũng có lệch lạc: Nhật vốn không có truyền thống sáng tạo văn hoá tư tưởng nhưng do nóng ruột đuổi và vượt nên họ thường lấy phát minh sáng chế của người khác về học tập và áp dụng mà thiếu tư tưởng sáng tạo nhận thức thế giới và công nghệ sáng tạo ban đầu, cho dù ngày nay họ đã có nhiều giải Nobel nhưng Nhật vẫn chưa thể có tác dụng quyết định thúc đẩy kinh tế phát triển như các nước Anh Mỹ. Phương Đông coi trọng tập thể chưa thể so đọ được với phương Tây coi trọng tự chủ của cá nhân. Vấn đề này có tính phổ biến ở Nhật; TQ cũng không ngoại lệ.

Nguyễn Hải Hoành lược dịch và chú thích

Nguồn: website “Học thuật Trung Quốc” 23/10/2008 (学习日本的学习态度
Tác giả: Hư Châu 虚舟).


[1“Thiên công khai vật” : tên một “Bách khoa toàn thư” về công nghệ sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp, tác phẩm của nhà khoa học Tống Ứng Tinh (1587-1663), gồm 18 tập.

[2“Trung học vi thể, Tây học vi dụng” : ý nói trong việc học văn minh phương Tây phải giữ lấy các giá trị truyền thống của TQ, các thứ học được (như khoa học kỹ thuật) chỉ để áp dụng cho nhu cầu thực tế (tiếng Anh dịch là Based on Traditional Chinese Values and Aided with Western Application).

[3Nghĩa Hoà Quyền tức Nghĩa Hoà Đoàn, một phong trào yêu nước phản đế năm 1900, lực lượng chính là nông dân.

[4Gồm: Trung Hoa Dân quốc và CHND Trung Hoa.

[5Ý nói Liên Xô.