Trang nhà > Khoa học > Ngữ học > Hợi, Cúi, heo, lợn (phần 5)

Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp (phần 5)

Hợi, Cúi, heo, lợn (phần 5)

Thứ Bảy 17, Tháng Giêng 2009

Phần này viết về chi thứ 12 hay là chi Hợi. Thoạt nhìn chữ viết hay nghe cách cách đọc thì không thấy liên quan đến con lợn, nhưng khi ta phân tích sâu hơn sẽ thấy tương quan của âm Hợi với tên cổ của lợn, cũng như cách viết/khắc cổ cũng cho thấy điều này mà rất ít người biết đến – ngay cả những bậc uyên thâm về Hán học. Hợi chỉ thời gian từ 9 giờ tối đến 11 giờ tối hay tháng 10, nếu là không gian thì Hợi chỉ phương bắc bắc tây (NNW) – khái niệm hợp nhất của thời gian và không gian trong triết lý Á Đông rất đặc biệt nhưng không nằm trong phạm vi các bài viết này. Chúng ta rất dễ bị đưa vào mê hồn trận khi tra cứu các tài liệu và truyền thuyết cổ điển Trung Hoa (TH) để kết luận (không kiểm chứng) rằng 12 con giáp có nguồn gốc TH ! Người viết tránh dùng thuật ngữ trong bài để người đọc dễ thông cảm hơn về các lý luận ngữ âm. Thanh điệu trong ngôn ngữ ghi bằng số đứng ngay sau chữ khác với cách ghi thanh điệu tiếng Việt hay cách Phiên Âm (pinyin) phổ thông của giọng Bắc Kinh (BK) bây giờ.

1. Giới thiệu tổng quát

Lợn hay heo là loài vật chung sống với gia đình Việt Nam từ thuở xa xưa - được thuần hoá rất sớm từ loài heo rừng (hoang) và cung cấp những món ăn ngon bổ cho dân ta. Lợn cũng là một trong tam sinh (thịt ba loài trâu/bò, dê, lợn thường được dùng tế thần) và lục súc (sáu loài vật thường nuôi trong nhà : trâu/bò, ngựa, gà, dê, lợn, chó) – các nhóm từ tam sinh, lục súc cho thấy các loài vật này gắn bó với văn hoá TH và Việt Nam từ lâu. So sánh với một số văn hoá và tín ngưỡng khác như Hồi giáo tránh ăn thịt heo, Ấn Độ giáo thì tránh ăn thịt bò … Tất cả các bộ phận của lợn đều được làm thành những món ăn như đuôi lợn làm canh, máu lợn làm tiết canh … ngay cả đầu lợn khi người viết qua Úc thì không được bán trong tiệm thịt hay siêu thị (khoảng đầu thập niên 1970) - nhưng sau năm 1975 khi có nhiều người Việt sang Úc thì bắt đầu bán các đầu lợn – sau này lại ít dần đi. Để ý các cách dùng như thủ lợn là đầu lợn (thủ1 HV là đầu trong trường hợp này), thịt thủ, giò thủ … khác với thủ HV là tay như thủ bút, thủ hạ …

Lợn mà giữ được tám điều răng của nhà Phật (Trư Bát Giới, một đồ đệ của Đường tăng Tam Tạng) đã trở thành bất tử qua truyện Tây Du Ký của tác giả Ngô Thời Ân, ảnh hưởng TH này còn thấy trong các nền văn hoá Việt Nam, Đại Hàn, Nhật Bản … Sự thân thiết giữa cấu trúc gia đình và loài lợn trong xã hội TH ngày xưa còn phản ánh qua cách viết chữ gia HV (nhà, giọng BK bây giờ là jiā) : bộ miên (nóc nhà) và chữ thỉ (con heo) ở dưới. Văn học TH cổ còn ghi câu nói ‘Trư tiến môn, bách phúc lâm’ hàm ý là lợn vào nhà thì trăm điều may mắn theo vào ! Ngày nay, mặt heo hay mặt lợn chỉ người có mặt to và hàm ý tiêu cực. Việt Nam ta còn phân biệt các loại lợn như lợn lòi (lợn rừng), lợn sề (lợn đẻ nhiều lần), lợn nái (lợn nuôi để đẻ), lợn sữa (lợn con còn bú sữa mẹ), lợn bột (lợn mới lớn nhưng còn non), lợn tháu (lợn nói nhiều), lợn cấn (lợn đực nuôi làm giống), heo lang (heo đen có xen đốm trắng), heo voi (heo nhà loại lớn con), heo bông (heo đốm đen trắng lẫn lộn), heo nưa (heo vàng mỡ), heo lứa2 (heo choai mới lớn)… Một loại lợn phổ thông bây giờ là loại lợn có bụng to (pot-bellied pig) gốc ở Việt Nam mà tài tử nổi tiếng George Clooney đã nuôi nhiều năm (con lợn này tên là Max chết vào tháng 12 năm 2006) – xem thêm các chi tiết trên mạng http://en.wikipedia.org/wiki/Pot-bellied_pig . Kinh nghiệm xã hội và truyền thống dân tộc ta gắn liền với hình ảnh con lợn qua ca dao tục ngữ như:

‘Mẹ em tham thúng xôi chiêm

Tham con lợn béo tham tiền hoa-viên’

(Việt Nam Tự Điển, 1954)

‘Con lợn trắng mắt thì nuôi

Con người trắng mắt là người bỏ đi’

Hay:

‘Nuôi con chẳng dạy chẳng răn

Thà rằng nuôi lợn cho ăn lấy tiền’ (…. mà ăn lấy lòng)

...‘Lợn bột thì ăn thịt ngon

Lợn nái thì đẻ lợn con cũng lời’

Và ‘lấc lác như quạ vào chuồng lợn; lợn lành chữa lợn què; mắt như mắt lợn luộc; vì đâu heo gánh gộc chuối; voi đú chó đú lợn sề cũng học; con heo kén ăn khó nuôi; đầu gà má lợn; lợn đầu cau cuối; lợn đói cả năm không bằng tằm đói một bữa; lợn lành chữa lợn toi; lợn đực chuộng phê, lợn sề chuộng chõm; lợn giò bò bắp; lợn trong chuồng thả ra mà đuổi; mổ lợn đòi bèo, mổ mèo đòi mỡ; nhâng nháo như cáo vào chuồng lợn; nuôi heo lấy mỡ, nuôi người (con) ở đỡ chân tay; nuôi lợn ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng; con lợn béo cỗ lòng mới ngon; lợn ăn xong lợn nằm lợn béo, lợn ăn xong lợn réo lợn gầy; lợn chê chó có bọ; lợn chuồng chái, gái cửa buồng; lợn cưới, áo mới; lợn đói một bữa bằng người đói nửa năm; lợn không cào chó nào sủa; lợn nhà gà chợ; lợn nước mạ, cá nước rươi; lợn rọ chó thui; lợn thả gà nhốt; trơ trơ như thủ lợn nhìn thầy; giàu nuôi lợn đực, khổ cực nuôi lợn cái; giàu nuôi lợn nái, nghèo nuôi chó cái gà con; mượn đầu heo nấu cháo’ 3…v.v…Các câu trên dễ nhớ vì có cơ cấu liên hệ các chữ và nghĩa như hợp vần, phản nghĩa … thuận lợi cho trí nhớ và lối truyền khẩu so với cách dùng bóng bẩy của văn chương HV. Ta hãy xem các thành ngữ HV như

‘Trư đa phì đa’

(Trư HV là heo : nuôi heo càng nhiều thì càng được nhiều phân bón)

‘Trư vãng tiền củng, kê vãng hậu vát – cách hữu cách đích hoạt lộ’

(ý nói ai cũng có cách làm việc riêng để đạt kết quả)

‘Thỉ đột lang bôn’

(Thỉ là heo : ý nói chạy đi đột ngột và nhanh như heo và lang sói)

‘Thỉ giao thú súc’

(đối xử như súc vật, ý nói không được lễ phép)

‘Đồn đề nhương điền’

(Đồn HV là heo sữa : ý nói bỏ ra ít mà muốn lấy lại nhiều)

Trong cách dùng Cổ Văn TH, ta còn thấy thành ngữ

‘Tín cập đồn ngư’

(ý nói lòng thành con người rung động đến cả loài vật thấp hèn nhất)

Từ truyện Tây Du Ký, ta lại có thêm các cách dùng như

‘Trư Bát Giới đảo đả nhất bà’

(hàm ý nói ngược mà không có cơ sở, đổ tội cho nạn nhân của mình)

Theo Chu Dịch thì ‘Heo là tài’4 cho thấy những ưu điểm của loài vật này. Trong các tài liệu cổ TH, ta cũng có thể thấy nhiều vết tích của loài vật này như trong ‘Câu chuyện về Hán Vũ Đế’ của Bàn Cố soạn : Hán Vũ Đế khi ra đời tên là Trệ (con heo), khi lên 7 tuổi thì Hán Canh Đế mới đổi ra thành Triệt dựa vào câu nói ‘Trệ giả, triệt giả’. Để ý cách đổi tên cho tốt hơn dựa vào âm thanh của TH. Hình dáng đặc biệt của heo với đôi tai to chỉ tướng tốt còn thấy trong cách dùng chữ đam (tai to, theo Thuyết Văn)3 : Lão Tử họ Lý tên Nhĩ tự Đam cũng cùng một lý do. Lưu Bị cũng có ‘đôi tai dài đến vai, hai cánh tay dài quá gối’4. Chữ hỗn HV viết bằng bộ thuỷ hợp với chữ hỗn hài thanh (HT) - chữ hỗn HT lại viết bằng bộ vi hợp với chữ thỉ5 - nghĩa nguyên thuỷ là chuồng heo, sau trở thành chuồng xí hay cầu tiêu : một lần nữa cho thấy một liên hệ rất gần giữa loài lợn và đời sống con người (qua cách viết chữ gia/nhà và hỗn/cầu tiêu). Nghĩa mở rộng của hỗn là lộn xộn (hỗn loạn), đục (dơ bẩn) … Truyền thuyết TH cho rằng Khương Thái Công là thần chuồng heo nên ở vùng núi Chiết Giang, người ta thường dùng giấy vàng viết các chữ ‘Khương Thái Công ở đây, không cấm kỵ gì cả’ dán ở chuồng heo, cầu mong bình an cho đàn heo. Thần giết mổ (heo) là Trương Phi, còn nghề làm chân giò thì thờ Tôn Trạch làm tổ sư4… Các thành ngữ liên quan đến loài lợn còn lưu truyền trong văn hoá TH có nhiều như : ‘Sói lợn đều chạy; như là chó lợn; không bằng chó lợn; hỏi hổ mượn heo; heo mắc nợ chó; người sợ nổi tiếng, heo sợ dỗ béo; người điếc không sợ súng, heo chết không sợ bong; heo cười quạ đen, quạ cười heo chẳng ra màu; heo xổng chuồng, chuồng không xổng heo; heo bò heo bò, có rồi không lo; không có chó, heo gác cửa; không có gà, ngỗng báo thức’ …v.v…

Rõ ràng là hai nền văn hoá Việt và TH rất gắn bó với loài lợn như đã tóm tắt qua các ca dao thành ngữ trên, phản ảnh phần nào tính chất thần linh và phổ thông của loài lợn - như là một tôtem đã được thờ phụng thời thượng cổ. Điều này rất khác biệt với ảnh hưởng của loài mèo và thỏ trong hai nền văn hoá (xem bài viết phần 4 về con giáp thứ 4 Mão/Mẹo/mèo). Thành ra sự có mặt của lợn trong 12 con giáp cũng dễ hiểu, tuy nhiên cách gọi Hợi/hãi HV6(giọng BK bây giờ là hài theo cách ghi pinyin/Phiên Âm) có liên quan trực tiếp gì đến lợn không ? Và liên hệ đến tiếng Việt gần hơn hay tiếng TH (cổ) để cho ta có thể nhận ra nguồn gốc tên 12 con giáp? Các bằng chứng nằm trong cách viết (chữ Hán) và cách đọc của chính chữ Hợi/hãi HV. So sánh cách đọc Hợi, ta thấy giọng Quảng Đông là hoi6, Hẹ là hoi3, hoi5 và Minnan (Đài Loan) là hai7. Chữ Hợi HV viết bằng bộ đầu (bộ thứ 8) – nhìn cách viết/khắc cổ ta thấy hình của một con vật có 4 chân, đầu tượng trưng bằng một gạch ngang giống như cái mũi đặc thù của con lợn. Ngoài ra, cách viết/khắc cổ còn cho thấy cái đuôi rất giống cách viết/khắc cổ của chữ thỉ (con lợn). Do đó, cách viết của chữ Hợi đã cho ta thấy hình ảnh của loài thú vật trong tên gọi 12 con giáp : so với các cách đọc như Mão/Mẹo/mèo, Tý/*chút/chuột, Ngọ/ngựa … Cũng như cách viết (cổ) của chữ Tỵ (rắn) phần nào cho thấy hình ảnh loài thú trong tên gọi 12 con giáp. Các đợt chỉnh lý chữ viết (trong lịch sử TH) và lý thuyết âm dương ngũ hành, bói toán … sau hơn hai ngàn năm đã phủ lên tên 12 con giáp những lớp son phấn dầy đặc làm cho ta rất khó tìm về nguồn gốc chính xác của chúng. Cũng như các chữ viết tên 12 con giáp khác, chữ Hợi được dùng làm thành phần HT để thành lập các chữ Hán khác như hợp với bộ tâm là hãi HV (sợ), hợp với bộ cốt hài HV (hình hài, hài cốt), hợp với bộ tử là hài HV (con nít), và dùng để phiên âm các chất hoá học như Hêli (helium) … hợp với bộ khẩu là khái HV (ho,than thở ..)7 giọng BK bây giờ là hāi, ké . Cách đọc khái HV (ké BK) mở cánh cửa nhỏ cho thấy âm Hợi với phụ âm đầu h- (vô thanh/voiceless, thanh hầu) đã từng mang âm đầu k- (phụ âm gốc lưỡi hay âm ngạc sau/postpalatal). Ngoài ra, trong vốn
từ TH hiện nay còn một số chữ rất hiếm (không thấy trong các tự điển thông thường) như huī BK, fui1 (Quảng Đông/QĐ) với tiếng HV tương ứng là hôi, khôi, huy … viết bằng bộ thỉ hợp với chữ thổ, nghĩa là con heo. Hôi, hơi, khôi/khơi … là các dạng của hợi. Hôi/khôi còn là động từ chỉ hành động hỉnh mũi lên để ăn côn trùng trên mặt đất, viết bằng bộ trùng hợp với chữ hợi HT, giọng BK bây giờ là huī. Bộ thỉ hợp với chữ vật (wú BK, nghĩa là chớ), giọng BK bây giờ là hū (hô HV) so với giọng QĐ fat1, nghĩa là con heo… Đây là các vết tích rất ít thấy của ngôn ngữ phương Nam, cũng như hợi, mà tiếng TH càng ngày càng đào thải từ ảnh hưởng (vô tình hay cố ý) của nhóm cầm quyền từ phương Bắc. Khi nhìn qua các ngôn ngữ láng giềng, ta thấy tiếng Mường8 cho ta mối dây liên hệ quan trọng kết hợp các dữ kiện trên với nhau. Đó là cúi hay con heo mà tiếng Việt còn vài tàn tích như cách dùng ‘cá cúi : thứ cá biển có nhiều mỡ như heo, cũng gọi là heo biển … heo cúi : tiếng đôi hiểu là con heo’2 . Tự điển Việt-Hoa-Pháp6 cũng ghi cúi chỉ con heo, ‘Từ điển từ Việt Cổ’ của tác giả Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện (NXB Văn Hoá Thông Tin – 2001) cũng ghi rằng ‘… cúi : lợn, heo …. Bằng người giết cúi dê (trích từ ‘Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh’ - bản giải âm)’ . Thêm vào đó là cách dùng chữ gỏi để chỉ thức ăn trộn thịt heo (hay da heo) với rau, giấm … gỏi cũng là một dạng của cúi : điều này được ghi nhận trong bài viết của Jerry Norman ‘A note on the origin of the Chinese duodenary cycle’ trong cuốn ‘Linguistics of the Sino-Tibetan area – the state of the art’ (1985). So với các từ thường gặp trong vốn từ TH hiện nay qua các từ HV như trư/chư, thỉ, trệ, đồn, hy, ba … ta thấy rõ là Hợi/Hãi có nguồn gốc phương Nam qua các dạng chỉ con heo như cúi tiếng Mường, tiếng Ahom là keu, tiếng Dioi là kaeu3 … xem bảng so sánh trong bài viết phần 2.

Sau khi đi theo các dấu vết của loài heo trong văn hoá Việt và TH, và nhận ra những tương quan âm ngữ của Hợi/Hãi (không có nghĩa là heo trong tiếng TH) với các ngôn ngữ phương Nam - đặc biệt là tiếng Mường, tiếng Việt - phần sau sẽ đi sâu hơn về cách đọc và các biến âm chính để giải thích Hợi/Hãi chính là từ chỉ con heo thời thượng cổ.

2. Phụ âm đầu h- của Hợi/Hãi

Tuy hai phụ âm h- và k- (viết là c- trong tiếng Việt) thường khác nhau như qua các cặp tối thiểu (minimal pairs) hơ-cơ, ho-co, há-cá, hù-cù, hé-ké, hì-kì/kỳ … nhưng nếu quan sát tương quan h-k ngược dòng thời gian ta thấy có những liên hệ lý thú. Phụ âm đầu h- của Hợi/Hãi có dạng k- hay g- (các phụ âm tắc) hiện diện trong các phương ngữ Thái9, tiếng HV, tiếng Ahom, tiếng Pu-Yi… Tương quan k-h là hiện tượng biến âm tự nhiên vì vị trí phát âm cuối lưỡi của h và k rất gần nhau, cùng với khuynh hướng biến âm mạnh (strong sounds : như b, k..) ra các âm yếu hơn (weak sounds : như f, kh/h..). Các phụ âm mạnh thường là âm kêu (hữu thanh, voiced – như b, v, d …), tắc (stops, như k, g, t …) và xát (fricatives, như f, s, z …), các nguyên âm mạnh thường là nguyên âm sau (back vowels, như a, o …) hay trước (front vowels, như i, e…). Các biến âm k/g > h hay

a > ơ/ô trong phần này theo khuynh hướng âm mạnh trở thành âm yếu. Ta hãy so sánh một số trường hợp sau trong vốn từ Việt và HV

hộ HV cửa hồ (hồ cầm) cò (đàn cò)
hơi/khói khí HV Hùng (Vương) Khun (tiếng Mường)
huy HV quơ/quậy Hán (Trung Hoa) Khan
hoá HV goá hổ qua khổ qua (trái)
hữu HV ho khái HV
hát/hót ca hấp tấp cấp tốc HV

…v.v…

Ngoài ra, ta có vài trường hợp đồng đại (synchronic) cho thấy liên hệ h-k như hủi-cùi, hớt (tóc)-cắt … và để ý cách nói hổng/hông thay vì không. Một cách kiểm lại chiều biến âm k > h hay g > h là quan sát cách đọc các từ Phạn nhập vào tiếng TH và tiếng Việt : Agama (A-hàm, kinh Phật Tiểu Thừa), Ganga (Hằng Hà, sông lớn ở Ấn Độ, Huyền Trang ghi là Căng-già gần âm Phạn nguyên thuỷ hơn) … Âm hào HV (xem chi tiết phần 4 ở dưới) có âm cao HT cũng cho thấy biến âm k-h .

Liên hệ trực tiếp h-h của hài BK và Hợi/Hãi HV cho thấy thời gian nhập vào tiếng Việt một cách có hệ thống của tiếng TH (thời Đường Tống) – khác với biến âm k-h lâu đời hơn (qua khẩu ngữ, thời Tiền Hán – có nhiều thay đổi trong cách phát âm hơn) :

Hú BK hồ HV
Hù BK hộ (bảo hộ)
Huà BK hoạ HV (vẽ có lâu đời hơn)
Huì BK hội HV
Hào BK hao HV (tốn kém)
Hóng BK hồng HV (các dạng lâu đời hơn : hường, hỏn …)
Hé BK hoà HV (huề là một dạng khác)
Héng BK hoành HV (ngang)
Huáng BK hoàng HV (vàng là một dạng khác lâu đời hơn)

…v.v…

3. Nguyên âm ơ của Hợi

Các nguyên âm trên như ơ, o/ô, u … tương ứng với nguyên âm dưới a theo chiều lịch đại như nôm-nam, vốn-bản, bố-ba, bò-bà, ngó-nga, đối-đoái, thói-thái, khơi-khui-khai, cởi-giải, lợi-lời-lãi, mơ-mai, hợp-hạp … và tàn tích đồng đại là mơi-mai, đờn-đàn, lợi-lại … nên liên hệ giữa Hợi và hài BK có cơ sở giải thích. Tác giả William G. Boltz (sđd) còn xếp nguyên âm ơ của Hợi vào nhóm vần chi (zhi rime group). Các phương ngữ Thái như Saek đều có dạng nguyên âm ơ, phù hợp với nguyên âm ơ HV, cho thấy dạng âm cổ này thời Tiền Hán – so với các dạng nguyên âm dưới a hay ai của tiếng Lu, Pu-Yi … phản ánh giai đoạn giao lưu văn hoá cận đại.

Để giải thích liên hệ cúi-hợi-hãi, ta phải nhìn rộng ra xem các dạng nguyên âm thượng cổ (được phục hồi) : khuynh hướng tổng quát của âm –ai là có các dạng âm cổ hơn –ơi, -ôi hay –ui hay nguyên âm dưới trở thành nguyên âm trên và trước10 (front vowels). Ta có thể thấy rõ chiều biến âm này khi xem cách đọc chữ giang HV (jiāng BK), sông và dạng Thượng Cổ (thời Tiền Hán) *krung (các ngôn ngữ phương Nam TH còn duy trì phần nào dạng *krong/krung này).

4. Thanh điệu và phê bình thêm

Hợi HV có thanh vực trầm (trọc) tương ứng với thanh thứ 4 của giọng BK, hay thanh khứ (qù BK) phản ánh giai đoạn nhập vào tiếng Việt có hệ thống từ thời Đường Tống.

Hài (BK) Hợi/Hãi (HV) mài (BK) mại (HV)
mạ (nhục mạ) nèi nội (trong)
tự (thứ tự) è ngạc (cá sấu)
dài/dà đại (lớn) dị (khác)
hòu hậu (sau) Miào diệu (kỳ diệu)
bài bại (thua) Fàn phạm (phạm vi)
lệ (thể lệ) vụ (sương mù)
shòu thụ/thọ (nhận) kỵ (ghen, ghét)

…v.v…

Tuy nhiên, có những cách dùng đã hiện diện từ lâu đời nên thanh điệu thay đổi không có hệ thống rõ ràng như trên : shì BK - thệ-thề, tù BK - thố-thỏ, zì BK - tự-chữ, sì BK-tự-chùa, sì BK-tứ-tư, jìn BK-cận-gần, mù-mú BK-mả-mộ-mồ-mô … Ngoài ra, tiếng Việt còn duy trì một số phụ âm cuối tắc như –p, -k, -t (âm Hán Cổ mà giọng BK bây giờ đã mất đi), do đó số thanh điệu bị giới hạn lại thành ra thanh nặng hay sắc. Đây là một chủ đề rất thú vị, không nằm trong phạm vi bài viết về tên 12 con giáp này, cũng như nguồn gốc thanh điệu tiếng Việt dễ gây nhiều tranh luận. Tiếng Việt thời Tiền Hán không có thanh điệu nhiều như bây giờ (giọng Hà Nội chẳng hạn), nên tương quan giữa Hợi và *cọi/cụi hay cúi có thể đã hiện diện. Điều oái ăm là ta đã cho TH mượn các tên (và hệ thống) 12 con giáp từ thời Tiền Hán hay trước đó nữa, nhưng sau đó khoảng từ thời Đường Tống ta mượn lại các tên này cho đến ngày nay ! Bằng cách dùng vốn từ của nhánh Việt-Mường, nhóm Môn-Khme hay Nam-Á và dựa trên các biến âm có cơ sở vững chắc… ta có thể tìm ra nguồn gốc (hợi là con heo) của tên 12 con giáp như Hợi/Hãi chẳng hạn – các tên này không dính líu gì đến tên gọi 12 con thú trong vốn từ TH hiện nay. Tiếng Thái bây giờ còn gọi năm Hợi là bpee1 goon1 (kun/cun, cui là heo tiếng Mường) hay bpee1 muu3 (bpee1 là năm, muu3 là con heo trong tiếng thái). Người viết nhân đây ghi lại vài nhận xét về các tên gọi khác nhau như heo, lợn … cho thấy ảnh hưởng TH lớn đến nỗi tên nguyên thuỷ (cúi) từ từ mất đi để các tên mới phát triển trong quá trình thành lập tiếng Việt hiện đại.

Dựa trên sự tương đồng của nguyên âm ơ-a như đã viết trên, ta có thể khôi phục một dạng tương đương của lợn là *lan : dạng này trong vốn từ TH hiện nay có thể là lăn/lài BK (lười, biếng nhác – lãn HV viết bằng bộ tâm hợp với chữ lại HT) hay lán/lìn BK (ngu, chậm chạp – lam HV viết bằng bộ khẩu hợp với chữ lâm HT - chữ này rất hiếm). Xem cách cấu tạo hai chữ trên, tuy cùng diễn tả các ‘tính chất tiêu biểu’ của loài lợn, nhưng lãn có lý hơn vì liên hệ trực tiếp đến âm lười tiếng Việt so với âm lại/lợi HT. Chuỗi biến âm lãn-*lai-*lơi-lười có thể giải thích được bằng hiện tượng rút ngắn âm cuối (apocope) như đã được tóm tắt trong phần 5 của bài viết 4 về Mão/Mẹo/mèo. Tóm lại, lợn có liên hệ đến lãn HV (lăn BK, lười), điều này cũng được các tác giả như Lê Ngọc Trụ nhắc đến trong “Tầm Nguyên Tự Điển Việt Nam” (NXB Thành Phố HCM, 1993) và Lê Gia trong cuốn ‘Tiếng Nói Nôm Na” (NXB Văn Nghệ Thành Phố HCM, 1999). Heo là một từ thông dụng khác, dựa vào biến âm e-a ta có thể khôi phục một dạng tương đương là *hao : dạng này trong vốn từ TH hiện nay có thể là háo BK (heo rừng11, hào hùng … hào HV viết bằng bộ thỉ hợp với chữ cao HT viết gọn). Nhưng theo tác giả Lê Gia (sđd) thì heo từ chữ hi HV - giọng BK bây giờ là xī, hei1, hei2 QĐ viết bằng bộ thỉ hợp với chữ hi (vọng) HT. Hi HV là con lợn, dáng lợn chạy … Các tên thường thấy12 khác chỉ con heo như thỉ HV (shĭ BK, cũng chính là bộ thứ 152, chữ này tượng hình), trệ HV (heo nái, zhì BK viết bằng bộ kỳ thứ 58), đồn HV (heo sữa, tún BK viết bằng bộ thỉ hợp với chữ nhục bên phải), thoán HV (con heo, con nhím, lời giải thích tóm tắt … giọng BK bây giờ là tuàn, viết bằng bộ kỳ thứ 58), ba HV (lợn cái, bā BK viết bằng bộ thỉ hợp với chữ ba HT) và các tên gọi loài lợn rất hiếm5 như ông/ung
HV (wĕng BK), quận HV (jùn BK) …v.v… Một điểm nên ghi lại ở đây là theo tác giả Paul Benedict trong cuốn “Austro-Thai Language and Culture” (1975), ông cho rằng ba HV có nguồn gốc Nam Thái để cho ra các tiếng Tây Tạng phag, tiếng Mikir là phak … Đáng chú ý là trư HV, zhū/zhē BK viết bằng bộ thỉ hợp với chữ trứ/trước HT. Thuyết Văn Giải Tự giải thích chữ thỉ ‘Thỉ, trệ dã. Kiệt kì cục, cố vi chi thỉ’ - thỉ chính là trư (lợn), khi lợn tức giận thì đuôi dựng đứng lên gọi là thỉ13. Tính chất tượng hình của chữ Hợi cũng được nhiều tác giả để ý đến13, nhưng liên hệ âm thanh (qua chữ cúi) mới là chìa khoá sau cùng mở rộng cánh cửa về nguồn gốc phương Nam của chữ Hợi – cũng như cách gọi tên 12 con giáp…. ‘..chữ hợi thời xưa viết giống chữ thỉ trong kim văn và tiểu triện…chữ được tạo ban đầu có lẽ cùng nguồn với chữ hợi, thỉ …’13 : đọc cách giải thích này, ta thấy rõ ràng người TH đã dùng cách viết gần giống nhau (tượng hình) để ghi lại nghĩa của tên gọi ngoại lai (hợi-cúi), tuy nhiên vì mượn từ các âm đọc ngoại lai như vậy mà ta có thể truy ra nguyên uỷ của chúng. Có trường hợp cách viết thay đổi đôi chút như mãn-miễn-thố/thỏ, rồi từ đó đổi cả loài mèo (chi thứ tư) thành loài thỏ - xem bài viết phần 4 về Mão/Mẹo/mèo – nhưng chính cách đọc vay mượn đã trở thành từ hoá thạch (fossilised) hay chứng nhân cho nguồn gốc phi TH của tên 12 con giáp. Một dữ kiện quan trọng là chữ Hợi rất hiếm đọc là hài BK, viết bằng bộ thỉ hợp với chữ hợi HT, theo Từ Nguyên là ‘Trư tứ đề giai bạch xưng hợi’ và dẫn chứng sách Nhĩ Nhã … chứng tỏ hài BK hay Hợi HV từng là tên gọi con heo rất xưa – xem cách viết chữ này ở phần dưới. Cho đến ngày nay, các dạng phát âm liên hệ đến hợi, hôi/huy chỉ con heo (phương Nam) trong vốn từ TH bị đào thải để thay vào bằng những tên gọi phù hợp hơn với các nhóm dân cai trị từ miền Bắc. Tiếng nói con người thay đổi rất nhiều tuỳ theo trạng thái tình cảm, vật chất, thời gian, không gian … so với quán tính của chữ viết – nhưng cũng chính tiếng nói đã duy trì được phần nào những tinh hoa đã đưa con người lên địa vị văn minh ngày hôm nay – tóm gọn trong câu nói có vẻ nghịch lý của cổ nhân ta để lại

‘Trăm năm bia đá thì mòn

Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ’

5. Phụ chú, phê bình thêm với các tài liệu tham khảo chính

(1) thủ HV (đầu) viết bằng bộ thứ 185 trong 214 bộ thủ so với thủ HV (tay) viết bằng bộ thứ 64 - nghĩa hai chữ này giữ vai trò quan trọng trong văn hoá nên lấy làm bộ thủ. Cách dùng thủ lợn, thịt thủ (ghép chữ HV và Việt) cho thấy thủ (đầu) có lẽ được dùng phổ thông hơn thủ (tay) – so với cách dùng zhūtòu (trư đầu, đầu lợn) của TH. Để ý cách dùng trực tiếp chữ bì HV (da) để chỉ da lợn và món ăn từ da lợn như cơm bì sườn … Cách dùng thủ, bì HV một cách rất phổ thông như trên cần được nghiên cứu cho rõ hơn.

(2) xem thêm ‘Đại Nam Quốc Âm Tự Vị’ - Huỳnh Tịnh Của – SàiGòn (1895).

(3) xem thêm cuốn “12 Con Giáp” chủ biên Vũ Ngọc Khánh, Trần Mạnh Thường – NXB Hội Nhà Văn (Hà Nội 1998).

(4) theo tác giả Thường Tuấn trong cuốn ‘Văn Hoá về 12 con giáp của Trung Quốc’ – NXB Tổng Hợp (Thành Phố Hồ Chí Minh, 2005) - bản dịch tiếng Việt.

(5) chữ hỗn HT rất ít dùng một mình (rất hiếm thấy trong các tự điển TH, thường lànm thành phần HT), tần số dùng là 10 trên 171894734 theo các dữ kiện từ tài liệu trên mạng http://www.chinalanguage.com/cgi-bin/dict.php . Chữ hỗn HT còn được ghi lại trong cuốn “Chinese Characters” tác giả L. Wieger tái bản bằng tiếng Anh, 1965.

(6) người viết thấy cách đọc hợi là hãi trong ‘Tự điển Việt-Hoa-Pháp’ của Gustave Hue (1937) cho thấy cách đọc HV gần đây hơn như hài (BK) là hãi HV (sợ, thanh nặng hiện diện lâu đời hơn), hùn BK là hỗn HV, hù BK là hỗ HV (lẫn nhau), hàn BK là hãn HV (mồ hôi)… cho thấy thanh thứ 4 BK tương ứng với thanh ngã tiếng Việt - phản ánh sự nhập vào tiếng Việt có hệ thống hơn thời Đường Tống.

(7) để ý cách đọc chữ ho, khạc, học/ọc, ói … đều có tính chất tượng thanh (sound symbolism hay còn gọi là onomatopeia). Cũng vì lý do này mà một ngôn ngữ khác như tiếng Anh, chẳng liên hệ gì đến tiếng Việt, cũng cho thấy phụ âm cuối lưỡi k- trong động từ cough (ho, khạc ra). Dạng tiếng Anh Cổ (Old English) là coughen (hò, la) với dạng âm cổ Proto-Germanic là *kokh- tương ứng với âm phát ra từ cuống họng khi ho hay khạc. Trở lại với khái HV (ho), các dạng khác như khek1 (tiếng Minnan/Đài Loan), hoi4, haai4, koi3, kat1, haai1, hei1 (Quảng Đông), kak7, kak8, ket7, hai2, kat8, kem3, kak8.. (Hẹ) … cho thấy tàn tích của phụ âm đầu k- cổ hơn. Ngoài ra, ngại HV viết bằng bộ môn hợp với chữ hợi cho thấy phụ âm thanh quản (glottal) h- tương ứng với phụ âm ngạc mềm (velar) mũi tắc (nasal stop) ng- : đây là vết tích của âm tắc k- cổ hơn. Ngại HV có những dạng phát âm BK là hài, ài, hé, kăi, gāi - so với các dạng phát âm QĐ goi1, oi6, ngoi6 và Hẹ ngoi5, ngoi3, ngoi6, ngoe3 … cho thấy các phụ âm tắc vẫn còn được duy trì trong phương ngữ phía Nam TH. Thêm vào các dữ kiện về cách đọc ngại, khái, cao (thành phần HT của hào) … để ý chữ khí HV (qì BK) và các dạng liên hệ là khói, hơi cho thấy tương quan k-h

(8) xem thêm ‘Từ điển Mường-Việt’ - Nguyễn Văn Khang chủ biên, Bùi Chỉ, Hoàng Văn Hành – NXB Văn Hoá Dân Tộc (Hà Nội) 2002.

(9) xem bảng so sánh tên 12 con giáp qua các ngôn ngữ Á Châu (bài viết phần 4). Liên hệ h-k qua các phương ngữ Thái còn được ghi nhận trong bài viết ‘The Old Chinese Terrestrial Rames in Saek’ của tác giả William G. Boltz trong cuốn “Studies in the Historical Phonology of Asian Languages” (đồng chủ biên với Michal C. Shapiro, 1991 – NXB John Benjamin).

(10) xem thêm ‘A Handbook of Old Chinese Phonology’ tác giả William H. Baxter, NXB Mouton de Gruyter (1992) với các phương pháp phục hồi âm cổ TH.

(11) heo nuôi trong nhà (thuần hoá) có gốc từ heo rừng – thành ra âm hào HV có thể liên hệ đến heo, ngoài ra heo rừng rất khoẻ và hung hăng, rất say máu và sẵn sàng thanh toán bất cứ sinh vật nào lại gần chúng. Có những câu chuyện thuật lại việc heo rừng tấn công và hạ thủ các chú hổ, beo … Người Ấn Độ còn cho rằng heo rừng mới là đáng nể sợ hơn cả hổ báo trong rừng - xem thêm bài ‘Heo rừng mới là chúa sơn lâm’ trong cuốn “12 con giáp” Vũ Ngọc Khánh/Trần Mạnh Thường chủ biên (sđd). Từ đó, hào còn mang nghĩa mở rộng là can đảm (hào hùng, hào kiệt). Rất ít tài liệu ghi nhận nghĩa cổ của hào là heo rừng - xem “Chinese Characters” của L. Wieger (sđd), “Từ Nguyên” …

Heo còn có thể liên hệ đến một từ rất hiếm là xiāo BK hay là hiêu HV (còn là tiêu), giọng QĐ là haau1, hau3 … nghĩa là con heo đang chạy. Chữ hiêu HV đặc biệt này viết bằng bộ khuyển và chữ hiếu HT – các liên hệ này là những vấn đề còn mở ngõ.

(12) trư có tần số dùng nhiều nhất : 26297 trên 369369126, so với đồn là 2859 trên 457457638, thỉ là 1942 trên 432067182; Trệ có tần số dùng là 525 trên 430747376 so với hi là 490 trên 430747376. Xem thêm phụ chú (5).

(13) theo phần bàn về chữ trư trong cuốn “Ngữ Lâm Thú Thoại” chủ biên Triệu Bá Bình, Thời Học Tường. Bản dịch ra tiếng Việt của Thanh Lâm, Nguyễn Ngọc San hiệu đính – NXB Văn Hoá Thông Tin (Hà Nội, 2005).

Nguyễn Cung Thông


Xem online : NGUỒN GỐC VIỆT NAM CỦA TÊN 12 CON GIÁP (phần 1)