Trang nhà > Quan niệm > Quyền lực > Hội Tam Điểm và Thợ nề Tự do

Hội Tam Điểm và Thợ nề Tự do

Thứ Bảy 31, Tháng Ba 2007

Hội Tam Điểm ngày nay

Cuối tháng giêng 2005, một sử gia theo đạo Tin Lành là César Vidal đã cho xuất bản quyển “Los Masones: La Historia de la Sociedad Mas Poderosa” (Tam Điểm: Lịch sử của Hội kín quyền lực nhất) tại nxb Planeta. Theo Vidal, muốn hiểu được những gì đang xảy ra tại Châu Âu, cần phải xét tới vai trò của Hội Tam Điểm. Tác giả cũng nêu rõ ảnh hưởng của Tam Điểm trong những diễn biến quan trọng nhất của lịch sử Tây Ban Nha mới đây, đặc biệt từ ngày đảng Lao Động Xã hội Tiến Bộ thắng cử (tháng 3-2004). Chưa đầy một năm, chính phủ của Đảng này thông qua đủ thứ luật lệ trái ngược với luân lý Kitô giáo. Vidal cũng giải thích rằng Tam Điểm đóng một vai trò lớn khủng khiếp trong Liên Hiệp Châu Âu. Ông viết: “Bản dự thảo Hiến Pháp Châu Âu được soạn ra do một người Tam Điểm, cố tình gạt bỏ không nói gì đến những gốc gác Kitô giáo của Châu Âu, và thêm vào đó, lại cho vào một điều khoản vừa buộc các Giáo Hội phải lệ thuộc các Quốc Gia nhưng các tổ chức triết học lại được miễn.” Quyển sách còn nêu rõ tên tuổi rất nhiều lãnh tụ Châu Âu là thành viên Tam Điểm.

Alain-Noël Dubart, Đại sư Đại Đường Pháp hiện nay

Vidal nói số người theo Tam Điểm tại Pháp chỉ chừng 0,6% dân số. Có lẽ tại các nước khác cũng chỉ đạt một tỉ lệ ít như thế thôi, nhưng họ đã nắm được những vai trò then chốt trong các lãnh vực hoạt động chính trị, kinh tế và xã hội. Không riêng Châu Âu mà cả các nơi khác. Tác giả chỉ nhắc đến Cuba và Philippines, nhưng những sự kiện đang xảy ra tại Mỹ và Canađa cho thấy thế lực này đang có một sự phối hợp đồng bộ trên khắp thế giới. Chỉ riêng trên Internet, sự có mặt các website của nhiều Chi Hội Tam Điểm cũng đã cho thấy sức mạnh bí ẩn của họ...

Quá khứ lịch sử

Nhiều danh nhân trên thế giới là hội viên Hội Tam Điểm (HTĐ) ̣như các tổng thống Mỹ Washington, Thomas Jefferson, Grant, Abraham Lincoln, Franklin Roosevelt, Trumann, Lyndon B. Johnson v.v., thủ tướng Anh Winston Churchill, tổng thống Chili Allende, các nhân vật trọng yếu trong cuộc cách mạng Pháp (đại tướng La Fayette, Mirabeau, Sieyès, toàn thể gia đình hoàng đế Napoléon I) và những nhà lãnh đạo nước Pháp sau này (Jules Ferry, Paul Doumer, Mendès France, Gambetta v.v...), những nhà bác học (Alexandre Flemming- người phát minh ra thuốc Pénicilline; Lumière- ông tổ điện ảnh, Laplace- toán học gia, v.v...), những nhạc sĩ (Mozart, Haydn, Louis Amstrong, Duke Ellington, Rouget de Lisle- tác giả bài La Marseillaise- quốc ca Pháp, Eugène Pottier- tác giả bài Quốc tế ca của các đảng Xã hội và Cộng sản, v.v...), các văn sĩ và triết gia nổi tiếng (Montesquieu, Voltaire, Fichte, Rudyard Kipling, Mark Twain, Pouchkine, Stendhal v.v...) các phi hành gia lên cung trăng (Gordon, Cooper [1963], Aldrin, Gleen), các tài tử điện ảnh (Clark Gable, John Wayne v.v.)... Danh sách có thể lên đến cả chục ngàn người nổi tiếng.

Trước đây, Hồ Chí Minh, khi sang Pháp năm 1912, đã có bắt liên lạc với Hội Tam Điểm qua sự giới thiệu của hai ông Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền, nhưng không chắc là đã được vào Hội. Còn Vua Duy Tân là một hội viên Hội Tam Điểm ở đảo La Réunion.

Nguồn gốc Hội Tam Điểm

Sở dĩ ta hay gọi Hội thợ nề tự do (La Franc Maçonnerie, The Free Masonry) là "Hội Tam Điểm" vì trong các văn thư của họ, mỗi danh từ viết tắt thường được thay thế bằng 1 hình tam giác với 3 dấu chấm (điểm) ví dụ như "Frère" (anh em) thì được viết là F..., "Maître" (thầy) thì viết là M...

A) Huyền thoại Hiram

Theo truyền thuyết thì HTĐ đã xuất hiện từ tạo thiên lập địa, có mặt ở khắp nơi trên thế giới, từ Á sang Âu. Nhưng huyền thoại về Tổ sư của HTĐ (kiến trúc sư Hiram) bắt đầu từ thời vua Salomon (Do Thái), 900 năm trước Tây lịch. Thuở đó, vua Salomon, vâng lời Thượng Đế, ra lệnh cho xây cất đền thờ Jerusalem trên đồi Moria. Vua tuyển lựa 30.000 thợ luyện kim, 80.000 thợ hồ, 70.000 phu khuân vác. Tất cả những ngưòi này đều đặt dưới quyền chỉ huy của kiến trúc sư Hiram do vua nước Tyr gửi đến.

Kiến trúc sư Hiram còn gọi là Đại sư Hiram cho thiết lập 3 đẳng cấp tùy theo khả năng chuyên môn của mỗi người. Điều này giúp ông dễ dàng chỉ huy và cấp phát lương bổng mà không gây điều dị nghị. Đại sư Hiram truyền cho mỗi người một mật hiệu và những dấu chỉ, để nhận nhau trong cùng đẳng cấp với mình. Có 3 đẳng cấp:

1. Tập sự (apprenti) với mật hiệu là Jakin,

2. Thợ (compagnon) với mật hiệu Boaz,

3. Thầy (maître) với mật hiệu là Jehovah.

Trong đám đệ tử có 3 người "thợ" âm mưu với nhau, tính ép buộc Đại sư Hiram phải tăng lương họ lên bậc "thầy" và phải tiết lộ "bí truyền" cho họ, nếu không thì họ sẽ giết Đại sư Hiram.

Khuya đến, Đại sư Hiram đi tuần trong đền, thì bị 3 tên phản thầy phục kích và bị giết. Chúng đem xác của Đại sư ra chôn dưới gốc cây xiêm gai (Accacia). Trước khi chết Đại sư Hiram đã nhanh tay ném "chiếc tam giác bằng vàng" đeo nơi cổ xuống giếng sâu. Tam giác ấy chứa đựng tất cả những điều bí mật mà tiên tri Moise đã truyền lại cho dân Do Thái, cùng tên họ của vị Đại Kiến trúc sư của Vũ trụ.

Vì không được tin của người yêu là Đại sư Hiram, nữ hoàng Saba, đang thai nghén, đã phải đến vương quốc Salomon để hỏi thăm sự tình. Vua Salomon bèn ra lệnh cho 9 người "thầy" đi tìm Đại sư Hiram. Sau nhiều ngày lặn lội, 9 người "thầy" mới tìm ra nơi chôn xác của Đại sư Hiram, ba tên phản thầy liền bị bắt và chặt đầu. Chín người "thầy" được vua Salomon trao cho trọng trách điều khiển "Ủy Ban xây cất đền thờ". Do truyền thuyết đó, Hội Tam Điểm được coi như tiếp tục nhiệm vụ của Đại sư Hiram là xây cất "Ngôi đền của Vũ trụ". Những hội viên còn được gọi bằng danh từ "những đứa con côi của bà mẹ góa" (tức nữ hoàng Saba).

B) Các nghiệp hội thời Trung Cổ

Tại Châu Âu, đầu thế kỷ thứ 12, các nghiệp hội bắt đầu được thành lập và quy tụ những người thợ cùng chung một nghề. Lúc bấy giờ, các tay thợ đều ở dưới quyền sinh sát của các vua chúa. Họ phải đóng thuế rất nặng và không có quyền đổi nơi cư trú. Chỉ có Hội Thiên Chúa Giáo mới được quyền giải phóng họ thoát khỏi cảnh nô lệ đó. Dưới sự bảo trợ của Giáo Hội, những nghiệp hội tự do phát triển nhanh chóng. Các nghiệp hội tự do đó được gọi là "Francs Mestiers" (tiếng Pháp cổ: Franc có nghĩa là tự do, mestiers là nghề).

Nghiệp hội mạnh nhất là của những người trong ngành xây dựng, vì họ được Giáo Hội ưu đãi để xây cất các nhà thờ, chủng viện, cầu đường, chợ quán v.v... Đó là những "Franc Maçon" (maçon có nghĩa là thợ nề).

Có thể nói những "nghiệp hội tự do" đều xuất phát từ các dòng tu, mạnh nhất là dòng Thánh chiến ("Ordre des Templiers", tu sĩ nhưng cũng là hiệp sĩ, có thể so sánh với Thiếu Lâm Tự bên Trung Hoa). Dòng tu này đã bị Giáo Hội giải tán vào năm 1312. Vị Đại sư cuối cùng là Jacques de Moley đã bị Giáo Hội xử án hỏa thiêu vào năm 1314. Các nghiệp hội vẫn tiếp tục tôn trọng nghi lễ của dòng "Templier" mỗi khi nhóm họp. Đó là "nghi lễ Scotland cũ và được chấp nhận" (rite Ecossais ancien et accepté) mà các HTĐ coi như là một trong những nghi lễ chính thức.

Vào thời kỳ Trung Cổ, thế kỷ thứ 15, HTĐ chỉ quy tụ những người trong ngành xây cất, nên còn có tên là "HTĐ thực hành" (La Franc Maçonnerie opérative). Lúc bấy giờ, HTĐ hoạt động trong vùng bí mật vì các vua chúa đâu có cho phép tự do hội họp. Khi chiến tranh tôn giáo bùng nổ giữa Tin Lành và Thiên Chúa vào thế kỷ thứ 16, HTĐ cũng bị đàn áp dữ dội. Nhiều HTĐ ở Pháp đã phải sang Anh lánh nạn. Đến thế kỷ thứ 17, HTĐ được nới rộng ra và chấp nhận cho những người khác nghề cũng vào hội được. HTĐ còn được gọi là "HTĐ thuyết lý" (La Franc Maçonnerie spéculative). Dần dần nhờ các giai cấp tăng lữ, quý phái cũng gia nhập hội nên HTĐ phát triển nhanh chóng. Một tài liệu cổ là "Manuscrit Regius", ở cuối thế kỷ thứ 14, đã cho thấy có những vị bá tước và tăng lữ gia nhập HTĐ.

Năm 1717, HTĐ đầu tiên có hình thức như hiện nay được thành lập tại Anh là "Grande Loge de Londres" (Đại Đường Luân Đôn). Đến năm 1723, để thống nhất các HTĐ, mục sư Tin Lành James Anderson, người Scotland, cho công bố bản Hiến Pháp chung cho tất cả HTĐ.

Mục tiêu chính của bản Hiến Pháp đó quy định những điều căn bản sau đây:

-HTĐ là một hội để phục vụ con người.

-Hội viên TĐ là những con người tốt và chân thật, tôn trọng sự tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của người khác.

-HTĐ có bổn phận kết hợp những người tốt trên khắp hoàn cầu qua sợi giây huynh đệ thân ái không phân biệt màu da hay chủng tộc.

Muốn được vậy, hội viên Tam Điểm phải tự trau dồi bản thân bằng "phương pháp suy tư" qua các biểu tượng (tương tự như thiền quán trong đạo Phật) của các dụng cụ hàng ngày như cái dùi, cây compas (vẽ vòng tròn), thước vuông góc (équerre) v.v...

Những HTĐ trên thế giới

Hiện nay, trên thế giới những HTĐ được phân chia theo 3 khuynh hướng:

- Chịu ảnh hưởng của HTĐ Anh,

- Chịu ảnh hưởng của HTĐ Pháp,

- Độc lập tùy theo mỗi quốc gia như Đức, Thụy Sĩ, v.v...

Các HTĐ vẫn có quan hệ với nhau chỉ trừ vài trường hợp không được nhìn nhận là "hợp lệ".

Tổng số hội viên TĐ trên thế giới được ước lượng vào khoảng 7 triệu người, tầm mức ảnh hưởng chính trị rất rộng lớn. Những cơ chế xã hội như an sinh xã hội, trợ cấp thất nghiệp, chế độ hưu bổng, bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền v.v... đều do HTĐ chủ xướng. Những người lãnh đạo của Pháp, của các quốc gia Tây Phương, phần đông đều là hội viên Tam Điểm.

Sức mạnh của HTĐ do đâu mà có? Tổ chức như thế nào? HTĐ có phải là một Đảng Chính Trị không? Những câu hỏi này rất phổ biến nhưng trả lời thì rất khác nhau.

Hội Tam Điểm tại Pháp

Hiện nay Hội Tam Điểm tại Pháp gồm có nhiều hệ phái: Đại Đông Pháp (Grand Orient De France, viết tắt GODF), Đại Đường Pháp (Grande Loge De France, viết tắt GLDF), Nhân Quyền (Droit Humain, viết tắt DH), Memphis Misraim (viết tắt là MM), v.v...

Hội Tam Điểm Pháp ảnh hưởng rất mạnh trong các tổ chức chính trị tại Châu Âu nói chung, và tại Pháp nói riêng kể từ thế kỷ 18 đến giờ.

Phần đông những hội viên Tam Điểm là những người điều khiển, hoặc nắm giữ những chức vụ then chốt trong guồng máy lãnh đạo quốc gia. Nhiều hội viên Tam Điểm đã lợi dụng sự quen biết thế lực để mưu lợi cá nhân. Do đó, có rất nhiều người tự nhận rằng mình là hội viên Tam Điểm để "hù" thiên hạ, hoặc có khi lại còn đứng ra lập hội ma.

Gần đây, trong những vụ "xì căn đan HLM" có dính líu đến đầu cơ nhà chung cư, hầu hết những người chủ chốt là hội viên Tam Điểm. Các hệ phái Tam Điểm đã tức thời áp dụng các biện pháp chế tài để "làm sạch" hàng ngũ của mình như ngưng chức tạm thời để chờ kết quả điều tra của tòa án. Ông Didier Schuller, dân cử quận Clichy, thuộc Hội Tam Điểm GLDF, ông Françis Poulain cũng thuộc GLDF. Ông Claude Pradille (thượng nghị sĩ đảng Xã hội vùng Gard), ông Alain Journet chủ tịch hội đồng vùng Gard, ông Gilbert Baumet dân biểu vùng Gard, tất cả 3 ông này đều thuộc GODF.

1. Nguồn gốc của hội Tam Điểm Pháp

Tại Châu Âu, tổ chức xã hội ở cuối thế kỷ 17 còn là chế độ phong kiến. Các dòng vua chúa thường gây chiến với nhau để mở rộng lãnh thổ. Dòng họ Stuart, nước Ireland, sau khi bị các dòng họ Orange (Pháp), và Hanovre (Đức) đánh bại nên phải đem tàn quân đến tỵ nạn ở Pháp tại Saint Germain en Laye, gần Versailles.

Đám sĩ quan ngự lâm quân, phần đông gồm người Ireland, trong HTĐ đã thành lập hội sở TĐ đầu tiên tại Pháp có tên là "Sự Bình Đẳng Hoàn Mỹ" (Parfaite égalité) vào năm 1688 trước khi ĐĐ Luân Đôn được thống nhất lại năm 1717. Kể từ năm 1717 về sau, hội TĐ Pháp được phát triển và chịu ảnh hưởng của hai hệ thống Scotland (Loges Ecossais) và Anh (Loges Anglaises).

"Hệ Scotland" chịu ảnh hưởng của Thiên Chúa Giáo, và hoạt động độc lập nên phát triển rất nhanh. Trái lại, "hệ Anh" thì phải khai báo số hội viên về "Đại Đường Luân Đôn" nên ít được người Pháp thích. Năm 1721, hội sở đầu tiên "Tình Bằng Hữu và Huynh Đệ" (L’amitié et la Fraternité) thuộc "hệ Anh" ra mắt tại Dunkerque. Năm 1726, hội sở "Thánh Thomas", "hệ Scotland", được thành lập tại Paris với bá tước Derwentwater tên là Charles Radcliffe. Đến năm 1746, ông này bị vua Anh xử tử vì đưa quân về tính lật đổ chế độ hầu phục hồi lại ngai vàng của dòng họ Stuart.

Giai cấp quý phái tăng lữ và những trí thức ưu tú của Pháp gia nhập hội TĐ rất nhiều vì đáp ứng lại nguyện vọng của họ như tự do tư tưởng, chống lại sự độc đoán và chuyên quyền của vua chúa và giáo hội. Nên nhớ, nước Anh lúc bấy giờ, đặc biệt nhất là khi triết gia Montesquieu sang tỵ nạn lại Luân Đôn, là biểu tượng của "Tự Do Dân Chủ" đối với Châu Âu.

Giáo hội Thiên Chúa La Mã chống đối TĐ quyết liệt. Ngày 4/5/1738, Giáo Hoàng Clément XI I đã ban ấn chiếu "in eminenti" kết án hội TĐ, và "truất phép thông công" những hội và những cảm tình viên của hội TĐ, viện dẫn lý do là hội TĐ giảng dạy "tà đạo" vì hoạt động bí mật. Đến năm 1751, Giáo Hoàng Benoit XIV nhấn mạnh việc kết án trên đây.

Tại Pháp, ảnh hưởng không đáng kể, nhưng tại các nước Châu Âu khác thì nhiều hội viên TĐ đã bị xử tử, hỏa thiêu, hoặc tù đày.
Cuối năm 1771, hội TĐ tại Pháp có 497 hội sở phân chia như sau: 154 tại Paris, 322 tại các tỉnh lỵ và 21 trong các đơn vị quân đội. Mỗi hội sở như vậy gồm có ít nhất từ 30 người trở lên.

Ngày 26/11/1983, Hồng Y Joseph Ratzinger (sau này sẽ là Giáo Hoàng) cũng tiếp tục kết án các HTĐ. Ngày 24/11/1994, khi thảo luận về vấn đề phá thai, Hồng Y Ratzinger lại kết án lần nữa các HTĐ nói chung, và bác sĩ Pierre Simon nói riêng, một vị cựu "Đại sư" của "Đại Đường Pháp" vì bác sĩ này đã viết cuốn sách tựa đề là "De la vie avant toute chose" (tạm dịch: sự sống trước nhất).

2. Hai hệ phái đầu tiên của hội Tam Điểm tại Pháp

Ngày 24/6/1738, một đại hội đồng qui tụ các hội TĐ "Scotland" và "Anh" đã bầu lên vị chủ tịch (còn gọi là Đại sư) đầu tiên của hội TĐ tại Pháp. Đó là ông Louis De Pardaillan De Gondrin, công tước Antin. Điều đó nói lên sự thống nhất của hai hệ phái, nhưng phải chờ đến năm 1756, mới có một văn kiện chính thức tuyên bố sự thành lập của hội TĐ Pháp với danh xưng là "Đại Đường Pháp".

Sau khi công tước Antin qua đời, năm 1743 ông Louis De Bourbon-Condé, bá tước Clermont, lên thay thế. Đến năm 1766, sau khi bầu lại ban chấp hành của hội TĐ, sự chia rẽ trầm trọng đã xảy ra trong nội bộ đến nỗi sinh ra việc ẩu đả trong khi nhóm họp khiến cho cảnh sát phải can thiệp. Kể từ năm 1767, các cuộc hội họp đã bị cấm chỉ.

Năm 1771, bá tước Clermont qua đời, với sự cổ súy của công tước Luxembourg, một hệ phái khác đã được ra đời năm 1772 với danh xưng là "Đại Quốc Đường Pháp" nhưng sau kỳ nhóm họp đại hội đồng năm 1773, thì được cải danh thành "Đại Đông Pháp" (Grand Orient de France). Công tước Chartres, sau trở thàng công tước Orléans, được bầu làm vị "Đại sư của hội TĐ Pháp". Nhưng một số hội viên không chấp nhận, nên vẫn theo "Đại Đường Pháp" (Grande Loge de France) như trước đây. Từ đó, hai hệ phái TĐ Pháp vẫn hoạt động riêng biệt cho đến cuộc Đại cách mạng Pháp 1789.

3. Vai trò của HTĐ trong cuộc Đại cách mạng Pháp

Như chúng ta đã thấy, giới quý tộc Pháp lãnh đạo các HTĐ. Quy chế của hội TĐ năm 1742 có ghi rõ "Muốn làm hội viên thì phải trung thành với Thiên Chúa Giáo, với vua và có đức hạnh". Do đó, HTĐ không hề bị vương quyền làm khó dễ, dù rằng Giáo Hội đã lên án HTĐ.

Khi cách mạng Pháp bùng nổ, HTĐ có gần 1000 hội sở. Nhiều hội viên TĐ nắm giữ các vai trò then chốt trong cuộc cách mạng như: Bailly, Talleyrand, Brissot, La Fayette, Condorcet, Marat, v.v... Nhưng cũng có những hội viên TĐ khác chống lại cách mạng như Josept de Maistre.

Đặc biệt nhất là Đại Tướng La Fayette, người đã ủng hộ cuộc chiến tranh giành độc lập cho Hoa Kỳ. Tổng thống Mỹ đầu tiên Washington là một hội viên Tam Điểm, cũng như những người đã soạn thảo bản Hiến Pháp của Hoa Kỳ.

Một khuôn mặt nổi tiếng khác là linh mục Grégoire, người đệ trình dự luật hủy bỏ chế độ nô lệ và phục hồi quyền công dân cho người Do Thái. Năm 1989, hài cốt của ông được dời vào điện Panthéon, và trớ trêu thay, Hồng Y Lustiger, cũng là người Do Thái, đã từ chối không đến dự lễ vì linh mục Grégoire là một hội viên Tam Điểm!

Cuộc cách mạng Pháp năm 1789 là khởi điểm cho những cuộc cách mạng khác trên thế giới, và đã đặt nền móng cho các chế độ chính trị dân chủ hiện nay. Nguyên tắc phân quyền giữa Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp, bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đều phát xuất từ các phong trào tư tưởng cách mạng, hướng dẫn bởi các văn sĩ, triết gia như Voltaire, Montesquieu, Condorcet, Diderot, v.v... Những người này đều là hội viên Tam Điểm.

Ngay đến như phương châm của Cộng Hòa Pháp: "Liberté - Égalité - Fraternité" (Tự Do - Bình Đẳng - Huynh Đệ) cũng là phương châm của Hội Tam Điểm.

Những nhân vật chủ chốt của cuộc cách mạng Pháp như Đại tướng La Fayette, Talleyrand, Sieyès, Camille Desmoulins, Saint-Just, Danton, Marat, linh mục Grégoire (người đã dự thảo đạo luật phong quyền công dân cho người Do Thái). La Rochefoucauld, Noailles, Rouget de Lisles (tác giả "La Marseillaise" -Quốc Ca Pháp), v.v... đều là hội viên TĐ.

Nhưng ngược lại, những nhân vật lãnh đạo HTĐ Pháp như công tước Montmorency Luxembourg, và các đại biểu của quý tộc Pháp thì chống lại cách mạng, và trốn sang Anh hoặc sang Áo để tỵ nạn.

Vào lúc ấy, năm 1789, HTĐ Pháp có trên 70.000 hội viên, gồm toàn thành phần trên của xã hội đương thời như giới quý tộc, giới tu sĩ và tư sản giàu có. Số hội viên TĐ làm đại biểu trong Quốc Hội là 447 người trên tổng số 605 vị. Do đó, nhiều sử gia đã không ngần ngại viết rằng cuộc cách mạng Pháp là do HTĐ chủ xướng. Họ thường căn cứ trên các tài liệu gồm hơn 5000 trang (Mémoires pour servir à l’histoire du Jacobinisme) ngụy tạo bởi tu sĩ dòng Tên là Barruel (qua đời năm 1820) và Le Franc với dụng ý là đả phá HTĐ lúc bấy giờ.

Ngay đến như trận chiến lịch sử Valmy (20/9/1792) có thể làm đảo lộn cục diện nước Pháp, giữa quân đội nước Áo do phe bảo hoàng cầu viện, và đoàn quân ô hợp của cách mạng Pháp, các sử gia cho đó là công lao của HTĐ. Chính ngay như nhà đại văn hào André Malraux (từng làm Bộ trưởng Văn Hóa dưới thời De Gaule) còn viết rằng trận chiến này đã được các hội viên TĐ Pháp như Danton, Le Brun, Dumouriez dàn xếp đưa 8 triệu quan Pháp cho công tước Brunswich, một hội viên TĐ Áo, người chỉ huy quân đội Áo, để quân Áo rút lui. Nhờ đó mà Cộng Hòa Pháp mới sống sót đến ngày hôm nay.

Nhưng éo le thay, ảnh hưởng HTĐ càng lớn mạnh thì kỷ luật nội bộ càng lỏng lẻo, vì chi hội nào cũng muốn tăng ảnh hưởng chính trị nên tuyển mộ rầm rộ và bừa bãi. Các cuộc tranh chấp nội bộ trở nên trầm trọng, gây nên ẩu đả khiến chính quyền cách mạng đã ra lệnh giải tán các HTĐ vào năm 1792. Mặc dầu vậy, Bộ trưởng tài chính Clavière, chủ tịch Quốc Hội Lập Pháp Stanilas de Girardin đều là hội viên Tam Điểm.

Điều đau buồn nhất là chính vị Đại sư của HTĐ Đại Đông Pháp (Grand Orient de France) công tước Philippe Orléans ký tên là Philippe Égalité (Philippe Bình Đẳng), trong thư đề ngày 22/2/1793 để gửi báo "Le Journal de Paris" đăng vào ngày 24/2/1793, đã chối bỏ HTĐ nhằm trở cờ hầu cứu lấy mạng sống của mình, nhưng rốt cuộc cũng bị lên máy chém. Đó là thời kỳ khủng bố (la terreur) của cuộc cách mạng Pháp năm 1793. Nhiều hội viên TĐ đã bị xử tử, hay bị tù đày trong giai đoạn đen tối này của lịch sử nước Pháp, HTĐ bị tê liệt hoàn toàn. Số đông đoàn viên phải sang Anh tỵ nạn, hoặc lẩn trốn vào bóng tối.

Sau thời kỳ khủng bố, vào tháng 12-1793, ông Roettiers de Montaleau đã quy tụ được 18 chi hội để gây dựng trở lại HTĐ. Nhưng kể từ đấy, thành phần tu sĩ bớt đi rất nhiều, và giới quân nhân hội viên tăng lên rất mau. HTĐ bị phân ra theo hai khuynh hướng chính trị: phe hữu ủng hộ chế độ quân chủ lập hiến, phe tả chủ trương chế độ cộng hòa, và chống đối Giáo Hội Thiên Chúa.

HTĐ dần dần phát triển mạnh trở lại. Đến thời kỳ hoàng đế Bonaparte Napoléon I (Nã Phá Luân) thì HTĐ lại trở nên công cụ của triều đình. Hoàng đế Napoléon chính thức bảo trợ HTĐ, vì cả gia đình đều là hội viên TĐ trước khi Napoléon lên ngôi. Nhưng có một điểm thắc mắc: Hoàng đế Napoléon có phải là hội viên TĐ hay không? Có tài liệu cho rằng ông đã vào HTĐ tại chi hội "La sagesse" ở Valence khi còn là trung úy Bonaparte. Trụ sở chi hội đặt tại nhà in của ông Aurel. Ông Aurel sau này phụ trách mọi việc ấn loát của Napoléon trong cuộc hành quân tại Ai Cập.

Trong giai đoạn này, HTĐ gồm có 818 chi hội, hơn 80.000 hội viên, đa số là quân nhân. Ngày 5/11/1804, Joseph Bonaparte, người anh của hoàng đế Napoléon, đắc cử vào chức vụ Đại sư của HTĐ Đại Đông Pháp.

Ngày 24/6/1814, HTĐ Đại Đông Pháp chào mừng vua Louis 18 lên ngôi trở lại. Trong trận chiến Waterloo ngày 18/6/1815, các hội viên TĐ trong quân đội của hai phe thù địch đều hy sinh rất nhiều tại chiến địa. Những vị tướng chỉ huy của hai phe đều là hội viên TĐ. Bên này Wellington và Blucher. Bên kia Ney, Grouchy và Cambronne.

Thua trận này, hoàng đế Napoléon sau bị đày ra đảo Sainte Hélène và qua đời tại đấy ngày 5/5/1821. Các hội viên TĐ nào còn ủng hộ Napoléon phải rút vào bóng tối. Số còn lại thì phò chính quyền mới.

Source:
- http://www.gldf.org/component/content/article/64-conferences-a-manifestations-publiques/385-des-origines-a-la-fin-du-19e-siecle
- http://www.gwmemorial.org/History/default.htm


Xem online : Trụ sở Hội Tam Ðiểm