Trang nhà > Văn chương > Thi ca > Jones Very (1813-1880)

Văn học Mỹ

Jones Very (1813-1880)

Nhà thơ Mỹ

Thứ Hai 3, Tháng Sáu 2013

Tiểu sử:
Jones Very (28/8/1813 - 08/5/1880) là nhà thơ, nhà viết tiểu luận, mục sư, nhà thần học người Mỹ, có quan hệ với chủ nghĩa tiên nghiệm Mỹ. Ông sinh và mất ở Salem, Massachusetts. Ông học ở Đại học Havard và dạy tiếng Hy Lạp một thời gian ngắn sau khi tốt nghiệp. Ông được biết đến như một học giả nghiên cứu về William Shakespeare và nhiều bài thơ của ông là những bài thơ sonnet Shakespeare. Ông là bạn của Emerson, Channing, Hawthorne và James Freeman Clarke, người đã biên tập toàn bộ di cảo của ông sau khi ông tạ thế.
Tác phẩm:
Lá thu
Ngập đầy lá vẫn cứ rơi
Từ cành cây mẹ tách rời lá bay
Mục thân xác lá vơi đầy
Một ngày thu muộn rỗi tay việc làm
Gió mang cánh lá lang thang
Nằm phơi đây đó vô vàn màu tươi
Hôm qua khêu gợi mắt người
Lấm lem chiếc lá mưa rơi vật vờ
Trên đường khách lạ bơ vơ
Dừng chân nào biết, đâu ngờ sắc xuân
Có chăng nét đẹp bội phần
Ngất cao ngàn lá bâng khuâng trên đầu
Sục tìm đôi mắt xưa sau
Vô tình em giẫm lên màu lá tươi
Lá nằm vô dụng, lá ơi!
Ôi màu bất diệt trọn đời chưa quên

Liễu Nga Đoan dịch
Nguyên tác:
Atumne leaves
The leaves though thick are falling; one by one
Decayed they drop from off their parent tree;
Their work with autumn’s latest day is done,
Thou see’st them borne upon its breezes free;
They lie strown here and there, their many dyes
That yesterday so caught thy passing eye;
Soiled by the rain each leaf neglected lies,
Upon the path where now thou hurriest by;
Yet think thee not their beauteous tints less fair,
Than when they hung so gaily o’er thy head;
But rather find thee eyes, and look thee there
Where now thy feet so heedless o’er them tread;
And thou shalt see where wasting now they lie,
The unseen hues of immortality.
Trận mưa cuối cùng
Mưa đến chậm những sợi buồn xối xả
Cánh đồng khô cháy nắng, cành trụi trơ
Bãi hoang vu những giọt nước vỡ bờ
Thân rã rượi những rễ cây hồi phục
Ngọn cỏ xanh vẫn chưa tìm lại sức
Của mùa xuân cây lá chưa trổ mầm
Chào mào hót giữa mùa gặt vang rân
Miệng hăm hở những hạt mùa rơi vãi
Mưa rất khẽ trái chín cây rụng đại
Đã thấm sâu vỏ hạt dẻ tách đều
Ruộng đã cày hứa hẹn một mùa sau
Mưa đổ xuống gội một lần vạn vật
Tạ ơn trời, chẳng uổng phí gì đâu!

Liễu Nga Đoan dịch
Nguyên tác
The latter rain
The latter rain, it falls in anxious haste
Upon the sun-dried fields and branches bare,
Loosening with searching drops the rigid waste
As if it would each root’s lost strength repair;
But not a blade grows green as in the spring,
No swelling twig puts forth its thickening leaves;
The robins only mid the harvests sing
Pecking the grain that scatters from the sheaves;
The rain falls still—the fruit all ripened drops,
It pierces chestnut burr and walnut shell,
The furrowed fields disclose the yellow crops,
Each bursting pod of talents used can tell,
And all that once received the early rain
Declare to man it was not sent in vain.
Tiếng than của loài hoa
Mải mê tìm những đoá hoa xuân sớm
Hoa khoe tươi ở mọi nẻo đường đi
Nhưng hoa ơi, rồi đến ngày tàn tạ
Nấm mộ kia ám ảnh phút chia ly
Bên rừng phong xanh tươi màu nguyệt quế
Đã dấu che những số phận an bài
Đất đã đen vẫn đen màu muôn thuở
Những chồi non đang nhú chậm ai hay
Chim ngơ ngác phải lìa xa tổ ấm
Ngọn lửa hồng thiêu rụi mái nhà xinh
Tiếng chim kêu oán hờn như đòi đoạn
Tàn nhẫn thay lũ trẻ quá vô tình
Trong tâm tưởng những lời than não ruột
Này các em, niềm ám ảnh vẫn còn
Buồn khổ này có ai mà đoán được
Mái gia đình là tổ ấm, đâu hơn
Màu óng ả như xà cừ lấp lánh
Hoa mong manh đợi chờ gió thổi đều
Có nhớ chăng dáng hoa màu nhiệm ấy
Hẳn muôn đời sắc đẹp vẫn đáng yêu
Hoa đã nở như hồn ma tái nhợt
Thung lũng đen chẳng bóng mát êm đềm
Đã một lần hoa nở muôn ngàn đoá
Trên cành vui biết kể lể gì thêm
Đâu tìm được những tháng năm sau nữa
Nguyệt quế xanh im lìm mãi trên đồi
Cơn hỏa hoạn đã thường xuyên hiện diện
Có còn gì ngay cả rễ, than ôi!
Phía bên kia của cổng thu lệ phí
Có còn chăng hoa hồng nở ngạt ngào
Niềm vui riêng cho khách du mùa hạ
Cũng chia đều bởi số phận lao đao
Có trở về, có xua đuổi ra đi
Gia đình bé thiêng liêng thời trẻ dại
Có khúc hát chim ca xuân mê mải
Tim chan hoà niềm vui sướng mê ly

Liễu Nga Đoan dịch
Nguyên tác
The lament of the flowers
Looked to find Spring’s early flowers,
In spots where they were wont to bloom;
But they had perished in their bowers;
The haunts they loved had proved their tomb!
The alder, and the laurel green,
Which sheltered them, had shared their fate;
And but the blackened ground was seen,
Where hid their swelling buds of late.
From the bewildered, homeless bird,
Whose half-built nest the flame destroys,
A low complaint of wrong I heard,
Against the thoughtless, ruthless boys.
Sadly I heard its notes complain,
And ask the young its haunts to spare;
Prophetic seemed the sorrowing strain,
Sung o’er its home, but late so fair!
’No more with hues like ocean shell
The delicate wind-flower here shall blow;
The spot that loved its form so well
Shall ne’er again its beauty know.
’Or, if it bloom, like some pale ghost
’T will haunt the black and shadeless dell,
Where once it bloomed a numerous host,
Of its once pleasant bowers to tell.
’And coming years no more shall find
The laurel green upon the hills;
The frequent fire leaves naught behind,
But e’en the very roots it kills.
’No more upon the turnpike’s side
The rose shall shed its sweet perfume;
The traveler’s joy, the summer’s pride,
Will share with them a common doom.
’No more shall these returning fling
Round childhood’s home a heavenly charm,
With song of bird in early spring,
To glad the heart and save from harm
Nguồn: Thơ tình song ngữ, Liễu Nga Đoan, NXB Trẻ, 2002