Xem lẹ

Trang nhà > Nghệ thuật > Kiến trúc > KTS Nguyễn Bá Lăng

KTS Nguyễn Bá Lăng

Thứ Hai 23, Tháng Giêng 2012

Nguyễn Bá Lăng (1920-2005) là một kiến trúc sư nổi tiếng đã để lại một số công trình có quy mô lớn ở Việt Nam cùng những tác phẩm nghiên cứu về kiến trúc cổ truyền của dân tộc ta.

Ảnh: Tháp Quán Thế Âm cao 40 m. Công trình đầu tay và cũng nổi bật nhất, giá trị nhất, tiêu biểu nhất của Nguyễn Bá Lăng là tác phẩm kiến trúc chùa Vĩnh Nghiêm. Công trình này xây dựng từ năm 1964 đến năm 1971 mới xong về cơ bản các toà Phật Điện, Bảo Tháp và Tam quan. Đây là ngôi chùa có quy mô vào loại lớn nhất ở Sài Gòn, khuôn viên trên 6000m2, nay toạ lạc ở số 339 Nam Kỳ Khởi Nghĩa (Quận 3 - TP. HCM).

Tiểu sử

Ông sinh năm 1920, quê gốc ở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Lớn lên ông theo học Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (1925-1945) tại Hà Nội, nhưng chưa tốt nghiệp thì trường bị giải thể do chiến tranh. Từ đó ông đã dành ngót chục năm đi sâu tìm hiểu cái nôi của nền văn hoá giàu bản sắc và đọc rất nhiều những sách của người Pháp giới thiệu về kiến trúc cổ Việt Nam. Bằng đôi chân nhanh nhẹn, ông đã khảo sát điền dã, nghiên cứu, ghi chép rất công phu hầu hết những ngôi đình, ngôi chùa, nổi tiếng như đình Đình Bảng, chùa Bút Tháp, chùa Dâu ở Bắc Ninh; đình Tây Đằng, Chu Quyến, chùa Tây Phương ở Sơn Tây; chùa Keo ở Nam Định, Thái Bình; chùa Láng, chùa Kim Liên ở Hà Nội... Đặc biệt ông đã tìm hiểu rất kỹ ngôi chùa Vĩnh Nghiêm có từ đời Trần, nguyên là Tổ đình Phật giáo ở xã Đức La, Lạng Giang, Bắc Giang - một trung tâm truyền bá Phật giáo của Trúc Lâm Tam Tổ. Bộ sưu tập về kiến trúc dân gian của ông là một vốn quý ít ai có được.

Bắt đầu từ năm 1950 ông làm việc cho Sở Quốc gia Bảo tồn Cổ tích trong chính quyền Bảo Đại và tiếp tục phục vụ chính quyền mới tại Hà Nội trong gần một năm. Ông cùng gia đình từ Hà Nội di cư vào Nam năm 1955, lúc đầu sống rất chật vật ở Sài Gòn. Nhà nghèo, không có điều kiện du học, mãi sau này ông mới theo học tại Trường cao đẳng Kiến trúc Sài Gòn và tốt nghiệp năm 1961. Từ ngày nhập học đến khi tốt nghiệp vậy là 18 năm, một kỷ lục về thời gian đeo đuổi để trở thành kiến trúc sư.

Năm 1956 ông làm tòng sự tại Viện Khảo cổ Sài Gòn, chuyên về kiến trúc và mỹ thuật cổ truyền. Kiến thức uyên bác của ông về sau được chính quyền miền Nam thời đó biết đến và bổ nhiệm làm Giám đốc Viện Khảo cổ Sài Gòn. Song ông vẫn thích sáng tác kiến trúc, đặc biệt là kiến trúc chùa chiền, để có dịp khai thác nhiều hơn vốn kiến thức từ di sản truyền thống dân tộc vào trong từng tác phẩm.Ông là người đầu tiên dùng vật liệu bê tông để thực hiện một công trình mang dáng nét kiến trúc truyền thống Việt Nam.

Hiểu biết của ông vừa rộng vừa sâu. Rộng đến mức đúc kết viết thành cuốn sách dày 2 tập “Kiến trúc Phật giáo Việt Nam” để phổ biến rộng rãi. Sâu đến mức thuộc từng hoa văn khắc trên viên gạch của mỗi triều đại, hiểu chi ly từng áng mây, từng sóng nước của từng thời khắc trên những cấu kiện kiến trúc đình chùa.

Ông rời Việt Nam năm 1974 và định cư tại Pháp rồi mất ngày 14-6-2005, thọ 85 tuổi.

Công trình kiến trúc

Hà Nội, 1950-1955

- Cùng KTS Nguyễn Gia Đức trùng tu Trấn Ba Đình ở đền Ngọc Sơn và tu sửa đền Lý Quốc Sư.
- Tu sửa đền Tú Uyên, đền Voi Phục và đền Quán Thánh.
- Dựng lại cầu Thê Húc năm 1953.
- Lập họa đồ và trùng tu chùa Một Cột năm 1955, sau khi Liên Hoa Đài bị phá sập năm 1954.

Miền Nam, 1955-1975

- Chùa Xá Lợi năm 1958.
- Xây đền thờ và Bảo tàng Kalong Chàm ở Phan Rí năm 1960.
- Chùa Vĩnh Nghiêm 1966-1974.
- Chùa An Quốc trong cư xá sĩ quan Chí Hòa, Sài Gòn năm 1972-1975.
- Viện Đại học Vạn Hạnh.
- Thiết kế trùng tu đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức ở thị xã Tân An.
- Mở rộng bảo tàng Quốc gia Việt Nam ở Sài Gòn (nay là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh).
- Viện Bảo tàng Huế và Bảo tàng Chàm ở Đà Nẵng.
- Miếu Bà Chúa Xứ trên núi Sam (Châu Đốc), hợp tác với KTS Huỳnh Kim Mãng năm 1973-1975.

Nước ngoài, sau 1975

- Chùa Quan Âm tại Paris (Champigny sur Marne), Pháp.
- Chùa Tịnh Tâm tại Sèvres, ngoại ô Paris.
- Liên Hoa đài tại Làng Mai, Pháp.
- Việt Nam Phật quốc tự, Bồ Đề Đạo Tràng, Lâm Tỳ Ni, Ấn Độ.

Tác phẩm nghiên cứu

- Chùa xưa tích cũ.
- Kiến trúc Phật giáo Việt Nam, Tập I và II.