Home > Bạn đọc > Kẻ trong cuộc > Kazik của Mỹ Sơn

Kazik của Mỹ Sơn

Friday 22 May 2009

Vào thập niên 80 của thế kỷ trước, Ba Lan đang gặp nhiều khó khăn. Việt Nam chúng ta cũng đang khó khăn trăm bề. Trong số ngót một vạn người của Liên hiệp các Xí nghiệp Phục hồi Di tích Quốc gia hùng hậu và lừng danh của Ba Lan thuở bấy giờ chỉ có một người dám xung phong đảm nhận chức ở Tiểu ban Tu bổ Di tích ở Việt Nam - một đất nước xa xôi, khó khăn và không hứa hẹn tiền bạc - đó chính là KTS Kazimierz Kwiatkowski (tên thường gọi thân mật là Kazik).

Phù điêu chân dung Kazik tại Hội An (hoàn thành năm 2005)

Ông đã gắn bó với Việt Nam suốt 17 năm liền và chọn Việt Nam là tổ quốc thứ hai của mình. Có thể nói, sau những nỗ lực của người Pháp do H. Parmentier chủ xướng về nghiên cứu và bảo tồn đền tháp Chàm từ trước 1945, thì KTS Kazik và các chuyên gia Ba Lan cùng cán bộ Việt Nam đã thực hiện một công cuộc khảo cứu, điều tra, ghi chép quy mô và đồng bộ nhất hầu hết các di tích Chàm sau vài thập kỷ chiến tranh và sự lãng quên. Đó quả là một sự tích lũy vô giá cho khoa học, cho mai sau.

...Thời đó, giới chuyên môn ở Việt Nam còn ít kinh nghiệm về trùng tu di tích, nhất là di tích bằng đất nung và đá. Khi trùng tu di tích Chàm làm bằng đất nung và một phần bằng đá ở dạng phế tích, Kazik tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc của trường phái “trùng tu khảo cổ học” được quốc tế công nhận: đó là giữ gìn nguyên vẹn di tích gốc và các thành phần gốc, không làm sai lệch và không làm giả di tích, chủ yếu sử dụng biện pháp gia cố kỹ thuật để duy trì hiện trạng, chỉ phục chế từng phần nếu có cơ sở khoa học, không phục nguyên, không làm lẫn cái gốc với cái mới đưa vào để gia cường.
Làm theo bài bản này, các ngôi tháp ở Mỹ Sơn đã được cứu vãn và phục chế từng phần, mà vẫn giữ nguyên được những đặc điểm và giá trị vốn có. Quan sát kỹ, bên cạnh những thành phần gốc đã được gia cố và nhấn mạnh, người ta có thể nhận biết được những vết tích can thiệp của nhà trung tu - nhà phẫu thuật - nhằm giúp cho di tích trước hết không sụp đổ. Là một nhà khoa học, một KTS trùng tu di tích của trường phái tu bổ di tích Ba Lan được thế giới thừa nhận, Kazik luôn luôn suy ngẫm, đắn đo, bàn bạc kỹ lưỡng rồi mới cho phép mình đụng chạm vào di tích. Ông thấu hiểu Mỹ Sơn như một “bệnh nhân” đặc biệt, một “bệnh nhân của quá khứ không bao giờ trở lại”.

Trong thời gian làm việc tại Mỹ Sơn, bom mìn, gian khổ và nhất là đồng vốn thiếu trước hụt sau cũng không hề làm Kazik nản lòng, mà cứ “đến hẹn lại lên”, mỗi năm mùa khô Quảng Nam lại thấy Kazik xuất hiện nơi núi rừng hoang vu, im lặng chăm chút khôi phục lại cái đẹp đang bị vùi lấp. Trong đoàn của ông có 8 người đã vĩnh viễn nằm lại Mỹ Sơn do đụng mìn, thiếu thốn, gian khổ, bệnh tật... Năm 1991, Hiệp định Văn hoá Việt Nam - Ba Lan kết thúc, chỗ dựa pháp lý, tài chính cuối cùng cho lao động của ông không còn, ông đã tự đứng ra kêu gọi và tạo được quỹ cho hoạt động. Ngay vào thời điểm khó khăn nhất, ông vẫn nói: “Tôi chịu đựng được hết thảy, miễn sao được sống vì những ngôi tháp”.

“Người Chăm pa cổ đã gửi tâm linh vào đất, đá và biết dựa vào thiên nhiên để làm nên một Mỹ Sơn thâm nghiêm, tráng lệ, hùng vĩ. Đây là một bảo tàng điêu khắc, kiến trúc, nghệ thuật vô giá của nhân loại mà sẽ còn lâu chúng ta mới hiểu hết”. Đó là câu nói ngắn gọn mà đầy đủ nhất, đẹp đẽ nhất mà kiến trúc sư Kazik đã dành cho Mỹ Sơn.

Ngày còn sống, có những buổi chiều ngồi trong vùng không gian tím của lòng chảo Mỹ Sơn, những đêm tĩnh mịch bên đống lửa với chai rượu “Nàng Hương”, “Lúa Mới”, nghe giọng dế Mỹ Sơn hoà tấu bản nhạc đêm, Kazik vẫn thường nói: “Khi tôi chết, hãy chôn tôi ở Mỹ Sơn. Sống làm cư dân Mỹ Sơn, chết hoà cùng con giun, con dế Mỹ Sơn...”. Nhưng ngày ông mất tại Huế (19/3/1997), thi hài ông lại được chuyển về Ba Lan trong một quan tài kẽm... Và người dân xứ Quảng chỉ còn cách tri ân ông bằng những tượng đài.

Theo K.T.H (TT&VH)