Xem lẹ

Trang nhà > Xã hội > Kinh tế > Khủng hoảng kinh tế thế giới và đầu tư

Khủng hoảng kinh tế thế giới và đầu tư

Thứ Sáu 13, Tháng Hai 2009

"Alan Greenspan là một thảm hoạ !" Đó là nhận định của chuyên gia dự báo kinh tế Ambrose Evans-Pritchard, biên tập viên kinh tế quốc tế của tờ Daily Telegraph khi nhắc đến Alan Greenspan, cựu Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang FED. Ngoài ra, ông còn đưa ra những nhận định sắc sảo và lời khuyên đầu tư hữu ích trong tình hình kinh tế giới đảo điên hiện nay.

"Alan Greenspan là một thảm hoạ"

— Cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay dường như làm cả thế giới bất ngờ. Theo ông, tại sao không có một cảnh báo đáng kể nào trước đó?

Có một số người đã nhìn thấy viễn cảnh khủng hoảng, nhưng ảnh hưởng khủng khiếp của Alan Greenspan và phe của ông ta đã làm lu mờ tất cả.

Ví dụ như Bill White – nhà kinh tế trưởng tại Ngân hàng bình ổn quốc tế (BIS). Ông ấy đã nghiên cứu rất kỹ về những ảnh hưởng mà không mấy ai để ý của hệ thống tài chính kinh tế toàn cầu. Các báo cáo hàng năm của ông ấy rất chuyên nghiệp, mặc dù BIS chỉ là một ngân hàng thuộc hệ thống ngân hàng trung ương và FED mới là ông chủ lớn nhất.

Ngoài ra còn có thể kể đến Stephen Roach của Morgan Stanley, Bernard Connolly của AIG và Nouriel Roubini của RGE Monitor, họ cũng đã có những cảnh báo về cuộc khủng hoảng này.

Tôi cùng một nhóm nhỏ các nhà nghiên cứu trên khắp thế giới có chung quan điểm rằng trong 15 năm qua, các ngân hàng trung ương – do Greenspan chi phối - đã giữ mức lãi suất quá thấp. Do định giá sai tín dụng, họ đã khuyến khích nợ nần và ngăn chặn dự trữ. Họ đã tạo ra các phương thức để thúc đẩy nợ mang tính toàn cầu và nó đã tước đoạt sự thịnh vượng của tương lai. Và tương lai đó đang đến đây.

Theo tôi, Greenspan là một thảm hoạ. Sự sụp đổ chết người của các hệ thống tài chính là sự trả giá cho các học thuyết của ông ta về việc các ngân hàng trung ương có thể lờ giá trị bất động sản đi một cách an toàn. Ông ta cũng cho rằng bong bóng là do các quỹ dự trữ tại châu Á tạo ra và nằm ngoài tầm kiểm soát của mình. Điều này thực sự lố bịch và vô trách nhiệm.

FED đã có thể ngăn chặn điều này bằng một chính sách tiền tệ thắt chặt hơn. Tiến sĩ Ben S. Bernanke - người kế nhiệm chức Chủ tịch FED từ Alan Greenspan tháng 2/2006 cũng đáng bị lên án vì ông ta đã cung cấp những lập luận lý thuyết cho các chính sách của Greenspan, nhưng ít ra Bernanke cũng là một người nghiêm túc.

Hai nguyên nhân của cuộc khủng hoảng

— Theo tôi tìm hiểu, cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay xuất phát từ Phố Wall và lan ra toàn thế giới. Khởi nguồn của nó là việc mua bán thiếu minh bạch những khoản nợ xấu của các ngân hàng Mỹ. Góp phần vào việc mua bán này là các công ty xếp hạng và người mua hầu hết là các ngân hàng trung ương tại các nước đang phát triển. Vậy tôi có thể nói thủ phạm của cuộc khủng hoảng này là Phố Wall và các nước đang phát triển là nạn nhân không?

Tôi không đồng ý. Nó bắt nguồn từ Phố Wall nhưng đó chỉ đơn thuần là sự tuần tự về thời gian. Cuộc khủng hoảng không phải do Phố Wall “gây ra” mà có những động lực lớn hơn trên thề giới tạo ra. Sự thua lỗ đến mức vô lý đã xảy ra không chỉ ở Mỹ mà ở châu Âu (Anh Quốc, khu vực sử dụng đồng Euro, Bắc Âu, Đông Âu và Nga), phần lớn khu vực Trung Đông – đặc biệt là Dubai, Australia và Trung Quốc.

Theo tôi có hai nguyên nhân chính cho khủng hoảng. Nguyên nhân chủ yếu là chính sách của các ngân hàng trung ương phương Tây, đặc biệt là FED và Ngân hàng trung ương châu Âu, đã giữ mức lãi suất quá thấp. Việc này trên thực tế đã có tác động tiêu cực, thổi phồng bong bóng của thị trường bất động sản.

Thứ hai, các nền kinh tế mới nổi đang dự trữ ngoại hối đến mức 6,7 nghìn tỷ USD, dẫn đầu là Trung Quốc. Điều này tác động trở lại thị trường cổ phiếu toàn cầu, làm giảm lợi tức dài hạn và tạo nên bong bóng của thị trường cổ phiếu toàn cầu.

Các quỹ lương hưu và bảo hiểm cũng không còn khả năng đáp ứng các nghĩa vụ dài hạn khi mua các cổ phiếu được đóng dấu tuyệt hảo (AAA). Do đó họ đã chộp lấy các cổ phiếu thứ cấp được chia nhỏ và sử dụng như công cụ AAA cho việc ký quỹ nợ khi các ngân hàng đầu tư tại Phố Wall chào mời. Các ngân hàng đáng trách thật nhưng họ chỉ là người môi giới chứ không phải là nguyên nhân gây ra tình trạng này.

Cán cân thương mại của Nhật Bản cũng có trong danh sách các nguyên nhân. Gói kích cầu trị giá hơn 3 nghìn tỷ USD đuợc rót vào hệ thống kinh tế toàn cầu trong suốt thời gian bùng nổ để cứu Nhật Bản khỏi tăng trưởng không. Tôi không đổ lỗi cho Ngân hàng Nhật Bản. Họ đã làm đúng vì lợi ích của đất nước họ, nhưng nó đã tạo nên bong bóng cho toàn cầu.

Trái phiếu Mỹ sẽ sụp đổ vào cuối năm 2009?

— Theo ông, nền kinh tế toàn cầu mà đại diện là Mỹ sẽ phục hồi vào thời gian nào? Kinh tế thế giới phải mất bao nhiêu năm để khắc phục những hậu quả của cuộc khủng hoảng này?

Đang có một cuộc chiến khốc liệt giữa một bên là việc giảm bớt nợ vay ở phạm vi lớn chưa từng có, và một bên là các biện pháp kích cầu tài chính tiền tệ cũng không kém phần lạ lùng từ trước đến nay. Chưa thể nói trong cuộc chiến này phe nào sẽ mạnh hơn.

Tôi e rằng châu Âu sẽ là nơi hứng chịu giai đoạn tiếp theo của cuộc khủng hoảng, vì ở đó các ngân hàng vẫn chưa đạt đến độ thua lỗ tối đa. Việc này sẽ xảy ra đồng thời với một cú phát nổ mang tầm khu vực giống như đã từng xảy ra ở châu Á năm 1997- 1998 và Đông Âu. Điều này sẽ xảy ra ngay khi xuất khẩu của châu Á sụp đổ dẫn đến suy thoái nặng nề tại Trung Quốc.

Điều này làm giảm cán cân trong thị trường hàng xuất khẩu của Mỹ, một trong những yếu tố giữ cho kinh tế Mỹ thịnh vượng trong năm ngoái, đe doạ dẫn đến một giai đoạn mới trong khủng hoảng suy thoái kinh tế Mỹ. Hiện đã có những dấu hiệu phục hồi nhưng tôi e rằng đó chỉ là những dấu hiệu ảo.

Tôi cá là chỉ có 30% cơ hội là tình huống này được giải quyết, còn 70% là một khả năng trung hoà hơn: một sự hồi phục nhẹ vào đầu năm 2010 do sự phục hồi của thị trường cổ phiếu trước đó vài tháng.

— Ông đã dự đoán rằng: "Cuối năm 2009, gói kích thích khổng lồ của chính phủ sẽ phát huy hiệu lực. Thị trường chứng khoán, dầu mỏ và vàng sẽ đi lên. Trái phiếu sẽ sụp đổ”. Tôi nghĩ ông đang nói về Chính phủ Mỹ? Căn cứ vào cơ sở nào để ông đưa ra dự báo đó?

Đang có một sự bùng nổ về các phương thức kích thích kinh tế. Thường thì phải mất từ một năm đến 18 tháng để hệ thống tiền tệ phát huy hiệu quả, vì vậy tôi hy vọng rằng điều này sẽ bình ổn được nền kinh tế trong thời gian một năm.

Tôi nghĩ Mỹ sẽ thoát khỏi khủng hoảng trước vì họ luôn là người nhanh nhất. Ngân hàng trung ương châu Âu đã ngủ quên trong một thời gian dài. Họ hoàn toàn không nhận định được tình hình khủng hoảng: khu vực sử dụng đồng euro sẽ phải trả một giá đắt cho sự thiếu hoàn thiện của mình.

— Ông cũng dự đoán rằng kinh tế Trung Quốc, Nhật Bản sẽ diễn biến tệ hại hơn. Theo tôi biết, nền kinh tế tiêu dùng của Mỹ bị ảnh hưởng lớn bởi những mặt hàng giá rẻ nhập khẩu từ Trung Quốc. Nếu kinh tế Trung Quốc đi xuống thì ảnh hưởng đến kinh tế Mỹ là không nhỏ. Ngược lại, nếu kinh tế Mỹ phục hồi vào cuối năm 2009 như ông dự đoán, chắc chắn sẽ kéo theo sự phục hồi của kinh tế toàn cầu, gồm cả các nước châu Á.

Có quá nhiều đầu tư vào một số khu vực ở châu Á và có thể tạo nên sự bội thực. Trung Quốc phụ thuộc vào thị trường Mỹ nhiều hơn là Mỹ phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc. Mỹ luôn khuyến khích tiêu dùng nên giờ họ phải thắt lưng buộc bụng một cách tức tối. Trong hoàn cảnh ấy, những nước xuất khẩu luôn bị thiệt hại nặng.

Trung Quốc sẽ hồi phục và phát triển, nhưng không thể trước Mỹ - và sau đó là châu Âu. Châu Á chưa thể được coi là một động cơ đủ công suất của guồng máy kinh tế thế giới. Họ đã theo đuổi chiến lược dựa vào các thị trường phương Tây, và vì vậy, không thể tránh khỏi trở thành một khu vực phụ thuộc.

Mỹ có đầy đủ nguồn lực và chiều sâu kinh tế để đóng cửa giao dịch thương mại với các nước trong một thời gian để dưỡng sức và theo đuổi chính sách tái công nghiệp hoá như Đức đã làm sau năm 1933, nếu nước Mỹ muốn. Hiện không có quốc gia nào trên thế giới có thể làm thế, dù chỉ là thử nghiệm, mà không bị mất đi tương đối nhiều quyền lực. Bên cạnh đó, Mỹ cũng không muốn những nỗ lực kích cầu bị rót hết vào cuộc khủng hoảng này.

Nếu việc này xảy ra, đó sẽ là mối nguy hiểm lớn đối với toàn thế giới. Một nước Mỹ bế quan tỏa cảng có thể sẽ rắc rối hơn cả một nước Mỹ thích can thiệp. Nhưng nước Mỹ luôn đi cùng chúng ta, dù chúng ta có thích hay không.

Vàng? Chứng khoán? Đôla? hay Bất động sản?

— Trong tình hình kinh tế hiện nay, theo ông nên đầu tư vào đâu, chứng khoán, vàng, USD hay bất động sản?

Nhìn chung tôi có xu hướng dùng đồng USD cho đầu tư dài hạn. Mỹ là nền kinh tế duy nhất có sức mạnh lớn với kết cấu nhân khẩu mạnh cũng như thế mạnh về khoa học và chiến lược để duy trì sự thống trị. Nhiều người đã bất ngờ khi đồng USD đua giá vào nửa cuối năm ngoái và họ sẽ phải bất ngờ lần nữa khi đồng euro bước vào một cuộc khủng hoảng có tính hiệu ứng nghiêm trọng.

Vàng sẽ có giá trị đầu tư khi các yếu tố sau trở nên rõ ràng: a) Mỹ có ý định đẩy nhanh việc thoát khỏi khủng hoảng; b) đồng euro không phải là đồng tiền thay thế.

Tôi cũng nghĩ đây là thời điểm tốt để đầu tư vào thị trường bất động sản ở Mỹ mặc dù tôi có thể kết luận hơi sớm.

Tôi cũng sẽ chờ đợi diẽn biến ở châu Âu và châu Á. Đây là trường hợp ai vào trước thì ra trước. Nước Mỹ sẽ dẫn đầu giai đoạn hồi phục.

— Ông có gợi ý gì cho các nước Đông Nam Á như Việt Nam để giảm thiểu những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu?

Tôi e là tôi biết quá ít về Việt Nam. Nói chung, tôi nghĩ các quốc gia sẽ sai lầm khi giữ giá trị đồng tiền của mình thấp đi để đấy mạnh xuất khẩu. Giải pháp này sẽ có tác dụng trong một thời gian nhất định, nhưng sẽ tạo ra các vấn đề lớn – lạm phát bùng nổ vì các ngân hàng
trung ương không thể kiểm soát các yếu tố kích thích, sự quá phụ thuộc vào xuất khẩu và đầu tư quá độ.

Các nước châu Âu lại đạt đến một mức độ khác - chi tiêu quá nhiều và đầu tư quá ít. Điều này cũng không tốt. Có lẽ có một phương án tích cực hơn nằm giữa hai cách tiếp cận này. Đã quá muộn để các nhà xuất khẩu ở châu Á tránh được những sai lầm của chu kỳ cũ. Họ chỉ có thể cố gắng theo đuổi một chiến lược cân bằng hơn ở chu kỳ tiếp theo.

Việt Nam dường như là một trường hợp đặc biệt vì nước các bạn có sự thâm hụt ngân sách hiện thời, do đó những gì tôi nói có thể không áp dụng cho Việt Nam.

“Đại gia” và “dân thường” trong khủng hoảng

— Chính phủ Mỹ đang tìm cách cứu các đại gia ôtô bằng những khoản bao cấp khổng lồ. Cách này có thể cứu họ trước mắt, nhưng về lâu dài làm sao Chính phủ Mỹ có thể bao cấp mãi, bởi thực tế là họ đã không còn khả năng cạnh tranh với ôtô nhập khẩu rẻ hơn mà chất lượng không thua kém từ Nhật, và sau này là từ Trung Quốc và Ấn Độ nữa.

Động thái cứu Detroit - Chrysler và General Motors - thực sự có nguyên nhân về mặt tâm lý. Nếu để các công ty đó phá sản giữa cao trào của cuộc khủng hoảng thì tác động sẽ là rất tiêu cực.

— Tôi không cho đây là cách làm khôn ngoan. Tôi cho rằng nên để các tập đoàn này đối mặt với quy luật thị trường và bị đào thải nếu họ không thể cạnh tranh. Hơn nữa, chẳng phải Mỹ luôn đòi hỏi ở những nước khác việc xoá bỏ bao cấp đó sao?

Mỹ có thâm hụt tài khoản hiện thời lớn (700 tỉ USD), đó là minh chứng cho một thị trường mở. Để cân bằng, tôi nghĩ Washington khá hợp lý khi kêu gọi phá bỏ rào cản ở các quốc gia khác.

— Ở các nước đang phát triển, rất nhiều người lao động đang bị mất việc làm, và lời giải thích duy nhất cho họ là "do khủng hoảng kinh tế". Tôi cho rằng rất nhiều người hiện nay chưa hiểu tường tận bản chất của cuộc khủng hoảng này, và tại sao những người lao động bình thường lại phải chịu hậu quả của nó. Theo ông, đâu là cách hiệu quả để truyền thông về cuộc khủng hoảng này đến người dân?

Điều đó đã là như vậy và diễn ra trong suốt chiều dài lịch sử. Những người dân bình thường làm việc chăm chỉ và chỉ biết lo cho cuộc sống của chính mình lại luôn là nạn nhân của những tác động kinh tế to lớn mà họ không hiểu.

Truyền hình cần phải đóng vai trò chủ đạo. Điều nguy hiểm là có quá nhiều những thông tin đồn thổi. Chúng ta đang chứng kiến rất nhiều hiện tượng như vậy xảy ra ở châu Âu và Anh. Điều đó thực sự đáng lo ngại.

Yoosk (VT)