Trang nhà > Nhân văn > Hiếu kỳ > Kinh Kim Cương tại di chỉ Đôn Hoàng

Kinh Kim Cương tại di chỉ Đôn Hoàng

Thứ Năm 2, Tháng Sáu 2016

Kinh Kim Cương tìm thấy trong hang Đôn Hoàng mới là quyển sách in đầu tiên trong lịch sử, mặc dù giới chơi sách cổ thường gán danh hiệu đó cho bản “Kinh Thánh Gutenberg” in năm 1455.

JPEG - 83.4 kb
Một bích hoạ tại hang Đôn Hoàng vẽ Đường Tăng với con hổ bị ngài thu phục

Ngay hồi ấy giá của Kinh Thánh Gutenberg đã là 30 florins, tương đương 3 năm lương của một công chức đương thời. Hiện nay trên thế giới còn sót lại 49 bản in lượt đầu, trong đó chỉ có 21 bản đầy đủ số trang, nằm rải rác tại các nước châu Âu như Pháp, Áo, Đan Mạch, Bỉ, v.v.… Một trang của cuốn Kinh đã có giá từ 25-100 nghìn USD, còn một cuốn Kinh hoàn chỉnh có thể được bán với giá từ 25-35 triệu USD.

Thực ra Kinh Thánh Gutenberg không phải là cuốn sách in đầu tiên mà là “bản in dùng con chữ kim loại đầu tiên”. Johannes Gutenberg (1400?–1468) phát minh ra máy in dùng con chữ rời bằng kim loại cho phép thợ sắp chữ có thể xếp đặt tùy ý các con chữ vào vị trí khá chính xác trên mỗi dòng của âm bản dù rằng phải mất nửa ngày cho mỗi trang gồm 42 dòng. Nhưng từ trước đó khá lâu, người Triều Tiên đã phát minh ra loại máy in với âm bản có thể di động giống như Gutenberg. Và vinh dự “cuốn sách in cổ nhất thế giới có ngày tháng rõ ràng” đã thuộc về bản Kinh Kim Cương in bằng ván gỗ tại Trung Quốc, trước Kinh Thánh Gutenberg gần 6 thế kỷ. Cũng giống như nhiều cổ vật cực quý của Phương Đông, bản Kinh Kim Cương lưu lạc sang châu Âu và chưa biết ngày nào mới được mang trở lại quê hương.

Để tìm hiểu về hành trình Tây Du của bản Kinh Kim Cương, trước tiên chúng ta cần đến vùng sa mạc Gobi xa xôi. Nằm trên con đường Tơ Lụa ở mạn tây của kinh đô cũ Trường An là ốc đảo Đôn Hoàng thuộc tỉnh Cam Túc. Tại đây có gần 500 thạch động chứa đựng vô số bích hoạ, tranh vẽ, điêu khắc, chạm trổ tuyệt mỹ, tất cả được gọi chung là hang đá Mạc Cao (Mogao Caves) hay Nghìn động Phật (Thousand Buddha Caves).

Thời kỳ rực rỡ nhất của hang Mạc Cao là khi Phật giáo phát triển tới mức cực thịnh giữa đời Đường. Theo truyền thuyết có từ thời nữ hoàng Võ Tắc Thiên, một nhà sư mang tên Lạc Tôn nằm mơ thấy ngàn vị Phật toả ánh sáng vàng chói lọi ở khu vực này. Khi tỉnh dậy, ông lao vào xây dựng một ngôi chùa đá làm nơi tu hành cho các nhà sư khổ hạnh. Dần dần chính quyền và nhân dân cùng quyên góp tiền bạc để xây dựng vô số đền thờ trong các hang động, tạo nên một kho tàng nghệ thuật Phật giáo có một không hai. Từ các triều đại sau, Phật giáo mất dần vai trò chủ chốt trong đời sống tín ngưỡng của người Trung Hoa nên các hang động Đôn Hoàng cũng vì thế mà chìm vào quên lãng, không còn được chăm chút. Ngoại trừ những người hành hương sùng đạo viếng thăm, gần như chả còn mấy du khách tới đây. Giữa cảnh hương tàn khói lạnh, một tu sĩ Đạo giáo với tên gọi Vương Viên Lục (mất 1931) đã tự nguyện ở lại canh giữ và trùng tu khu vực này.

Năm 1900, vào một ngày định mệnh, trong lúc quét dọn, phủi bụi những tượng đá ở hang động số 16, ông Vương vô tình đụng phải một cánh cửa bí mật. Thực ra cánh cửa này đã được người xưa trát vữa kín và sơn đè lên để giấu đi (có ý đồ cả). Thế nhưng thời gian không chừa một ai, cửa có kiên cố mấy cũng bị nứt một đường… Ông Vương đẩy cửa vào và phát hiện ra một kho tàng gây choáng ngợp gồm 60 ngàn cuộn sách từ văn thư, kinh điển, đến tranh vẽ, trên giấy và lụa. Trong gần 1000 năm, những cuộn sách này vẫn được bảo tồn gần như hoàn hảo bởi sự kết hợp của nhiệt độ thấp và không khí khô ráo. Hiện giờ mật thất này chính thức được đánh số 17, nhưng tên chữ Hán của nó là “Tàng kinh động”.

Ông Vương không biết rằng trong số 60 ngàn cuộn sách ấy có thánh điển Phật giáo quý báu vô ngần với tên gọi đầy đủ là Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh (Vajracchedikà-Prajnà-Pàramità Sùtra). Đó là một trong những văn bản cổ được lưu truyền rộng rãi nhất, nhưng cũng rất khó hiểu. Kinh Kim Cương thuộc hệ Bát Nhã của Phật giáo Đại Thừa, chủ yếu ghi lại cuộc đàm đạo giữa Đức Phật và tôn giả Tu-bồ-đề (Subhuti), nguyên văn bằng chữ Phạn (Sanskrit), sau truyền sang Trung Hoa mới có bản chữ Hán. Một trong 6 bản dịch nổi tiếng nhất của Kinh Kim Cương đã được thực hiện bởi đại sư Đường Tam Tạng (khoảng 602–664). Nhà thơ Nguyễn Du (1765-1820) đã từng cảm khái khi đọc Kinh này:
... Minh kính diệc phi đài,
Bồ đề bản vô thụ.
Ngã độc Kim Cương thiên biến linh,
Kỳ trung áo chỉ đa bất minh;
Cập đáo Phân Kinh Thạch Đài hạ,
Chung tri: vô tự thị chân kinh.

... Tấm gương trong không phải thật có đài gương,
Cây Bồ Đề cũng không phải cây thật.
Ta đọc kinh Kim Cương có hơn ngàn lần,
Ý nghĩa uyên thâm trong ấy phần nhiều không hiểu;
Tới nay đến dưới đài Phân Kinh này,
Mới biết rằng kinh không chữ mới thật là chân kinh.
(Nguyễn Đăng Thục dịch)

Nội dung của Kinh Kim Cương dường như chủ yếu bàn về sự giác ngộ và cái phù du của vạn vật. Oái oăm thay, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, hình tướng khắc gỗ của nó vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt chẳng mảy may suy suyển.

Vương Viên Lục sau khi phát hiện kho tàng đã cư xử đúng như một công dân gương mẫu, đầy tinh thần trách nhiệm: ông báo cho chính quyền về di sản vô giá nằm ẩn mình trong hang động. Ông Vương chỉ có một nguyện vọng duy nhất là chính quyền sẽ để ý, đầu tư tiền bạc và nhân lực để sửa chữa, bảo quản hang Mạc Cao. Nhưng không rõ vì lý do gì: lười nhác, quan liêu, hoặc thiếu tầm nhìn, mà chính quyền khu vực lúc đó rất thờ ơ, chỉ ra lệnh cho ông Vương… lấp luôn cửa động lại, có gì tính sau. Sự bàng quan của các quan chức địa phương là một sai sót có thiệt hại nghiêm trọng để sau này khi nhận ra thì đã quá muộn.

Tiếng tăm của kho báu vừa được phát hiện đã nhanh chóng lan xa và đến tai các nhà khảo cổ phương Tây thời ấy. Vừa cần tiền để trùng tu các di sản, vừa ngây thơ ít hiểu sự đời, lại không rõ giá trị của các cổ vật nên ông Vương đã bị họ dắt mũi. Nổi tiếng nhất trong số đó là Sir Marc Aurel Stein (1862–1943), một người Anh gây chia rẽ chẳng kém gì Ludwig Borchardt (người Đức, 1863–1938).

Đầu thế kỷ 20, đế quốc Anh và đế quốc Nga cùng lao vào giành giật những quốc gia ở Trung Á, hòng thi hành mưu đồ bá chủ. Những nhà thám hiểm và khảo cổ ở cả hai phe thi nhau khám phá những khu vực hiếm người đặt chân tới, vì lý do khoa học thì ít mà chính trị thì nhiều. Giai đoạn này được Rudyard Kipling đặt tên là Ván cờ lớn (The Great Game), còn người Nga thì gọi nó là Trận thư hùng bóng đêm (Tournament of Shadows). Trong Ván cờ lớn, về phía Anh có Aurel Stein, còn phía Nga có Nikolai Przhevalsky.

Ông Aurel Stein là một nhà thám hiểm dũng cảm và đầy nhiệt huyết. Ông từng bị rụng mất vài ngón chân vì băng giá khi thăm dò dãy Côn Luân ở Trung Hoa. Những chuyến đi của ông đã góp phần lớn thúc đẩy làn sóng khảo cổ “Đông du” ở phương Tây. Ông còn được phong tước Hiệp sĩ và là Viện sĩ danh dự của vô số đại học ở Anh, đồng thời xuất bản nhiều cuốn sách có giá trị chuyên ngành. Thế nhưng ông bị người Trung Quốc thù ghét vì đã lấy đi nhiều báu vật.

Aurel Stein có một thần tượng quen thuộc là Trần Huyền Trang, tức Đường Tăng. Chuyến đi thỉnh kinh sang Tây Trúc (Ấn Độ) của Đường Tam Tạng không chỉ là cốt truyện cơ bản của Tây Du Ký, mà còn truyền cảm hứng bất tận cho Aurel Stein. Không như nhân vật yếu đuối, mất tự chủ được Ngô Thừa Ân miêu tả trong Tây Du Ký, Đường Tăng ngoài đời thực không chỉ là một Phật tử sùng đạo mà còn là một nhà du hành dũng cảm. Bất chấp vô vàn khó khăn nguy hiểm trên đường sang Tây Thiên và sự cản trở của chính quyền (ngược lại trong truyện Tây Du Ký, Đường Tăng sang Ấn Độ không có sự cho phép của nhà vua mà phải trốn đi), ông vẫn đạt được mục đích của mình. Aurel Stein đã tìm thấy ở Đường Tăng một tâm hồn đồng điệu, mặc dù hành trình của ông theo hướng… ngược lại. Vì vậy, dù bản thân Stein không có hứng thú nhiều với Phật giáo, ông luôn mang theo mình nhật kí của Đường Tăng trong mọi chuyến thám hiểm phương Đông. (Đại Đường Tây Vực ký là ghi chép của Đường Tăng về các nước mà ông đi qua trong quá trình thỉnh kinh, khác với Tây Du Ký mà chúng ta đọc).

Năm 1907, khi tới Đôn Hoàng, Stein đã thuyết phục Vương Viên Lục cho thăm Tàng kinh động. Họ Vương chần chừ một lúc, nhưng rồi cũng xiêu lòng để cho Stein “ngó một tí”. Nhờ một cơ duyên bất ngờ, thông dịch viên tiếng Trung của Stein nhận thấy một đoạn trong một bản kinh mà Vương đưa ra chính do Đường Tam Tạng dịch. Cho rằng sự trùng hợp ngẫu nhiên này là ý trời, Stein bèn thuyết phục Vương Viên Lục cho mình vào thăm hang động. Sửng sốt trước tầm vóc vĩ đại của kho tàng kinh sách, Stein mau chóng thực hiện giao dịch với Vương, rồi mang về Anh hơn 5000 cuộn sách sau khi trả …103 bảng!

Điều éo le nhất là chính Stein cũng không nhận ra giá trị của bản in Kinh Kim Cương cho mãi tới về sau. Bản in trong tay Stein được đóng dấu năm 868, nhưng khi ghi chép lại trong hồ sơ cá nhân, Stein lại… viết nhầm, có lẽ vì vốn tiếng Hoa của ông rất kém. Đến tận khi nhà Hán học nổi tiếng người Pháp Paul Pelliot đích thân nghiên cứu bản in này, thế giới phương Tây mới nhận ra giá trị của nó. Khác với Stein, Paul Pelliot có kiến thức nền rộng rãi và hiểu sâu sắc nhiều ngôn ngữ Trung Á, bao gồm cả tiếng Trung Quốc. Vì lợi thế đó, Paul Pelliot cũng mang được về Paris vô khối văn bản giá trị của Đôn Hoàng, mua từ Vương Viên Lục với giá 500 lạng bạc. Thật khổ thân cho ông Vương, chỉ vì muốn có chút tiền cải tạo, trùng tu hang động mà vô tình thành kẻ tội đồ của lịch sử.

Sau Aurel Stein và Paul Pelliot, các nhà thám hiểm phương Tây nô nức tới Đôn Hoàng lấy đi rất nhiều báu vật. Langdon Warner, một giáo sư đại học, đã khoét đi 26 bức bích hoạ quý giá đời Đường để …mang về bảo tàng mỹ thuật Harvard. Giống như Stein và Pelliot, đến tận lúc chết, Langdon vẫn nghĩ mình là một người hùng làm nhiệm vụ cao cả giải cứu các tác phẩm nghệ thuật Phật giáo khỏi sự tàn phá bởi thời gian và chính quyền thiển cận.

Aurel Stein, Paul Pelliot, Vương Viên Lục đều đã chết. Chính quyền Trung Hoa coi Stein là con quỷ ngoại quốc, là “kẻ xấu xa nhất từng du hành trên con đường tơ lụa”. Langdon Warner thường được đem ra làm ví dụ cho việc người Mỹ cướp bóc di sản của Trung Hoa. Vương Viên Lục bị chính đồng bào mình ngoảnh mặt quay lưng. Ngày nay, hang Mạc Cao được coi là một di sản văn hoá của thế giới, đồng thời nhà nước Trung Quốc cũng thành lập một uỷ ban chuyên nghiên cứu và tu bổ. Chỉ có điều những báu vật đã mất đi thì khó tiền của nào có thể lấy lại.

Năm 2004, bản in Kinh Kim Cương của Đôn Hoàng được trưng bày tại cuộc triển lãm “Con đường tơ lụa” tại thư viện Anh Quốc ở London. Hiện giờ nó vẫn đang được lưu giữ ở đây, ngay cạnh một bản in khác của Kinh Thánh Gutenberg. Toàn bộ các trang của Kinh Kim Cương có thể được xem online, qua trang web của thư viện Anh Quốc. Bản in nguyên gốc quá “mong manh dễ vỡ” nên không phải lúc nào cũng muốn là xem được!

Anh Nguyễn , SOI (NCC biên tập lại và bổ sung)